bvvtn

CẤP CỨU TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI

Đăng lúc: Thứ hai - 11/01/2021 02:44 - Người đăng bài viết: admin
CẤP CỨU TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI

CẤP CỨU TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI

CẤP CỨU TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI
1. Định nghĩa
Tràn khí màng phổi là sự hiện diện khí một cách bất thường trong khoang màng phổi giữa màng phổi thành và màng phổi tạng do tổn thương những lá này gây xẹp một phần hay toàn bộ một phổi.
2. Bệnh nguyên
2.1. Tràn khí màng phổi do lao phổi
Tràn khí màng phổi là do vở một hang lao nằm sát lá tạng vào màng phổi hay do vở những chỗ dính tự nhiên giữa màng phổi và chủ mô phổi và trong màng phổi, cần một thời gian diễn diến lâu dài. Sự chẩn đoán tràn khí màng phổi thường thường dễ vì thấy rõ tràn khí ép chủ mô phổi lại bên dưới và phổi đối diện có thể có tổn thương lao thấy rõ trên phim phổi. Vi trùng lao có thể tìm thấy; có thể có tràn mũ màng phổi kèm theo.
2.2. Tràn khí màng phổi do bệnh phế quản - phổi cấp
Bệnh phế quản - phổi cấp là phế viêm thùy, phế quản - phế viêm, áp xe phổi, hoại tử phổi. Bênh cảnh nặng vì tràn khí màng phổi xảy ra trên bệnh nhân đang có tổn thương phế quản - phổi, rất dễ dàng dẫn đến suy hô hấp cấp. Các tổn thương do bệnh phế quản - phổi tạo ra những bóng khí cấp ở vùng bị viêm nhiễm; các bóng khí nầy vở ra hoặc từ nhu mô phổi và phế quản bị hoại tử, thủng vào màng phổi gây tràn khí màng phổi.  Tràn khí màng phổi có thể xảy ra sau gắng sức do ho.
2.3. Tràn khí màng phổi do bệnh phế quản - phổi mạn
Tràn khí màng phổi do khí phế thủng lan tỏa nằm trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính do thuốc lá hầu hết gặp ở bênh nhân lớn tuổi, trên 40 tuổi. Bệnh nặng do dã có suy hô hấp mạn. Tràn khí màng phổi thường hay tái phát.
Tràn khí màng phổi do hen phế quản thường xảy ra khi đang lên cơn hay ngoài cơn trong lúc gắng sức nhiều do vở bóng khí phế thủng
Tràn khí màng phổi do vở các kén khí bẩm sinh, trong loại này có thể kèm theo tràn mũ màng phổi.
Tràn khí màng phổi do u nangbào sán echinococcus vở.
Tràn khí màng phổi do bệnh Sarcoidosis, xảy ra do vở các nang khí do loạn dưỡng.
Tràn khí màng phổi do bệnh bụi phổi, xảy ra trong giai đoạn tiến triển của bệnh. Bệnh bụi phổi hay gặp là bệnh bụi phổi silic.
Tràn khí màng phổi do vở các nang nhỏ trong xơ phổi kẽ lan tỏa; hiếm gặp. Ngoài ra còn gặp trong bệnh chất tạo keo, bệnh mô bào huyết, bệnh Hand - Schuller- Christian.
Tràn khí do ung thư phế quản - phổi bị hoại tử, có thể kèm theo tràn mũ màng phổi.
2.4. Tràn khí màng phổi do chấn thương lồng ngực
Màng phổi bị tổn thương thường là màng phổi thành, nhưng màng phổi tạng cũng có thể bị rách do xương sườn bị gãy hay vật nhọn như dao đâm vào màng phổi làm tổn thương cả chủ mô phổi, có thể do sức ép; thường có tổn thương mạch máu nên gây tràn khí - tràn máu màng phổi.
2.5. Tràn khí màng phổi do tai biến của thủ thuật 
Tràn khí màng phổi xẩy ra sau khi chọc dò màng phổi, chọc tĩnh mạch dưới đòn, mở khí quản, đặt nội khí quản.
2.6. Tràn khí màng phổi trung thất
Tràn khí màng phổi do thủng hay rách thực quản do dị vật như hóc xương.
2.7. Tràn khí màng phổi tự phát
Đặc tính tự phát của tràn khí màng phổi này được bàn cải nhiều vì cơ chế sinh bệnh khá rõ, nhưng khó phân tích đối với mỗi trường hợp, vì có nhiều yếu tố phối hợp:
2.7.1. Những bất thường về cấu trúc
Những cấu trúc nầy liên hệ với các tổn thương của mô đàn hồi nâng đở và gây nên những loạn dưỡng khu trú thường không thấy trên phim phổi chuẩn mà chỉ khám phá ở đỉnh phổi nhờ chụp cắt lớp vi tính vì chúng có kích thước nhỏ.
2.7.2. Những yếu tố có sẳn trước
Viêm phế quản nhỏ - phổi làm dễ vở những “blebs” đó là những bóng khí nhỏ, nghiện thuốc lá cũng đóng góp vào sự dễ vở các blebs này.
2.7.3. Những yếu tố khởi phát
- Nhiễm trùng cấp: hay gặp do siêu vi, thường mơ hồ, lâm sàng là một nhiễm trùng đường hô hấp trên trước đó, gây nên viêm phế nang, chính nó gây nên lỗ dò vào màng phổi.
- Gắng sức mạnh: như thổi kèn, bơi dưới bể sâu, leo núi cao, nhảy dù v.v.. tất cả những yếu tố này gây nên một sự gia tăng hay giảm áp lực nhanh trong lồng ngực.
3. Sinh lý bệnh
3.1 Ảnh hưởng trên hô hấp
Bình thường áp suất trong khoang màng phổi là âm tính (từ -2 đến -6 cm nước). Khi có khí lọt vào khoang màng phổi, áp suất nầy ngang với khí trời hay trở nên dương tính sẽ ảnh hưởng đến thông khí, đến quá trình hô hấp gây nên rối loạn thông khí hạn chế. Rối lọan này không những do phần phổi bị xẹp do tràn khí giảm hoạt động mà còn do phần phổi bên đối diện cũng giảm hoạt động; phổi bên đối diện giảm hoạt động do yếu tố: áp lực dương bên phổi bị tràn khí đẩy trung thất sang bên phổi đối diện và có khuynh hướng tự co lại  của phổi lành kéo trung thất sang phía bên đó gây rối loạn thông khí hạn chế.
Ngoài ra cảm giác đau cản trở hoạt động hô hấp, làm bệnh nhân không dám thở mạnh và tình trạng sốc có thể xẩy ra trong tràn khí màng phổi cũng làm giảm hoạt động hô hấp.
3.2. Ảnh hưởng trên tuần hoàn
Áp lực âm trong lồng ngực là yếu tố giúp máu tĩnh mạch trở về tim được thuận lợi, giúp cho tuần hoàn của hệ bạch huyết đổ về các tĩnh mạch azygos dễ dàng. Khi áp lực nầy mất đi, tuần hoàn tĩnh mạch trở về bị trở ngại. Trở ngại càng lớn nếu áp lực này càng dương tính như trong tràn khí màng phổi thể có van.
Tràn khí màng phổi còn ảnh hưởng đến tuần hoàn do trung thất bị đẩy, do cảm giác đau, do tình trạng sốc.
Nếu tràn khí màng phổi có kèm theo tràn dịch màng phổi phản ứng, tràn máu màng phổi, tràn mũ màng phổi hoặc có ổ cặn màng phổi thì sẽ ảnh hưởng trên hô hấp và tuần hoàn nặng nề hơn nữa, không những do bản thân các tình trạng đó mà còn do hậu quả của các tình trạng đó gây nên như mất máu, dày dính màng phổi, nhiễm khuẩn.
3.3. Ảnh hưởng toàn thân
Ngoài ra tình trạng toàn thân cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tràn khí màng phổi xảy ra ở những người bị bệnh phổi-phế quản mạn như hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, lao, tâm phế mạn, thì càng nặng nề hơn.
4. Triệu chứng
4.1. Tràn khí màng phổi thể tự do
4.1.1. Triệu chứng lâm sàng
- Triệu chứng chức năng:
+ Đau ngực: là dấu chứng rất quan trọng, đau đột ngột, thường dữ dội như dao đâm ở vùng lồng ngực có tràn khí màng phổi, tăng lên ở kỳ hít vao, khi ho, khi nói to, đau khiến bệnh nhân phải nín thở kèm vả mồ hôi, không dám thở mạnh, không dám cử động. Đặc điểm quan trọng của đau là xuất hiện đột ngột sau chấn thương, một gắng sức, một cử động mạnh như xách một vật quá nặng, đi xe gắn máy với tốc độ cao, leo dây, v.v.......một hoạt động mạnh làm gia tăng đột áp lực trong lồng ngực khi thanh môn đóng lại như ho mạnh, rặn đẻ, rặn khi đi vệ sinh. Đôi khi dấu chứng nầy không liên quan đến gắng sức, có thể xuất hiện ngay khi đang ngủ hay khi mới thức dậy.
Trong một số trường hợp đau chỉ vừa phải, bệnh nhân chịu đựng được hay chỉ đau nhẹ nên bệnh nhân không chú ý đến.
+ Khó thở: xuất hiện đột ngột và đi liền sau dấu chứng đau. Mức độ khó thở tùy thuộc vào mức độ tràn khí màng phổi và khả năng hô hấp của phía đối diện. Khó thở có thể rất dữ đội kèm theo xanh tím. Có một số trường hợp khó thở nhẹ.
+ Ho: thường ho khan, ho từng cơn ngắn, ho làm gia tăng đau ngực.
- Triệu chứng thực thể:
+ Lồng ngực phía bên tràn khí phồng lên, ít di động hơn bên lành. Rung thanh giảm hay mất. Gõ vang, vùng gõ đục của tim thay đổi, sang bên trái nếu tràn khí màng phổi bên phải và ngược lại. Vùng đục của gan có thể xuống thấp nếu tràn khí màng phổi phải nhiều, nếu tràn dịch hay tràn máu màng phổi kèm theo thì dưới mức tràn khí có thể gõ đục. Âm phế bào giảm hay mất, có thể nghe tiếng thổi vò hay vò kim khí.
+ Tam chứng Galliard trong tràn khí màng phổi là: gỏ vang, rung thanh giảm hay mất, âm phế bào giảm hay mất.
4.1.2. Triệu chứng cận lâm sàng
- X quang lồng ngực:
Rất quan trọng trong chẩn đoán tràn khí màng phổi. Mọi trường hợp đau ngực đột ngột không rõ nguyên nhân đều phải chụp X quang lồng ngực để tránh bỏ sót tràn khí màng phổi.
Trên phim chụp X quang lồng ngực, thấy được hình ảnh tăng sáng ở vị trí phổi bị tràn khí màng phổi, chủ mô phổi bị ép về phía rốn phhổi tạo thành một mõm cụt. Phổi bên tràn khí màng phổi khó phân định tổn thương thâm nhiễm do phổi bị ép làm xẹp lại, nhưng có thể chẩn đoán nhờ tổn thương bên phổi đối diện nếu có. Có thể thấy có tràn dịch màng phổi và trung thất bị đẩy sang phía đối diện.
 
rad1
 
             Tràn khí tự do màng phổi trái
- Chụp cắt lớp vi tính:
Có thể thấy các bóng khí lồi lên trên mặt màng phổi tạng hình bán cầu đường kính khoảng 2 - 3 cm ở vùng đỉnh phổi, phân thùy đỉnh và thùy dưới phổi, các vùng riềm, bờ phổi, rãnh liên thùy, nhiều nhất ở đỉnh phổi. Cũng có thể thấy các bóng giãn phế nang nhỏ dưới màng phổi ở vùng phổi có sẹo hay vôi hóa. Các dây dính, các vùng bị dính cũng có thể phát hiện được, nhiều nhất ở đỉnh phổi, vùng đỉnh phía sau.
  
Hydro_pneumothorax
 
        Tràn khí tràn dịch màng phổi phải
 
- Đo áp lực màng phổi:
Đo áp lực màng phổi bằng áp lực kế nước trước đây bằng áp lực kế Kuss, có thể phân biệt được các loại tràn khí màng phổi. Cần ghi 3 chỉ số: áp lực kỳ hít vào, áp lực kỳ thở ra, áp lực trung bình của 2 lần đo trên. Có 3 trường hợp có thể xẩy ra:
+ Tràn khí màng phổi mở: tức là còn lỗ thông giữa màng phổi và không khí bên ngoài, áp lực trung bình trong màng phổi bằng áp lực khí trời.
            + Tràn khí màng phổi đóng: tức là lỗ thông giữa màng phổi và không khí bên ngoài đã bít lại, áp lực trung bình trong màng phổi thấp hơn áp lực khí trời (áp lực âm)
            + Tràn khí màng phổi có van: tức là lỗ thông giữa màng phổi và không khí bên ngoài như một cái van, không khí vào màng phổi nhưng không thoát ra được, thể tích màng phổ ngày càng tăng, áp lực trung bình trong màng phổi cao hơn áp lực khí trời (áp lực dương).
            Nếu không có áp lực kế thì có thể dùng bơm tiêm chọc màng phổi
            + Nếu pittông đứng yên: Tràn khí màng phổi mở
            + Nếu pittông bị hút vào: Tràn khí màng phổi đóng
            + Nếu pittông bị đẩy ra: Tràn khí màng phổi có van
- Soi màng phổi
Giúp đánh giá tình trạng, mức độ thủng rách màng phổi, tình trạng bề mặt màng phổi (các bóng giãn phế nang trên bề mặt phổi, các tổn thương xơ, vôi hóa,) các dây dính giữa thành ngực và bề mặt phổi. Kỷ thuật nầy chủ yếu để khảo sát trường hợp tràn khí màng phổi cần mổ, cần điều trị bằng cách đốt điện, ít dùng trong các trường hợp khác.
- Các xét nghiệm khác
+ Khí máu: SaO2 và PaO2 giảm, PaCO2 có thể tăng nhất là trong các bệnh phổi mạn.
            + Công thức máu: Bạch cầu tăng, đa nhân trung tính tăng.
            + Điện tim: trục điện tim thay đổi.
4.2. Tràn khí màng phổi khu trú
- Tràn khí màng phổi khu trú thường gặp ở những bệnh nhân đã có bệnh phế quản - phổi như lao phổi, hen phế quản, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, giãn phế quản ..., phổi đã có độ xơ cừng nào đó nên tràn khí màng phổi không làm xẹp hoàn toàn. Tràn khí không nhiều, mức độ đau không nhiều, khó thở không dữ dội như trong thể tự do. Tuy nhiên nếu bệnh nhân có khí phế thủng, suy hô hấp mạn, tâm phế mạn thì tràn khí màng phổi có thể gây suy hô hấp cấp gọi là đợt mất bù cấp của suy hô hấp mạn.
- Tam chứng Galliard chỉ khu trú trong vùng tràn khí màng phổi.
- X quang lồng ngực: thẳng, nghiêng phát hiện tràn khí khu trú.
- Các xét nghiệm khác: được thực hiện như trong tràn khí màng phổi tự do.
5. Điều tri
Hiện nay không có thỏa thuận chung trong vấn đề xử trí tràn khí màng phổi. Tuy nhiên, Trường Đại học lồng ngực Hoa kỳ vào năm 2001 và Hội lồng ngực Anh vào năm 2003 đã đưa ra những khuyến cáo trong điều trị đã đựơc áp dụng trong những năm nầy.
5.1. Những phương tiện điều trị để đưa phổi trở lại thành lồng ngực  
5.1.1. Tràn khí màng phổi ít:
 Người ta thấy rằng tỉ lệ giãn nở ra trở lại tự nhiên của tràn khí màng phổi là 2% mỗi ngày. Sử dụng oxy cung lượng cao ≥ 10L/phút. Do đó, phương pháp nầy chỉ áp dụng đối với những tràn khí màng phổi không triệu chứng, nhỏ, dung nạp tốt. Tràn khí màng phổi nhỏ thường xử trí dè dặt vì chúng sẽ tự tiêu.
5.1.2. Tràn khí màng phổi tự nhiên tiên phát:
Người ta khuyến cáo phải tháo khí ra khỏi khoang màng phổi trong trường hợp bị tràn khí tự nhiên tiên phát có triệu chứng hay tràn khí màng phổi kích thước lớn. Nếu sự tháo khí ra không cầm lại được, và bệnh nhân ở trong tình trạng ổn định, thì bệnh nhân cần phải được theo dõi lâm sàng. Sự rút khí đơn giản bằng kim được chỉ định trước tiên. Phương pháp nầy có tỉ lệ thành công là ≥ 50%. Cách rút khí nầy có thể thực hiện lưu động (phòng tiếp nhận và cấp cứu bệnh nhân hay bệnh viện một ngày). Trong trường hợp không rút khí được bằng kim, thì người ta khuyến cáo nhập viện và phải đặt một ống dẫn lưu lồng ngực có khẩu kính nhỏ. Dẫn lưu lồng ngực có tỉ lệ thành công là 60-80% và tỉ lệ tái phát là 18-36%. Sự rút khí bằng kim được thực hiện trên bệnh nhân ở tư thế nửa nằm nửa ngồi, bằng đường trước qua khoảng gian sườn 2 hay 3 trên đường trung đòn. Đặt một ống dẫn lưu được thực hiên cũng bằng cách như vậy bằng đường trước hay trên đường nách giữa, giữa khoảng gian sườn 3 và 5. Ống dẫn lưu trên đường trung đòn phải đặt ngoài xương ức > 2cm để tránh động mạch vú trong. Một khi ống dẫn lưu màng phổi đặt  tại chỗ thì phải làm thế nào để đạt được một sự giãn nở phổi trở lại mà không bị thoát khí ra ngoài: Đặt một ống dẫn lưu với siphon đơn giản bằng van chống trở lui (van Heimlich) hay bằng cách nối với một hệ thống bình nhiều buồng hay đặt ống dẫn lưu để hút. Mặc dù không có hôị thảo nào bàn về chiến lược hiệu quả nhất, những điểm quan trọng và vừa mới đây của thư mục quốc tế đã được chú ý đến. Sử dụng một ống dẫn lưu khẩu kính nhỏ không kém hiệu quả hơn một ống dẫn lưu khẩu kính lớn để xử trí tràn khí màng phổi tự phát. Trên thực tế những ống dẫn lưu có đường kính 14 Fr ( 1 Fr = 0,33 mm) được sử dụng rộng rãi. Sử dụng ống dẫn lưu dạng siphon đơn giản với van chống trở lui có hiệu quả và được sử dụng nhiều hơn hệ thống nhiều bình với nhiều buồng. Hút nhẹ nhàng (-10 đến – 20 cm H2O) được sử dụng từ 24 giờ đến 48 giờ nếu  người ta không thấy sự giãn trở lại đầy đủ của chủ mô phổi.
 
Needle%20thoracostomy
 
 Chọc hút khí bằng kim
 
chesttube03
 Đặt ống dẫn lưu màng phổi
 
Heimlich
 Van Heimlich
 
4
Hệ thống bình nhiều buồng 
5.1.3. Tràn khí màng phổi tự nhiên thứ phát
Ngược với tràn khí màng phổi tự nhiên tiên phát sự tháo khí trong tràn khí màng phổi tự nhiên thứ phát người ta phải đặt tại chỗ một ống dẫn lưu lồng ngực vì cách rút khí đơn giản bằng kim có một tỉ lệ thành công thấp hơn so với tỉ lệ trong tràn khí màng phổi tự nhiên tiên phát. Một cách tạm thời  trước một tràn khí màng phổi tự nhiên thứ phát gây nên trụy hô hấp một sự giải áp bằng kim  đặt bằng đường trước có thể áp dung trong khi chờ đợi đặt ống dẫn lưu lồng ngực. Cũng giống như trong tràn khí màng phổi tự nhiên tiên phát, những ống dẫn lưu khẩu kính nhỏ được  khuyến cáo sử dụng.
Sự chọn lựa giữa sự đặt ống dẫn lưu với siphon đơn giản và sử dụng hút nhẹ  tùy thuộc vào sự dung nạp của tràn khí màng phổi. Thật vậy, ngược với tràn khí màng phổi tự nhiên tiên phát, tràn khí màng phổi tự nhiên thứ phát kích thước nhỏ  đủ để gây mất bù một bệnh lý bên dưới (BPTNMT) và như vậy cần quyết định phải hút ngay lập tức để làm giãn ra trở lại phổi. Tuy nhiên người ta phải nhớ rằng  hút, nếu nó có thể làm cải thiện tình trạng lâm sàng của bệnh nhân, chính nó không làm dừng lai sự thoát khí.
5.1.4. Tràn khí màng phổi do chấn thương hay do thầy thuốc
Trong trường hợp tràn khí màng phổi do chấn thương hay do thầy thuốc,sự dùng đến loại ống dẫn lưu khẩu kính lớn ( ≥ 20 F) phải được cân nhắc trong trường hợp bị tràn máu màng phổi hay  cần thiết sử dụng thông khí áp lực dương. Trong những trường hợp khác, khi không có bệnh lý hô hấp bên dưới hay không có thông khí áp lực dương, thì chiến luợc điều trị giống như trong tràn khí màng phổi tự nhiên tiên phát. Một tràn khí màng phổi, dung nạp tốt, ngay cả quan trọng, gây ra bởi một sự chọc hút xuyên thành lồng ngực, hay tai biến do truyền bằng đường tĩnh mạch sâu có thể được điều trị  hoàn hảo bởi sự rút khí với kim hay với ống dẫn lưu  khẩu kính nhỏ.
5.1.5. Những yếu tố tiên lượng của sự thành công đặt dẫn lưu
Phim lồng ngực được thực hiện tức thì sau khi hút khí không có bất kỳ một tiên lượng có ý nghĩa nào trong dự báo tiến triển của tràn khí màng phổi. Sư biến đổi áp lực màng phổi có thể có lợi trong tiên đoán kết quả điều trị. Nhất là, trong trường hợp tràn khí màng phổi tự nhiên tiên phát một áp lực âm màng phổi trong cuối kỳ thở ra là yếu tố dự đoán  không tái phát trong thời gian ngắn. Ngược lại, sự phát hiện một bóng khí tồn lưu báo trước thất bại trong dẫn lưu. Cuối cùng một sự thoát khí quan trọng có thể phối hợp với nguy cơ gia tăng tràn khí màng phổi. Một số biến số như FEV1 (< 79%), nam giới, tiền sử điều trị với corticosteroid và cắt thùy phổi hầu như có một giá trị tiên lượng rõ ràng để dự báo sự tồn lưu của sự thoát khí.
5.2. Những phương tiện điều trị để dự phòng tái phát
Dự phòng tái phát có thể cần một điều trị đặc hiệu bệnh lý nằm bên dưới, sự chống lại nhữg yếu tố nguy cơ tái phát và điều trị màng phổi bởi làm dính màng phổi.
Phương pháp làm dính màng phổi
Đưa vào màng phổi những chất hóa học gây nên một sự kích thích những lá màng phổi và làm dính lại thứ phát. Những chất được sử dụng là bột talc và tetracycline. Bột talc là một chất thiên nhiên của magnesium silic tác động gián tiếp bởi sự hoạt hóa hệ thống đông máu và ức chế ly giải fibrine. Bột talc có thể đưa vào khoang màng phổi, hoặc dưới dạng dịch (Xylocaine và nước sinh lý) bởi một ống dẫn lưu màng phổi, hoặc và ưu tiên bởi rắc trong quá trình soi màng phổi được thực hiện dưới gây tê tại chỗ. Tỉ lệ tái phát của tràn khí màng phổi sau khi đưa bột talc vào màng phổi là khoảng giữa 5 đến 8%. Tetracycline là một kháng sinh có pH thấp dẫn đến làm dính màng phổi tồn tại trong khoảng 80-85% những trường hợp được điều trị nhưng không được sử dụng tại Pháp vì hiệu quả của nó thấp hơn hiệu quả của bột talc.
Làm dính màng phổi cũng có thể thực hiện bằng ngoại khoa. Cắt bỏ màng phổi được thực hiện bằng soi màng phổi ngoại khoa để làm dính màng phổi ở đỉnh, đó là vùng thường có những tổn thương gây nên tràn khí màng phổi tự nhiên. Tỉ lệ tái phát sau làm dính màng phổi ngoại khoa là khoảng 2%.
  
Tài liệu tham khảo:
  1. Lê Văn Bàng (2013) “Hô hấp học” Nhà xuất bản Đại học Huế.tr 559-572.

Tác giả bài viết: BS Nguyễn Ngọc Hoàng - Khoa lão
Từ khóa:

cấp cứu

Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Tin mới

Số ĐT đặt lịch khám bệnh
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN, Địa chỉ: 184 Trần Quý Cáp- Phường Tự An- TP Buôn Ma Thuột- tỉnh Đắk Lắk, Điện thoại nóng: 0262. 3919009 - 0262. 3852654
Điện thoại phòng KHTH
BRUCELLOSIS Ở NGƯỜI
KHÂU NỐI THÀNH CÔNG NGÓN TAY ĐỨT GẦN LÌA CHO BỆNH NHI 1 TUỔI
CẤP CỨU TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN THỰC HIỆN TỐT “THÔNG ĐIỆP 5K”
TRUYỀN MÁU HOÀN HỒI BẰNG MÁY CELLSAVER
Thông báo mời thầu: Gói thầu VTYT hóa chất xết nghiệm DA: VTYT Hóa chất sinh phẩm năm 2020
CHƯƠNG TRÌNH “PHẪU THUẬT NỤ CƯỜI” MIỄN PHÍ CHO TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN
KHÁM SÀNG LỌC, PHẪU THUẬT BỆNH ĐỤC THỦY TINH THỂ MIỄN PHÍ
NANG GIÁP MÓNG
VẸO CỔ BẨM SINH PHÁT HIỆN VÀ CÁCH PHÒNG TRÁNH
Thông báo mời thầu: Gói thầu VTYT vi sinh, ký sinh trùng (Đấu thầu lại) DA: mua sắm VTYT , hóa chất, sinh phẩm năm 2020
CẤP CỨU VÀ PHÒNG NGỪA ĐỘT QUỴ NÃO
TÁC DỤNG BẤT LỢI CỦA NACL 0,9%
GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG GIẢM ĐAU SAU MỔ: CÓ CÒN LÀ TIÊU CHUẨN VÀNG NỮA KHÔNG?
Thông báo mời thầu gói thầu : Thuốc Generic DA: Thuộc DM đấu thầu cấp cơ sở năm 2020
Thông báo mời thầu gói thầu: Mua biệt dược gốc hoặc tương đương điều trị -DA: thuộc DM thuóc cấp cơ sở năm 2020
Bộ Y tế: Thông điệp 5K - "Lá chắn thép" trong phòng chống đại dịch COVID-19
Cúm mùa và kế hoạch giám sát trọng điểm COVID-19 tại Bệnh viện đa khoa Vùng Tây Nguyên
Thông báo mời thâu: Gói thầu Vật tư thiêu hao, hóa chất thận nhân tạo
DÒ LUÂN NHĨ

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 19
  • Khách viếng thăm: 17
  • Máy chủ tìm kiếm: 2
  • Hôm nay: 9438
  • Tháng hiện tại: 289572
  • Tổng lượt truy cập: 12054072
Cổng dịch vụ công quốc gia
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang