bvvtn

CẤP CỨU VÀ PHÒNG NGỪA ĐỘT QUỴ NÃO

Đăng lúc: Thứ ba - 15/12/2020 03:49 - Người đăng bài viết: admin
CẤP CỨU VÀ PHÒNG NGỪA ĐỘT QUỴ NÃO

CẤP CỨU VÀ PHÒNG NGỪA ĐỘT QUỴ NÃO

CẤP CỨU VÀ PHÒNG NGỪA ĐỘT QUỴ NÃO
F.A.S.T
 

 
Chữ viết tắt FAST là một cách để nhớ những dấu hiệu của đột quỵ và những điều
nên làm nếu bạn nghĩ đột quỵ đã xảy ra (quan trọng nhất là để gọi 115  để hỗ trợ cấp cứu ngay lập tức).
FAST có nghĩa là:
o    (F)ACE (mặt)
o    Yêu cầu bệnh nhân cười
o    Kiểm tra để phát hiện nếu một bên mặt rũ xuống
o     (A)RMS (tay)
o    Yêu cầu bệnh nhân đưa cả hai tay lên
o    Kiểm tra để phát hiện nếu một tay rơi xuống
o    (S)PEECH (nói chuyện)
o    Yêu cầu bệnh nhân lặp lại một câu đơn giản
o    Kiểm tra để phát hiện nếu nói những từ không trôi chảy và kiểm ta sự lặp lại chính xác câu
o    (T)IME (thời gian)
o    Nếu bệnh nhân có bất kỳ triệu chứng nào của các triệu chứng này, thời gian là quan trọng để đưa bệnh nhân đến bệnh bệnh viện nhanh chóng nếu có thể. Gọi cấp cứu 115. 
  
Của sổ điều trị tan huyết khối
o    Đây là thời gian quan trọng nên cần đưa bệnh nhân có những triệu chứng đột quỵ đến bệnh viện càng sớm càng tốt.
o    Những bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não có thể được dùng thuốc tan huyết khối nếu họ đến bệnh viện trong vào 3 giờ từ lúc triệu chứng khởi phát.
o    Theo Hiệp Hội Tim Mạch Hoa Kỳ (AHA) và Hiệp hội Đột Quỵ Hoa Kỳ (ASA), của sổ điều trị này có thể mở rộng đến 4.5 giờ cho những bệnh nhân sau:
o    Bệnh nhân dưới 80 tuổi
o    Không có đột quỵ mức độ nặng
o    Không có tiền sử đột quỵ hay đái tháo đường
o    Không dùng thuốc kháng đông đường uống
 
Giới thiệu
 


 
o    Đột quỵ là chết tế bào não đột ngột do thiếu oxy
o    Đột quỵ thường được xác định là một trong hai dạng sau:
o    Thiếu máu cục bộ (nguyên nhân do tắc nghẽn một động mạch)
o    Xuất huyết (nguyên nhân do rách thành động mạch gây ra máu chảy vào trong hay xung quanh não)
o    Sau khi đột quỵ sẽ gây ảnh hưởng đến các vùng chức năng có liên quan, và độ nặng phụ thuộc vào vị trí xảy ra và độ rộng của tổn thương.
o    Sự tắc nghẽn dòng máu não
o    Đột quỵ được gây ra bởi hoặc là tắc nghẽn dòng máu đến não (đột quỵ thiếu máu) hay sự vỡ đột ngột của động mạch trong não (đột quỵ xuất huyết).
o    Các tế bào não đòi hỏi cung cấp oxy hằng định để giữ sức khoẻ và chức năng thích hợp. Vì vậy máu cần được cung cấp liên tục đến não qua hai hệ thống động mạch chính:
·         Hệ động mạch cảnh đi lên xuyên qua hai bên trước của cổ.
·         Hệ động mạch thân nền hình thành ở đáy sọ từ các động mạch đốt sống đi lên trên dọc theo cột sống phía sau của cổ
o    Vòng Willis được hợp thành từ vài động mạch ở đáy não.
o    Ở vòng Willis, các động mạch cảnh trong phân nhánh thành những động mạch nhỏ hơn cung cấp máu cho hơn 80% não.
 
o    Sự tắc nghẽn của dòng máu đến não thậm chí một thời gian ngắn có thể gây hại và có thể tổn thương não hay thậm chí chết não.
 
 
Đột quỵ thiếu máu não
 
 

o    Đột quỵ thiếu máu não là dạng thường gặp nhất, chiếm gần 90% tất cả các trường hợp đột quỵ. Thiếu máu cục bộ có nghĩa là thiếu oxy trong mô sống. Đột quỵ thiếu máu được gây ra bởi nghẽn mạch máu theo một trong bốn dạng.
o    Đột quỵ lấp mạch huyết khối và xơ vữa động mạch.
o    Đây là dạng đột quỵ  thường xảy ra khi một động mạch cung cấp máu cho não bị tắc nghẽn bởi huyết khối được hình thành từ xơ vữa động mạch (cũng thường gọi là xơ cứng động mạch). Các đột quỵ này thỉnh thoảng được cho là đột quỵ động mạch lớn.
o    Tiến trình dẫn đến đột quỵ huyết khối thì phức tạp và xảy ra theo thời gian:
·         Thành động mạch từ từ dày hơn, cứng hơn, và hẹp hơn cho đến lúc dòng máu giảm, tình trạng này được biết như là sự chít hẹp.
·         Tiến trình này tiếp tục tiếp diễn, dòng máu chậm dần.
o    Thêm vào đó, những biến cố khác góp phần gây ra đột quỵ:
·         Động mạch bị hẹp bởi mảng cholesterol trở nên dễ rách. Trong trường hợp này, huyết khối được thành lập.
·         Huyết khối sau đó vỡ ra và di chuyển đến não, tại đó gây ra tắc nghẽn động mạch  và làm ngưng nguồn cung cấp oxy đến phần não. Đột quỵ xảy ra.
 
Đột quỵ do lấp mạch từ tim và rung nhĩ
o    Một đột quỵ lấp mạch được gây ra bởi một huyết khối bong ra và di chuyển theo mạch máu đến khi bít chặt một động mạch.
o    Đột quỵ lấp mạch từ tim bắt đầu với cục máu đông ở tim và có thể do nhiều tình trạng khác nhau:
o    Trong nhiều trường hợp, sự hình thành huyết khối là kết quả của rối loạn nhịp tim như rung nhĩ.
o    Lấp mạch cũng có thể bắt nguồn từ huyết khối từ thành van tim nhân tạo.
o    Những bệnh nhân có bệnh van tim như là hẹp van hai lá thì tăng nguy cơ tạo huyết khối khi có rung nhĩ kèm theo.
o    Lấp mạch cũng có thể xảy ra sau tổn thương tim hay kèm theo suy tim.
o    Hiếm gặp hơn, lấp mạch được hình thành từ những phần tử chất béo, tế bào ung thư, hay những bóng khí di chuyển theo dòng máu.
 
Đột quỵ do thuyên tắc
o    Xảy ra khi cục huyết khối phát triển trong động mạch trong não
o    Ít gặp hơn đột quỵ do lấp mạch
o    Có xu hướng xảy ra vào ban đêm, và những triệu chứng của nó có thể tiến triển từ từ chậm hơn đột quỵ do lấp mạch (thường xảy ra nhanh và đột ngột).
 
Đột quỵ mạch máu nhỏ (Lacunar)
o    Nhồi máu lỗ khuyết (lacunar) là đột quỵ thiếu máu của những động mạch rất nhỏ gây ra mất thực dung, yếu, và thay đổi cảm xúc
o    Gây ra phần lớn nhồi máu não yên lặng và có thể là hậu quả từ huyết áp cao mạn tính
o    Là phân nhóm của đột quỵ do thuyên tắc
o    Thỉnh thoảng cũng có những dấu hiệu giống như đột quỵ động mạch lớn
 
Nhồi máu yên lặng
o    Nhiều người già có nhồi máu não yên lặng, đột quỵ động mạch nhỏ không gây xuất hiện triệu chứng.
o    Nó được phát hiện tình cờ trên một nửa bệnh nhân lớn tuổi khi khảo sát hình ảnh cho những vấn đề khác đột quỵ.
o    Sự hiện diện của nhồi máu yên lặng sẽ tăng nguy cơ đột quỵ cũng như sa sút trí tuệ trong tương lai.
o    Những người hút thuốc và có tăng huyết áp là nhóm nguy cơ đặc biệt.
 
Cơn thiếu máu não cục bộ thoáng qua (TIA)
o    Có triệu chứng giống đột quỵ kéo dài một vài phút và thường dưới 1-2 giờ.
o    Được gây ra bởi lấp mạch do cục huyết khối nhỏ (cục huyết khối được hình thành từ các mảnh calcium và mảng chất béo) gây nghẽn mạch máu đến não.
o    Điển hình xảy ra nhanh và hồi phục nhanh do tắc nghẽn tạm thời nguồn cung cấp máu đến não.
o    TIA không gây tổn thương sau đó, tuy nhiên nó là một dấu hiệu cảnh báo nhồi máu thật sự có thể xảy ra trong tương lai nếu không được phòng ngừa.
o    TIA nên được điều trị như là đột quỵ.
o    Khoảng 10-15% bệnh nhân có TIA sẽ có đột quỵ trong vòng 3 tháng, và một nửa nhóm đột quỵ này xảy ra trong 48 giờ sau TIA.
 
Đột quỵ xuất huyết
 

o    Khoảng 10% đột quỵ do xuất huyết (chảy máu đột ngột) vào trong hay xung quanh não.
o    Đột quỵ xuất huyết ít gặp hơn đột quỵ thiếu máu não nhưng lại có xu hướng tử vong nhiều hơn.
o    Đột quỵ xuất huyết được phân loại như thế nào và vị trí xảy ra
o    Xuất huyết nhu mô hay trong não.
·         Các đột quỵ này xảy ra do chảy máu vào bên trong nhu mô não.
·         Thường là hậu quả từ tăng huyết áp gây tăng áp lực quá mức lên những thành mạch đã bị tổn thương do xơ vữa động mạch.
·         Những bệnh nhân dùng thuốc kháng đông hay thuốc làm mỏng mạch máu có tăng nguy cơ một ít ở nhóm đột quỵ xuất huyết.
·         Xuất huyết khoang dưới nhện
·         Đây là dạng đột quỵ xảy ra khi mạch máu trên bề mặt của não vỡ, dẫn đến máu chảy vào khoang dưới nhện, một vùng giữa não và xương sọ.
·         Thường do vỡ phình mạch, nang mạch máu gây ra yếu thành động mạch.
·         Dị dạng động tĩnh mạch (AVM) là một thông nối bất thường giữa động mạch và tĩnh mạch.
·         Nếu nó xảy ra trong não và vỡ sẽ gây đột quỵ xuất huyết.
 
Các yếu tố nguy cơ
Đột quỵ mới và tái phát gây ra khoảng 795.000 người Mỹ mỗi năm.
Trung bình mỗi 40 giây có một người tại Mỹ bị đột quỵ.
Trong khi tuổi là yếu tố nguy cơ lớn, hầu hết những người bị đột quỵ có nhiều hơn một yếu tố nguy cơ.
 
Tuổi
o    Yếu tố nguy cơ đột quỵ của tất cả mọi người là tuổi, đặc biệt những người có huyết áp cao, ít vận động, thừa cân, hút thuốc lá, hay có đái tháo đường.
o    Tuổi lớn cũng có nguy cơ cao sa sút trí tuệ sau đột quỵ. Tuy nhiên cũng xảy ở đột quỵ dưới 65 tuổi.
Giới
o    Trong tất cả các nhóm tuổi ngoại trừ tuổi già, đột quỵ thường xảy ra ở nam hơn nữ.
o    Tuy nhiên đột quỵ gây tử vong ở nữ nhiều hơn nam.
o    Có lẽ một phần do nữ có xu hướng sống thọ hơn nam, và đột quỵ là thường xảy ra ở tuổi già.
o    Phụ nữ chiếm khoảng 6 trong 10 trường hợp tử vong do đột quỵ.
o    Ở phụ nữ trẻ hơn, thuốc ngừa thai và mang thai có thể  tăng nguy cơ đột quỵ.
Chủng tộc và đặc tính sắc tộc
o    Tất cả các dân tộc thiểu số, bao gồm người bản địa châu Mỹ, Hispanics, người Mỹ gốc Phi có nguy cơ đột quỵ và tử vong cao hơn có ý nghĩa so với người da trắng.
o    Sự khác biệt ít về nguy cơ của tất cả các nhóm theo tuổi.
o    Sự khác biệt lớn nhất về nguy cơ xảy ra ở tuổi trẻ.
o    Người Mỹ gốc Phi trẻ tuổi có tỉ lệ đột quỵ gấp hai đến ba lần so với người da trắng cùng địa vị xã hội và gấp bốn lần tỉ lệ tử vong từ cùng một bệnh.
·         Họ cũng đối mặt với nguy cơ cao về tử vong từ bệnh tim mạch.
o    Người Mỹ gốc Phi có tần lưu hành cao về béo phì, đái tháo đường, và tăng huyết áp hơn các nhóm khác.
·         Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy các yếu tố kinh tế xã hội cũng ảnh hưởng những sự khác biệt này.
Tiền sử gia đình
o    Tiền sử gia đình về đột quỵ hay TIA là yếu tố nguy cơ rõ rệt của đột quỵ.
Các yếu tố về lối sống
o    Thuốc lá
o    Những người hút thuốc 1 gói một ngày có hơn gấp hai lần nguy cơ đột quỵ so với người không hút thuốc.
o    Thuốc lá làm tăng nguy cơ cả hai đột quỵ xuất huyết và thiếu máu.
o    Chế độ ăn
o    Chế độ ăn không có lợi cho sức khoẻ (chất béo bão hoà, nhiều muối) có thể góp phần gây bệnh tim mạch, tăng huyết áp, và béo phì, đây là những yếu tố nguy cơ cao cho đột quỵ.
o    Không hoạt động thể lực
o    Thiếu sự tập luyện điều đặn có thể làm tăng nguy cơ béo phì, đái tháo đường, và suy tuần hoàn, làm tăng nguy cơ đột quỵ.
o    Nghiện rượu và ma tuý
o    Nghiện rượu làm tăng nguy cơ đột quỵ
o    Nghiện ma tuý, đặc biệt là cocaine hay methamphetamine, là một yếu tố lớn gây đột quỵ ở người trẻ.
o    Steroids đồng hoá, được dùng cho tăng cường phát triển cơ thể và thể thao cũng tăng nguy cơ đột quỵ.
o    Bệnh tim và van tim
o    Bệnh tim và đột quỵ có quan hệ chặc chẽ với nhau bởi nhiều nguyên nhân.
o    Những người có một bệnh tim hay mạch máu (như là tăng huyết áp, tăng cholesterol, đái thái đường, hay bệnh động mạch ngoại biên) làm tăng nguy cơ tạo ra những tình trạng liên quan khác.
o    Đột quỵ trước đây
o    Tiền căn có đột quỵ hay TIA trước đây làm tăng nguy cơ có ý nghĩa cho đột quỵ sau đó.
o    Những người có ít nhất một cơn TIA nguy cơ đột quỵ gấp 10 lần người không có TIA.
o    Cơn đau tim trước đây
o    Những người có cơn đau tim trước đây thì tăng nguy cơ đột quỵ não.
o    Tăng huyết áp
o    Tăng huyết áp góp phần khoảng 70% đột quỵ
o    Những người có tăng huyết áp thì nguy cơ đột quỵ tăng lên đến 10 lần so với người bình thường, phụ thuộc vào độ nặng của huyết áp và có các yếu tố nguy cơ khác.
o    Tăng huyết áp cũng là nguyên nhân quan trọng gây ra nhồi máu não thầm lặng, đây là yếu tố tiên lượng nhồi máu lớn.
o    Kiểm soát huyết áp rất quan trọng trong phòng ngừa đột quỵ.
o    Tăng cloesterol có hại
o    Nồng độ cholesterol toàn phần cao tăng nguy cơ xơ vữa động mạch ("làm cứng mạch máu") và bệnh tim.
o    Bệnh tim
o    Bệnh động mạch vành là hậu quả cuối cùng của xơ vữa động mạch, tăng nguy cơ đột quỵ.
o    Các thuốc chống huyết khối được dùng trong bệnh tim mạch để làm tan huyết khối có thể làm tăng nguy cơ đột quỵ xuất huyết.
o    Rung  nhĩ
o    Rung nhĩ là một yếu tố nguy cơ lớn của đột quỵ, đây là một bệnh rối nhịp tim với nhịp nhĩ rất nhanh và không đều.
o    Máu ứ lại thay vì được bơm ra ngoài ngay tức thì, tăng nguy cơ hình thành huyết khối sau đó bong ra và di chuyển đến não.
o    Khoảng 2-4% bệnh nhân có rung nhĩ không có bất kỳ tiền sử TIA hay đột quỵ sẽ có đột quỵ thiếu máu não cấp trong vòng 1 năm.
o    Nguy cơ sẽ tăng cao nếu bệnh nhân lớn hơn 75 tuổi, có suy tim hay tim to, bệnh động mạch vành, tiền sử bị huyết khối, đái tháo đường, hay bất thường van tim.
o    Các vấn đề cấu trúc tim
o    Bệnh cơ tim giãn nở, bệnh van tim, và các thiếu sót tim bẩm sinh như còn lỗ bầu dục và phình vách nhĩ, đều là những yếu tố nguy cơ của đột quỵ.
o    Bệnh động mạch cảnh và bệnh động mạch ngoại biên
o    Bệnh động mạch cảnh là một yếu tố nguy cơ trầm trọng cho đột quỵ.
o    Xơ vữa động mạch có thể tạo nên ứ động mỡ trong động mạch cảnh của cổ có thể dẫn đến huyết khối gây tắc nghẽn dòng máu và oxy đến não.
o    Những người có bệnh động mạch ngoại biên (là hậu quả của xơ vữa động mạch gây hẹp mạch máu ở chân và tay) thì tăng nguy cơ của bệnh động mạch cảnh và sau đó là đột quỵ.
 
 
 
o    Đái tháo đường
o    Bệnh tim và đột quỵ là những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở bệnh nhân đái tháo đường.
o    Đái tháo đường gây tăng huyết áp gây tăng huyết áp (tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ chính của đột quỵ).
o    Nguy cơ cao nhất ở những người mới được chẩn đoán đái tháo đường type II và những bệnh nhân đái tháo đường dưới 55 tuổi.
o    Người Mỹ gốc Phi có đái tháo đường type II có nguy cơ đột quỵ cao hơn ở người trẻ tuổi.
o    Đái tháo đường type II là một yếu tố nguy cơ đặc biệt quan trọng cho đột quỵ thiếu máu não cấp có lẽ do kèm theo các yếu tố nguy cơ như béo phì và tăng huyết áp.
o    Đái tháo đường không thấy làm tăng nguy cơ xuất huyết não.
o    Béo phì và hội chứng chuyển hoá
o    Béo phì có thể tăng nguy cơ cho cả xuất huyết và thiếu máu não cấp độc lập với các yếu tố nguy cơ cùng tồn tại khác với quá cân như đái tháo đường, tăng huyết áp, và tăng cholesterol gây hại.
o    Tăng cân tập trung ở vùng bụng có nguy cơ cao đột quỵ, cũng như bệnh tim mạch.
o    Béo phì đặc biệt nguy hiểm khi nó là một thành phần của hội chứng chuyển hoá.
·         Hội chứng này được chẩn đoán khi có ba trong những điều kiện sau:
·         Mập vòng bụng
·         HDL cholesterol thấp
·         Nồng độ triglyceride cao
·         Huyết áp cao
·         Đề kháng insuline
·         Bởi vì hội chứng chuyển hoá là tình trạng tiền đái tháo đường, thường đi kèm với bệnh tim mạch, những bệnh nhân có hội chứng này thì tăng nguy cơ đột quỵ thậm chí trước khi có bệnh đái tháo đường.
 
Các yếu tố nguy cơ khác
o    Migraine
o    Các nghiên cứu chỉ ra migraine và đau đầu nhiều có thể là một yếu tố nguy cơ đột quỵ cho cả nam và nữ, đặc biệt xảy ra trước 50 tuổi.
o    Khoảng 2-3% đột quỵ thiếu máu não xảy ra ở bệnh nhân có tiền sử đau đầu migraine.
o    Tuy nhiên, ở bệnh nhân dưới 45 tuổi tỉ lệ khoảng 15% cho tất cả đột quỵ (và 30-60% đột quỵ ở phụ nữ trẻ) có kèm với tiền sử migraine, đặc biệt là migraine có tiền triệu.
o    Ở phụ nữ trẻ có migraine, những yếu tố nguy cơ khác (như tăng huyết áp, hút thuốc, và dùng thuốc ngừa thai chứa estrogen) có thể tăng nguy cơ đột quỵ.
o    Bệnh tế bào Sickle
o    Những người bệnh tế bào sickle thì tăng nguy cơ đột quỵ ở tuổi trẻ.
o    Thai kỳ
o    Thai kỳ có nguy cơ rất ít cho đột quỵ, hầu hết ở những phụ nữ có tăng huyết áp.
o    Nguy cơ tăng cao ở giai đoạn hậu sản, có lẽ do thay đổi đột ngột tuần hoàn và nồng độ hormon.
o    Trầm cảm
o    Một vài nghiên cứu cho thấy trầm cảm có thể tăng nguy cơ đột quỵ.
o    Các thuốc kháng viêm Nonsteroidal
o    NSAIDS như iburofen và diclofenac có thể tăng nguy cơ đột quỵ của đột quỵ, đặc biệt ở những bệnh nhân có những yếu tố nguy cơ đột quỵ khác.
 
Tiên lượng
o    Đột quỵ là nguy nhân gây tử vong hàng thứ tư tại Mỹ. Tuy nhiên, tỉ lệ tử vong đang giảm. Hơn 75% bệnh nhân sống sót trong năm đầu sau đột quỵ đầu tiên, và hơn một nửa sống sót sau 5 năm.
o    Độ nặng của đột quỵ thiếu máu so với đột quỵ xuất huyết
o    Những người đột quỵ thiếu máu não có nhiều cơ hội sống sót hơn những người bị đột quỵ xuất huyết.
o    Tuỳ theo loại đột quỵ thiếu máu não, nguy hiểm lớn nhất là đột quỵ do lấp mạch, theo sau là đột quỵ thuyên tắc là lỗ khuyết.
o    Đột quỵ xuất huyết không chỉ phá huỷ tế bào não mà còn gây ra các biến chứng khác, bao gồm tăng áp lực nội sọ và co thắt mạch, cả hai đều rất nguy hiểm. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cho thấy các trường hợp sống sót của đột quỵ xuất huyết có cơ hội lớn hơn trong việc hồi phục chức năng so với các trường hợp sống sót của đột quỵ nhồi máu.
 
Các biến chứng lâu dài và sự tàn tật
o    Nhiều bệnh nhân để lại sự yếu liệt cơ thể và thường kèm theo đau và co cứng.
o    Phụ thuộc vào mức độ của các triệu chứng và cơ thể bị ảnh hưởng như thế nào, những suy yếu này có thể ảnh hưởng đến khả năng đi lại, đứng lên từ ghế, tự ăn uống, đến viết hay dùng máy vi tính, lái xe, và nhiều hoạt động khác.
 
Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân sống sót
o    Nhiều bệnh nhân đột quỵ sống sót hồi phục chức năng hoàn toàn sau đột quỵ, tuy nhiên 25% để lại tàn tật ít và 40% tàn tật từ trung bình đến nặng.
o    Thang điểm đột quỵ NIH giúp tiên lượng độ nặng và kết cục của bệnh nhân đột quỵ bởi thang điểm gồm 11 yếu tố:
·         Mức độ ý thức
·         Chức năng nhìn ngang
·         Thị trường
·         Vận động mặt
·         Chức năng vận động của tay
·         Chức năng vận động của chân
·         Sự phối hợp
·         Mất cảm giác
·         Các vấn đề về ngôn ngữ
·         Mất khả năng tính toán
·         Sự chú ý
o    Những bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não có điểm dưới 10 có kết cục thuận lợi sau 1 năm, trong khi chỉ 4-16% bệnh nhân có kết cục tốt nếu điểm lớn hơn 20.
 
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tái phát
o    Nguy cơ đột quỵ tái phát cao nhất ở những tuần và tháng đầu tiên sau đột quỵ lần đầu. Tuy nhiên khoảng 25% bệnh nhân đột quỵ lần đầu sẽ có đột quỵ tái phát trong vòng 5 năm.
o    Những yếu tố nguy cơ tái phát bao gồm:
·         Lớn tuổi
·         Có bằng chứng tắc động mạch (có tiền sử về bệnh động mạch vành,  bệnh động mạch cảnh, bệnh động mạch ngoại biên, đột quỵ thiếu máu não, hay TIA)
·         Đột quỵ xuất huyết hay do lấp mạch
·         Đái tháo đường
·         Nghiện rượu
·         Bệnh van tim
·         Rung nhĩ
 
Phòng ngừa đột quỵ bằng cách nào?
- Ai cũng có rủi ro bị đột quỵ, càng lớn tuổi thì các rủi ro càng cao. Các khuyến cáo ngăn ngừa hiện nay nhằm vào kiểm soát các bệnh mãn tính (lâu dài), thay đổi lối sống, và cùng chủ động chăm sóc sức khỏe.
- Hội đột quỵ Hoa Kỳ (ASA) đưa ra 8 điều nhằm giảm rủi ro đột quỵ:
+ Ăn uống khỏe mạnh với chế độ cân bằng, gồm có rau củ quả tươi, fiber, đạm và chất béo vừa phải.
+ Giữ cơ thể vận động thường xuyên (physical active) như tập thể dục đều đặn. Tập thể dục được tính là 150 phút tập nhẹ mỗi tuần (hay gần 1g tập 3 lần mỗi tuần) hoặc 75 phút tập nặng (25 phút một lần và 3 lần mỗi tuần).
+ Theo dõi cân thường xuyên. Cân nặng, đặc biệt là thừa cân và béo phì là những rủi ro rất nguy hiểm cho đột quỵ.
+ Không hút thuốc vì đây là một rủi ro cao có thể dẫn đến đột quỵ. Lưu ý là hút thuốc thụ động (ở chung nhà với người hút thuốc) cũng tăng rủi ro đột quỵ.
+ Kiểm soát các bệnh mãn tính như cao huyết áp, tiểu đường, hay cao mỡ. Các bệnh này đều làm mạch máu dần dần nhỏ hẹp, xơ cứng, dẫn đến đột quỵ.
+ Uống thuốc đầy đủ theo chỉ dẫn của Bác sĩ, ngay cả khi các bệnh đã kiểm soát hoàn toàn. Một số bệnh nhân khi thấy huyết áp đã ổn định thì ngưng thuốc.
+ Chủ động trong việc chăm sóc sức khỏe của mình cùng với BS, hỏi các câu hỏi liên quan và tìm ra cách chăm sóc thích hợp nhất cho quý vị
Có nên tầm soát đột quỵ bằng siêu âm động mạch cảnh?
- Tầm soát là cách tìm bệnh sớm mà chưa có triệu chứng. Hiện nay ngăn ngừa đột quỵ chủ yếu dựa vào các khuyến cáo nói trên.
- Động mạch cảnh là động mạch chính cung cấp máu lên não từ tim. Chúng ta có 2 động mạch cảnh ở hai bên cổ. Khi BS kiểm tra mạch đập ở cổ là kiểm tra mạch này. Một số nhà nghiên cứu cho rằng đột qụy có liên quan đến hẹp động mạch cảnh, vì vậy, siêu âm động mạch cảnh được xem là một cách có thể tầm soát đột quỵ sớm.
Hình ảnh học giúp tìm túi phình trong não (brain aneurysm)
- Hiện nay, các BS không khuyến cáo bệnh nhân chụp hình ảnh học tìm túi phình trong não nếu không có các điều kiện sau:
+ Có bệnh sử về túi phình trong não .
+ Bị đột quỵ xuất huyết dưới nhện.
+ Có người thân bị túi phình trong não.
+ Có các bệnh di truyền như Marfan Syndrome, Ehlers-Danlos syndrome IV, hoặc đa nang thận (Polycystic kidney disease).
Tóm lại
- Đột quỵ là bệnh nguy hiểm dẫn đến tử vong hàng đầu tại Hoa Kỳ và nhiều nơi trên thế giới. Có 2 loại đột quỵ là nghẽn mạch máu và vỡ mạch máu, đều do quá trình tích lũy dần dần của bệnh lý.
- Đột quỵ do vỡ túi phình trong não là loại cực kỳ nguy hiểm.
- Cách tốt nhất để ngăn ngừa đột quỵ là tập thể dục, thay đổi lối sống, bỏ thuốc lá, ăn uống cân bằng và điều trị khiểm soát chặt chẽ bệnh lý mạn tính nội khoa (như đã nêu ở trên) nếu có.
 
Tham khảo:
1.Theo Osborn’s Brain 2018, Section 2: Nontraumatic Hemorrhage and Vascular Lesions, Chapter 10: Atherosclerosis).
2.Theo Intracranial atherosclerosis (the lancet :Volume 383, Issue 9921, 15–21 March 2014, Pages 984-998).
3.https://www.uptodate.com/contents/intracranial-large-artery-atherosclerosis?search=Intracranial%20large%20artery%20atherosclerosis&source=search_result&selectedTitle=1~15&usage_type=default&display_rank=1
4. https://www.epainassist.com/brain/cerebral-infarction
5. https://www.ahajournals.org/doi/10.1161/STR.0000000000000158
6.https://www.semanticscholar.org/paper/Guidelines-for-the-early-management-of-adults-with-Adams-Zoppo/08db298e135de1b04c84a2b90e8d7ec43e73a85a
Tác giả bài viết: Bs Nguyễn Minh Cường – Khoa Nội Tổng Hợp
Từ khóa:

cấp cứu, phòng ngừa

Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Tin mới

Số ĐT đặt lịch khám bệnh
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN, Địa chỉ: 184 Trần Quý Cáp- Phường Tự An- TP Buôn Ma Thuột- tỉnh Đắk Lắk, Điện thoại nóng: 0262. 3919009 - 0262. 3852654
Điện thoại phòng KHTH
BRUCELLOSIS Ở NGƯỜI
KHÂU NỐI THÀNH CÔNG NGÓN TAY ĐỨT GẦN LÌA CHO BỆNH NHI 1 TUỔI
CẤP CỨU TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN THỰC HIỆN TỐT “THÔNG ĐIỆP 5K”
TRUYỀN MÁU HOÀN HỒI BẰNG MÁY CELLSAVER
Thông báo mời thầu: Gói thầu VTYT hóa chất xết nghiệm DA: VTYT Hóa chất sinh phẩm năm 2020
CHƯƠNG TRÌNH “PHẪU THUẬT NỤ CƯỜI” MIỄN PHÍ CHO TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH KHÓ KHĂN
KHÁM SÀNG LỌC, PHẪU THUẬT BỆNH ĐỤC THỦY TINH THỂ MIỄN PHÍ
NANG GIÁP MÓNG
VẸO CỔ BẨM SINH PHÁT HIỆN VÀ CÁCH PHÒNG TRÁNH
Thông báo mời thầu: Gói thầu VTYT vi sinh, ký sinh trùng (Đấu thầu lại) DA: mua sắm VTYT , hóa chất, sinh phẩm năm 2020
CẤP CỨU VÀ PHÒNG NGỪA ĐỘT QUỴ NÃO
TÁC DỤNG BẤT LỢI CỦA NACL 0,9%
GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG GIẢM ĐAU SAU MỔ: CÓ CÒN LÀ TIÊU CHUẨN VÀNG NỮA KHÔNG?
Thông báo mời thầu gói thầu : Thuốc Generic DA: Thuộc DM đấu thầu cấp cơ sở năm 2020
Thông báo mời thầu gói thầu: Mua biệt dược gốc hoặc tương đương điều trị -DA: thuộc DM thuóc cấp cơ sở năm 2020
Bộ Y tế: Thông điệp 5K - "Lá chắn thép" trong phòng chống đại dịch COVID-19
Cúm mùa và kế hoạch giám sát trọng điểm COVID-19 tại Bệnh viện đa khoa Vùng Tây Nguyên
Thông báo mời thâu: Gói thầu Vật tư thiêu hao, hóa chất thận nhân tạo
DÒ LUÂN NHĨ

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 35
  • Khách viếng thăm: 34
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 9438
  • Tháng hiện tại: 289907
  • Tổng lượt truy cập: 12054407
Cổng dịch vụ công quốc gia
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang