CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁM SÁT NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN

Đăng lúc: Thứ sáu - 24/11/2017 07:31 - Người đăng bài viết: admin
CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁM SÁT NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN

CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁM SÁT NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN

Có nhiều cách thức để phân loại giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV), tùy thuộc mục tiêu khả năng của bệnh viện và năng lực thực tế của đội ngũ cán bộ KSNK, cơ sở vật chất phục vụ cho giám sát để lựa chọn phương pháp giám sát thích hợp.
  1. Giới thiệu chung:
Có nhiều cách thức để phân loại giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV), tùy thuộc mục tiêu khả năng của bệnh viện và năng lực thực tế của đội ngũ cán bộ KSNK, cơ sở vật chất phục vụ cho giám sát để lựa chọn phương pháp giám sát thích hợp. Giám sát NKBV được sử dụng rộng rãi hiện nay với 2 hình thức: giám sát thực hành KSNK và giám sát ca bệnh NKBV.
  1. Nhiễm khuẩn vết mổ.
    1. Tình hình mắc và hậu quả nhiễm khuẩn vết mổ.
          Nhiễm khuẩn vết mổ  là  hậu quả  không mong muốn  thường gặp nhất và  là  nguyên nhân quan trọng gây tử  vong  ở  người bệnh  được  phẫu thuật trên toàn thế  giới. Tại  Hoa Kỳ,  NKVM đứng hàng thứ  2  sau  nhiễm khuẩn tiết niệu bệnh viện. Tỷ  lệ  người bệnh  được  phẫu thuật mắc NKVM thay  đổi từ  2%  -  15% tùy theo loại phẫu thuật. Hàng năm, số  người  bệnh  mắc  NKVM
ước tính  khoảng  2 triệu  người.  Ở  một số  bệnh viện  khu vực  châu Á  như  Ấn Độ, Thái Lan  cũng như tại một số nước châu Phi, NKVM gặp ở 8,8% - 24% người bệnh sau phẫu thuật.
          Tại Việt Nam, NKVM xảy ra ở 5% – 10% trong số khoảng 2 triệu người bệnh được phẫu thuật hàng năm.  NKVM là loại nhiễm khuẩn thường gặp nhất, với số  lượng lớn nhất trong các loại nhiễm khuẩn bệnh viện. Khoảng trên 90% NKVM thuộc loại nông và sâu.
          Nhiễm khuẩn vết mổ  để  lại hậu quả  nặng nề  cho  người  bệnh  do kéo dài thời gian nằm viện, tăng tỷ  lệ  tử  vong và  tăng chi phí  điều trị. Tại  Hoa Kỳ, số ngày nằm viện gia tăng trung  bình do NKVM là  7,4 ngày, chi phí  phát sinh  do NKVM  hàng  năm khoảng 130 triệu USD. NKVM chiếm 89% nguyên nhân tử  vong  ở  người  bệnh  mắc  NKVM sâu. Với một số  loại phẫu thuật  đặc biệt như  phẫu thuật cấy ghép, NKVM có  chi phí  cao nhất so với các biến chứng ngoại khoa nguy hiểm khác và làm tăng thời gian nằm viện trung bình hơn 30 ngày.
  1. Tác nhân gây bệnh
          Vi khuẩn là tác nhân chính gây NKVM, tiếp theo  là nấm.  Rất ít bằng chứng cho thấy virus và ký sinh trùng là tác nhân gây NKVM. Các vi khuẩn chính gây NKVM thay đổi tùy theo từng  cơ  sở  khám chữa bệnh  và  tùy  theo vị  trí phẫu thuật.
          Các vi khuẩn gây NKVM có xu hướng kháng kháng sinh ngày càng tăng và là vấn đề nổi trội hiện nay, đặc biệt là các chủng vi khuẩn đa kháng thuốc như: S. aureus kháng methicillin, vi khuẩn gram (-) sinh  β-lactamases  rộng phổ.  Tại các cơ sở  khám chữa bệnh có tỷ  lệ  người bệnh sử  dụng kháng sinh cao thường có tỷ  lệ  vi khuẩn gram (-) đa kháng thuốc cao như:  E. coli, Pseudomonas sp, A. baumannii.  Ngoài ra, việc sử  dụng rộng rãi các kháng sinh phổ  rộng tạo
thuận lợi cho sự xuất hiện các chủng nấm gây NKVM.
 
 
  1. Nguồn tác nhân gây bệnh cơ chế lây truyền:
- Vi sinh vật trên người bệnh (nội sinh): Là nguồn tác nhân chính gây NKVM, gồm các vi sinh vật thường trú có ngay trên cơ thể người bệnh. Các vi sinh vật này thường cư trú ở tế bào biểu bì da, niêm mạc hoặc trong các khoang/tạng rỗng của cơ thể như: khoang miệng, đường tiêu hóa, đường tiết niệu    -  sinh dục, v.v.  Một số  ít trường hợp vi  sinh vật  bắt nguồn từ  các  ổ  nhiễm khuẩn  ở  xa vết mổ  theo đường máu hoặc bạch mạch  xâm nhập vào vết mổ  và gây NKVM.  Các
tác nhân gây bệnh nội sinh nhiều khi có nguồn gốc từ  môi trường bệnh viện  và có tính kháng thuốc cao.
- Vi sinh vật  ngoài môi trường (ngoại sinh): Là các vi sinh vật ở ngoài môi trường xâm nhập vào vết mổ  trong thời gian phẫu thuật  hoặc khi chăm sóc vết mổ. Các tác nhân gây bệnh ngoại sinh thường bắt nguồn từ:
+ Môi trường khu phẫu thuật:  Bề  mặt phương tiện, thiết bị, không khí buồng phẫu thuật, nước và phương tiện vệ sinh tay ngoại khoa, v.v.
+ Dụng cụ, vật liệu cầm máu, đồ vải phẫu thuật bị ô nhiễm.
+ Nhân viên kíp phẫu thuật: Từ bàn tay, trên da, từ đường hô hấp...
+ Vi sinh vật cũng có thể xâm nhập vào vết mổ khi chăm sóc vết mổ không tuân thủ đúng nguyên tắc vô khuẩn. Tuy nhiên, vi sinh vật xâm nhập vào vết mổ  theo đường này thường gây NKVM nông, ít gây hậu quả nghiêm trọng.
Các vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào vết mổ chủ yếu trong thời gian phẫu thuật theo cơ chế  trực tiếp, tại chỗ. Hầu hết các tác nhân gây NKVM  là các vi sinh vật định cư trên da vùng rạch da,  ở  các mô/tổ  chức  vùng  phẫu thuật  hoặc  từ  môi trường bên ngoài xâm nhập vào vết mổ qua các tiếp xúc trực tiếp và gián tiếp, đặc biệt là các tiếp xúc qua bàn tay kíp phẫu thuật.
  1. Các phương pháp giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện.
    1. Giám sát tuân thủ thực hành Kiểm Soát Nhiễm Khuẩn.
          Trong hoạt động KSNK, việc giám sát tuân thủ thực hành được hiểu như là một công việc kiểm tra tuân thủ thực hiện các qui trình chuyên môn y tế trong chăm sóc, thăm khám can thiệp thủ thuật với người bệnh theo một chuẩn mực.  Trong môi trường mỗi bệnh viện có qui mô hoạt động và năng lực thực hành ở trình độ rất khác nhau trong đội ngũ cán bộ y tế. Năng lực thực hành của NVYT phụ thuộc vào môi trường đào tạo, môi trường làm việc sau tốt nghiệp, kỹ năng tự đào tạo, kỹ năng tìm tòi hoàn thiện thực hành.
          Để giúp cho việc điều chỉnh các hoạt động thực hành trong NVYT hàng ngày được hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu chuyên môn của từng chuẩn mực lĩnh vực chuyên khoa và đồng nhất, việc giám sát tuân thủ thực hành rất được coi trọng tại các nước có nền y tế phát triển cao. Tại Việt Nam việc giám sát thực hành đã được chú trọng trong những năm gần đây thông qua chương trình đào tạo liên tục, chương trình đánh giá chất lượng hàng năm của các bệnh viện, tiêu chí đào tạo cập nhật và giám sát thực hành đã được chú trọng trên nhiều góc độ khác nhau.
 
 
  • Mục đích giám sát thực hành:
          - Chuẩn hóa thực hành y khoa trong một bộ phận hay toàn bộ NVYT về một kỹ thuật được áp dụng.
          -Giám sát áp dụng, hoàn thiện một kỹ thuật mới được áp dụng tại một bệnh viện.
          -Cập nhật hoặc hiệu chỉnh một số thủ thuật đã được áp dụng trước đó nay cần cải tiến hoặc hoàn thiện theo hướng dẫn mới.
          -Giám sát đánh giá sự thành thạo của NVYT về một kỹ thuật, phát hiện các yếu tố nguy cơ trong thực hành y khoa để có giải pháp phòng ngừa.
  • Phương pháp thực hiện:
          Đây là hình thức giám sát được sử dụng rộng rãi nhằm tự hoàn thiện các nội dung giám sát các nội dung, mục tiêu cần hướng tới. Từng cá nhân, bộ phận, bệnh viện căn cứ vào bộ công cụ giám sát để tự giám sát thực hành trong hoạt động chuyên môn liên quan đến thực hành KSNK. Từng bộ phận tự xem xét giám sát các hoạt động của các cá nhân liên quan đến thực hành KSNK hàng ngày, định kỳ thường quy.
          Mục tiêu của giám sát thực hành là hướng tới sự tự hoàn thiện một kỹ thuật, một kỹ năng, hoặc điều chỉnh một hành vi, một thói quen không phù hợp trong thực hành. Giám sát thường quy các thực hành chăm sóc người bệnh căn cứ trên quy trình và bộ công cụ đã được xây dựng để thực hiện giám sát. Việc giám sát do một tổ chức khác tiến hành từ bên ngoài. Việc giám sát thụ động này được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau:
          - Quan sát thực hành trực tiếp theo tiêu chí đã được định sẵn. Ví dụ: đánh giá mức độ thuần thục, quan sát thực hành VST của một bộ phận NVYT để đánh giá chương trình cải thiện VST tại một cơ sở y tế.
          - Phân tích các hoạt động liên quan gián tiếp để đánh giá hiệu quả của một thực hành chuẩn Ví dụ: mức độ sử dụng dung dịch sát khuẩn tay nhanh trong một tháng, một tuần tại một vị trí đặt phương tiện vệ sinh tay, lượng khăn sử dụng để đánh giá tính khả thi của chương trình VST tại một khoa, một bệnh viện...
          Hình thức giám sát này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với các hoạt động thực hành KSNK. Giám sát thực hành vừa giúp cho người thực hành tự điều chỉnh các hoạt động mà chuyên môn kỹ thuật yêu cầu cần có khi thực hành KSNK. Đồng thời giúp cho người thực hành tự đào tạo cho mình những  kiến thức chưa đáp ứng với thực hành cần có. Tổ chức giám sát do từng cá nhân, nhóm công việc, các bộ phận chuyên trách thực hiện thường qui, đột xuất, theo nhu cầu để xác định vị trí, mức độ, qui mô, nội dung giám sát.
 
 
  1. Giám sát phát hiện ca nhiễm khuẩn bệnh viện:
Giám sát phát hiện ca bệnh NKBV là nội dung quan trọng và có ý nghĩa quyết định trong hoạt động giám sát. Căn cứ trên các định nghĩa về ca bệnh NKBV xác định đúng NKBV giúp cho việc đánh giá các căn nguyên, đánh giá đúng dịch tễ lây truyền các NKBV thường gặp. Căn cứ các thông tin liên quan được thu thập về ca bệnh NKBV giúp cho hệ thống giám sát phát hiện các nguy cơ bùng phát dịch, yếu tố thuận lợi gây dịch.
Mục đích giám sát phát hiện ca bệnh nhiễm khuẩn bệnh viện: 
  • Cung cấp thông tin chính xác về ca bệnh NKBV để can thiệp làm giảm tỉ lệ NKBV. 
  • Biết được tỉ lệ bệnh đang lưu hành trong từng bệnh viện, từng chuyên khoa để làm cơ sở lượng giá thay đổi về KSNK.
  • Cung cấp bằng chứng để khẳng định, nhận biết những trường hợp có dịch nhiễm khuẩn bệnh viện.
  • Cung cấp bằng chứng thuyết phục NVYT cải thiện các hành vi không an toàn. 
  • So sánh được tình hình, tỉ lệ nhiễm khuẩn tại bệnh viện từng giai đoạn và giữa các bệnh viện.
    1. Một số phương pháp và kỹ thuật giám sát:
      • Giám sát cắt ngang: Thực hiện vào những thời điểm nhất định trong năm (giữa, cuối năm) hay tại 1 thời điểm xác định tùy theo nhu cầu giám sát. Có thể cho biết số hiện mắc và tỷ lệ hiện mắc của một Nhiễm Khuẩn Bệnh Viện.
      • Giám sát hồi cứu: Hồi cứu số liệu từ các bệnh án, bệnh trình, sổ khám bệnh, số liệu tổng hợp... do bệnh viện hoặc cá nhân quản lý.
      • Giám sát theo dõi tiếp diễn: Là nghiên cứu theo dõi dọc, thực hiện theo một số kế hoạch và thiết kế có chủ định từ trước, trên những nhóm đối tượng, loại bệnh, thời gian và địa điểm xác định. Ta có các nội dung theo dõi giám sát cụ thể sau:
          - Theo dõi thống kê số mắc mới NKBV (toàn bộ hay từng nhóm người bệnh riêng) để có số liệu mới mắc cơ bản.
          - Theo dõi thống kê số mắc mới trong một bùng nổ dịch NKBV để xác định tỷ lệ tấn công của vụ dịch.
          - Xác định số mới mắc và những yếu tố nguy cơ có liên quan để đánh giá hiệu quả một hoặc một nhóm biện pháp can thiệp phòng chống NKBV.
          Phương pháp này nếu đặt trong một thiết kế nghiên cứu phân tích thường cho kết quả chính xác về căn nguyên và yếu tố nguy cơ và do đó cung cấp số liệu chính xác cho giám sát NKBV. Tuy nhiên để thực hiện thường tốn thời gian, nhân lực và chi phí. do đó cần có sự chuẩn bị kế hoạch và thiết kế giám sát chu đáo. Các phần mềm vi tính trong quản lý bệnh viện thường rất hữu ích khi thực hiện quy trình giám sát tiếp diễn, thường xuyên.
.
  • Giám sát bằng phương pháp và kỹ thuật xét nghiệm vi sinh, miễn dịch và sinh học phân tử: là bao gồm các xét nghiệm chẩn đoán hình thể, nuôi cấy phân lập, xác định chủng loài vi sinh gây bệnh hay phát hiện các dấu ấn miễn dịch, dấu ấn di truyền trên bộ gen đặc hiệu. Phương pháp này cung cấp kết quả chính xác, thường là quyết định trong quá trình giám sát thường xuyên hoặc giám sát vụ dịch NKBV, nhất là khi kết hợp với giám sát lâm sàng trong một nghiên cứu theo dõi tiếp diễn.
        -Vì vậy việc có nhiều tác nhân vi sinh được xét nghiệm, việc tăng độ chính xác của mỗi kỹ thuật xét nghiệm cũng như đưa thêm các kỹ thuật mới, hiện đại trong đó có các kỹ thuật sinh học phân tử sẽ giúp cho giám sát NKBV thêm hiệu quả và chính xác.
  • Giải pháp cụ thể về giám sát nhiễm khuẩn bệnh viện.
  • Huấn luyện giáo dục NVYT:  giáo dục về kiến thức, kỹ năng thực hành và chăm sóc cũng như biện pháp phòng ngừa kiểm soát lây nhiễm và  giám sát phát hiện các ca NKBV kịp thời phản hồi và đưa biện pháp can thiệp. Việc huấn luyện và giáo dục phải được cụ thể hóa trong các quy trình thực hành KSNK, và có khả năng giám sát thường xuyên.
  • Sự hỗ trợ cho công tác triển khai các hoạt động KSNK: sự hỗ trợ chỉ có thể có được khi có sự tham gia của nhà quản lý, bao gồm cả các trưởng khoa và những người đứng đầu trong công tác KSNK, lấy mục tiêu “An toàn cho người bệnh và An toàn nghề nghiệp, có những hỗ trợ về chính sách, nguồn lực và vật lực để triển khai các biện pháp kiểm soát lây nhiễm vi khuẩn đa kháng, cũng như hạn chế việc lạm dụng kháng sinh, thông qua các chương trình kế hoạch cụ thể hàng năm, quý, tháng, từ đó dẫn đế làm thay đổi hành vi của nhân viên y tế trong lĩnh vực kê toa điều trị, trong lĩnh vực thựa hành KSNK, biến những hoạt động đó trở thành những thói quen tốt hàng ngày của từng NVYT trong bệnh viện.
  • Tăng cường sự tuân thủ rửa tay trong NVYT
    -    Cung cấp đầy đủ phương tiện rửa tay cho NVYT, Học sinh, khách thăm, thân nhân và cả người bệnh: xà phòng, khăn lau tay, cồn sát khuẩn tay,…
    -    Vị trí rửa tay thuận tiện cho thao tác chăm sóc, tránh đi quá xa: bồn rửa tay trong buồng bệnh, buồng cách ly, buồng làm thủ thuật, …Chai sát khuẩn tay có chứa cồn trên xe tiêm chích, đầu giường buồng cấp cứu, bệnh nặng,…
    -    Tuyên truyền và giáo dục tầm quan trọng của rửa tay cho NVYT,
    -    Tranh, tờ rơi, phát động phong trào rửa tay trong toàn thể NVYT.
    -    Giám sát sự tuân thủ rửa tay của NVYT và phản hồi lại cho chính họ.
    Đảm bảo làm sạch, khử khuẩn bề mặt môi trường chăm sóc người bệnh, máy móc,…
    -    Cung cấp đủ phương tiện cho làm sạch bề mặt môi trường, máy móc nơi người bệnh nằm điều trị và thăm khám: dụng cụ, hóa chất, khăn lau dung 1 lần,..
    -    Huấn luyện chuyên nghiệp cho NV vệ sinh
    -    Kiểm tra giám sát việc thực hiện của nhân viên vệ sinh.
    -    Thiết kế môi trường bệnh viện phù hợp với công tác KSNK: từ thiết kế xây dựng, thông khí đến vật liệu sao cho hạn chế nguy cơ lây nhiễm, dễ dàng vệ sinh và không làm hỏng bề mặt khi xử lý.
    Đảm bảo cung cấp dụng cụ chăm sóc người bệnh vô khuẩn, chất lượng  và an toàn
    -    Xây dựng quy trình xử lý dụng cụ (làm sạch, khử và tiệt khuẩn dụng cụ) dùng lại cho toàn bệnh viện sao cho đảm bảo không còn nguy cơ lây nhiễm.
    -    Cung cấp đầy đủ phương tiện, máy móc, vật tư tiêu hao và test thử nghiệm giám sát quy trình tiệt khuẩn. 
    -    Huấn luyện cho NVYT kiến thức về yêu cầu xử lý các loại dụng cụ dùng cho chăm sóc người bệnh.
    -    Có kiểm tra giám sát việc thực hiện quy trình xử lý dụng cụ an toàn.
    Hướng dẫn nhân viên y tế áp dụng các biện pháp phòng ngừa chuẩn, phòng ngừa bổ sung  khi có tiếp xúc với người bệnh, nhất là người bệnh có nguồn bệnh là vi khuẩn đa kháng thuốc kháng sinh.
Tác giả bài viết: TRẦN THỊ LY LY-KHOA KIỄM SOÁT NHIỄM KHUẨN

Ý kiến bạn đọc

 

Tin mới

Điện thoại nóng
Sử dụng nước súc miệng thường xuyên có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường
CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ LÍ NHỮNG BỆNH GAN THƯỜNG GẶP Ở THAI PHỤ BA THÁNG CUỐI.
PHÁT HIỆN VÀ ĐIỀU TRỊ NHỒI MÁU CƠ TIM SAU MỔ
MÒN CỔ RĂNG – NGUYÊN NHÂN, CÁCH ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG NGỪA.
Mối quan hệ giữa bệnh loãng xương và gãy xẹp cột sống
Kháng sinh Vancomycin và hội chứng người đỏ
KHÁM THAI
Hướng dẫn chăm sóc bàn chân ở người bệnh đái tháo đường
TÓM TẮT CẬP NHẬT ĐIỀU TRỊ SUY TIM MẠN
CỨU SỐNG BỆNH NHÂN SUY HÔ HẤP NGUY KỊCH
BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP NHIỄM TRÙNG HẬU SẢN NẶNG DO SANH THƯỜNG TẠI NHÀ
TỔ CHỨC LỚP TẬP HUẤN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG – AN TOÀN NGƯỜI BỆNH VÀ TRIỂN KHAI NGÀY HỘI 5S TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH ĐẮK LẮK
KHÁM TIỀN MÊ - CHUẨN BỊ BỆNH NHÂN TRƯỚC MỔ
Những lưu ý đặc biệt khi sử dùng thuốc đái tháo đường
CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁM SÁT NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN
Ba điều cần làm để phòng ngừa thoái hóa khớp gối
Phát hiện sớm Dị dạng hậu môn trực tràng
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP VIÊM MÀNG NÃO MỦ DO LIÊN CẦU LỢN (STREPTOCOCCUS SUIS)
Kết quả kiểm tra chất lượng bệnh viện 6 tháng đầu năm 2017
BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP NHIỄM TRÙNG HẬU SẢN NẶNG DO SANH THƯỜNG TẠI NHÀ

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 43
  • Hôm nay: 3291
  • Tháng hiện tại: 54182
  • Tổng lượt truy cập: 3232569
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang