bvvtn

CHẤN THƯƠNG THANH QUẢN

Đăng lúc: Thứ năm - 08/10/2020 09:33 - Người đăng bài viết: admin
CHẤN THƯƠNG THANH QUẢN

CHẤN THƯƠNG THANH QUẢN

CHẤN THƯƠNG THANH QUẢN
  1. GIỚI THIỆU:
Chấn thương thanh quản hiếm gặp. Chẩn đoán chính xác, sơ cứu đường thở nhanh chóng là những yếu tố quan trọng trong suốt quá trình điều trị và kết quả của việc này sẽ được đánh giá qua đường thở và giọng nói của bệnh nhân.
  1. GIẢI PHẪU VÀ SINH LÝ THANH QUẢN:
Chức năng thanh quản là giúp thở, bảo vệ đường thở bên dưới và tạo nên sự di động không khí cho tiếng nói. 3 cấu trúc nâng đỡ thanh quản là: xương móng, sụn giáp và sụn nhẫn. Khung sụn được cung cấp máu từ màng sụn. Cơ nội tại thanh quản được vận động bởi thần kinh quặt ngược. Thần kinh cảm giác thượng thanh môn là thần kinh thanh quản trên. Thanh quản được lót phần lớn bởi biểu mô hô hấp và được chia thành 3 vùng giải phẫu: thượng thanh môn, thanh môn và hạ thanh môn. Thượng thanh môn có nhiều mô mềm và ít phụ thuộc vào mô nâng đỡ từ bên ngoài. Chức năng của thanh môn có được là do việc sử dụng sự hỗ trợ của sụn, cử động khớp nhẫn phễu và sự phối hợp thần kinh – cơ. Khí đạo của người lớn hẹp nhất ở đoạn thanh môn. Sụn nhẫn – sụn tròn duy nhất của thanh quản và khí quản, nâng đỡ hạ thanh môn (phần hẹp nhất của đường thở trẻ em).
  1. CƠ CHẾ CHẤN THƯƠNG:
  • Chấn thương thanh quản được phân thành 2 loại: kín và hở.
  • Thanh quản được bảo vệ bởi xương hàm dưới, xương ức, độ cong của cổ.
  • Chấn thương thanh quản kín xuất hiện khi thanh quản bị chèn ép giữa 1 vật thể và cột sống cổ. Trong các trường hợp chấn thương thanh quản phải lưu ý đến chấn thương cột sống cổ. Tổn thương do dây quấn cổ là 1 trong những thể nặng nhất của chấn thương thanh quản kín. Vật thể như hàng rào, dây điện bị đứt, dây phơi quần áo… Có thể gây phân ly nhẫn khí quản.
  • Vết thương do bắn súng, dao đâm, cắt cổ tự tử là nguyên nhân phổ biến của chấn thương hở. Vết thương do bắn súng gây nên mất mô trên đường đi của đầu đạn và tổn thương mô xung quanh liên quan với vận tốc của đầu đạn.
  • Vết thương do dao đâm thường gây tổn thương đường đi của mặt lưỡi nhưng độ sâu của thương tổn rất khó phát hiện nhiều trường hợp một phần lưỡi dao bị gãy nếu không lưu ý dễ bị bỏ quên. Thương tổn thường kèm thêm mạch máu và thực quản.
  1. BỆNH SỬ VÀ THĂM KHÁM THỰC THỂ:
Bất kỳ bệnh nhân nào có bệnh sử chấn thương vùng cổ trước nên được thăm khám và tìm thương tổn thanh quản. Triệu chứng thường có: khàn tiếng hay đổi giọng, khó nuốt, nuốt đau, khó thở hay đau vùng cổ trước. Những bệnh nhân này nếu có khó thở thì cho biết có những tổn thương nặng hơn.
Những dấu hiệu thăm khám thực thể gồm có: thở rít, tràn khí dưới da, khạc máu, nhạy đau vùng thanh quản, mất độ lồi của sụn giáp, tụ máu phù nề da bên ngoài. Thở rít thì hít vào liên quan với tắc nghẽn thượng thanh môn và thở rít thì thở ra thường tắt nghẽn hạ thanh môn. Trong khi thở rít 2 thì tổn thương là ngang ngưỡng 2 dây thanh.
Khi đường thở ổn định nên soi thanh quản bằng ống mềm để đánh giá đường thở như: độ cử động của dây thanh, tổn thương mô mềm, phù nề, rách niêm mạc, tụ máu niêm mạc, những chấn thương đi kèm: tổn thương cột sống cổ, tổn thương thực quản, tổn thương mạch máu phải được xem xét và đánh giá kỹ lưỡng.
Chảy máu, máu tụ lượng lớn, tím bầm và mất mạch là những dấu hiệu của tổn thương mạch máu.
  1. CHẨN ĐOÁN HÌNH ẢNH
  • X quang đánh giá đốt sống cổ.
  • CT scanner cắt mỏng 1mm được sử dụng để đánh giá thanh quản. Sự toàn vẹn của khung sụn thanh quản và khớp nhẫn phễu.
Có thể không chụp CT scanner trong những trường hợp chấn thương thanh quản nặng mà cần mổ mở ra xem và mở khí quản hay những trường hợp nhẹ mà không có dấu hiệu thực thể.
  1. ĐIỀU TRỊ
  1. Kiểm soát đường thở
Bất kỳ bệnh nhân nào bị chấn thương thì việc đánh giá và kiểm soát khí đạo là việc quan tâm đầu tiên.
Nếu bệnh sử khám thực thể ổn định việc chụp XQ có thể tiến hành. Nếu đường thở không ổn định thị nên được hồi sức ngay lập tức.
Mặc dù còn nhiều tranh cãi, hầu hết các tác giả đều đề cập đến mở khí quản dưới gây tê tại chỗ như là một phương pháp sơ cứu an toàn nhất, ít thương tổn nhất ở người lớn. Mở màng nhẫn giáp cấp cứu được thực hiện nếu thời gian không chó phép mở khí quản.
Đặt nội khí quản có thể thực hiện bởi bác sĩ lâm sàng giàu kinh nghiêm, nhìn trực tiếp thanh quản và ống nội khí quản với đường kính nhỏ. Điều này khí khăn trong chấn thương thah quản và có nguy cơ làm mất cấu trúc bình thường của đường thở.
Những bệnh nhân có tổn thương đường thở không ổn định nên được điều trị giống như viêm thanh thiệt bằng sử dụng gây mê úp mask với tự thở kèm theo đặt nội khí quản qua ống soi cứng. Sau khi đường thở được sơ cứu và được đánh giá lại, có thể mở khí quản nếu thấy cần thiết.
  1. Điều trị nội khoa
Khởi đầu có thể điều trị nội khoa hay phẫu thuật dựa trên thăm khám thực thể và CT scanner.
Một bệnh nhân được điều trị nội khoa nếu thương tổn hồi phục được mà không cần can thiệp phẫu thuật và thường là bệnh nhân có đường thở ổn định.
Thương tổn bao gồm:
  • Phù nề.
  • Tụ máu ít niêm mạc còn nguyên vẹn.
  • Rách nhẹ thượng thanh môn hay thanh môn. Không liên quan bờ tự do của dây thanh hay mép trước không bộc lộ sụn.
  • Vỡ sụn giáp đơn giản không di lệch, chú ý ngay cả vỡ gập góc không di lệch, đơn giản có thể tạo nên thay đổi dây thanh tinh tế.
Điều trị nội khoa bao gồm:
  • Theo dõi sát tình trạng đường thở 24 giờ.
  • Không nói chuyện, gập cổ, thở oxy ẩm.
  • Kháng sinh dùng khi có xé rách niêm mạc thanh quản.
  • Ức chế histamin H2 làm giảm mức độ thương tổn từ phản xạ trào ngược dịch vị dạ dày.
  • Có thể sử dụng steroid toàn thân giai đoạn sớm đề hạ phù nề niêm mạc.
  1. Điều trị phẫu thuật
  • Chấn thương hở cần mổ mở rộng hơn là chấn thương kín.
  • Mở khí quản nếu có chỉ định.
  • Nếu khi soi chỉ có phù nề niêm mạc thanh quản, tụ máu lượng ít, niêm mạc còn nguyên vẹn, hay rách niêm mạc lượng ít thì không nên can thiệp phẫu thuật. Điều trị nội khoa tích cực là cần thiết và được duy trì đường thở qua nội khí quản cho đến khi bệnh nhân chịu đựng được rút nội khí quản và tự thở.
Những thương tổn cần phải mổ và mở thanh quản để tái tạo lại bao gồm:
  • Rách liên quan bờ tự do dây thanh hay mép trước.
  • Rách niêm mạc nhiều, bộc lộ sụn.
  • Vỡ sụn di lệch nhiều.
  • Di lệch sụn phễu.
  • Bất động dây thanh.
Để đánh giá đầy đủ kỹ thuật ddiều tri chấn thương thanh quản – hiện đại thì Schaefer đã dựa trên dấu hiệu thực thể, nội soi thanh quản, XQ và đã phân loại làm 4 nhóm:
  • Nhóm I: tụ máu nội mạc hay rách niêm mạc mức độ nhẹ.
    • Không vỡ sụn.
    • Tổn thương đường thở mức độ nhẹ.
    • Nội soi thanh quản ống mềm rất cần thiết.
    • CT scan có thể chỉ định khi có nghi ngờ.
    • Bệnh nhân được điều trị nội khoa kèm steroid.
  • Nhóm II: phù nề, rách niêm mạc, di lệch niêm mạc mức độ vừa mà không lộ sụn.
    • Vỡ sụn không di lệch.
    • Ảnh hưởng đường thở mức thay đổi.
    • MKQ là phương pháp để kiểm soát đường thở (dưới tê tại chỗ).
    • CT scan: chỉ định nếu có nghi ngờ.
    • Điều trị: không phẫu thuật khi không vỡ sụn hay vỡ sụn không di lệch.
  • Nhóm III: phù nề, vỡ nội mạc, vỡ sụn di lệch nhiều.
    • Bất động dây thanh.
    • Mức độ ảnh hưởng đường thở thay đổi.
  • Nhóm IV: giống nhóm III kèm với 2 hay nhiều hơn 2 đường vỡ sụn hay không vững khung sụn hay tổn thương mép trước nặng.
    • Điều trị: mở khí quản và nội soi.
    • Phẫu thuật bộc lộ thanh quản – kèm sửa chữa lại niêm mạc bị rách bằng chỉ không tan và tái tạo lại mép trước.
    • Bệnh nhân thuộc nhóm IV thường cần phải đặt stent và rút stent sau 2 tuần.
    • CT scan nên được thực hiện trên bệnh nhân nặng để cho biết có thể chỉ định phẫu thuật như thế nào.
    • Thời gian rút canuyl là 14-35 ngày. Ngoại trừ 1 số trường hợp kéo dài 35-100 ngày.
  1. BIẾN CHỨNG
Hình thành mô hạt là 1 biến chứng ngay tức thì phổ biến nhất. Ngăn chặn bằng cách sử dụng kỹ thuật đóng tổn thương tỉ mỉ và bao phủ niêm mạc che sụn.
Sử dụng stent đúng chỉ định. Rút stent càng sớm càng tốt. Một khi mô hạt đã hình thành thì đốt bằng laser là phương pháp điều trị hữu hiệu nhất.
Sự hình thành mô hạt này thường dẫn đến xơ hóa và di chứng tạo sẹo hẹp. Hẹp thanh khí quản có lẽ cũng là hậu quả sau cùng. Điều này thường liên quan đến độ trưởng thành của mô hạt. Kiểm soát đặc biệt và vị trí nơi kẹp chân vịt thanh môn mép trước có thể được điều trị bằng dao đốt laser hay dao đốt lạnh và đặt keel để ngăn chặn tái phát.
Chân vịt mép sau hay sẹo liên phễu có thể bằng cắt sụn phễu và kèm thêm phủ thêm niêm mạc. Hẹp thanh khí quản mức độ nặng thường cần mổ xẻ thanh quản theo đường giữa ta nhìn trực tiếp vùng sẹo hẹp, kèm với đặt 1 mảnh mô ghép và đặt stent để thúc đẩy sụ tái tạo lại lớp biểu mô.
Hẹp hạ thanh môn khó điều trị. Những tổn thương nhỏ có thể được điều trị bằng nong nhiều lần hay cắt mô sẹo bằng laser không theo chu vi. Hẹp đáng kể thì cần phải bổ mặt trước hay mặt sau sụn nhẫn để ghép sụn. Cắt bỏ đoạn hẹp và khâu nối tận – tận cũng điều trị được hẹp khí quản, đoạn hẹp dưỡi 4 cm có thể cắt bỏ đoạn hẹp với khâu nối với giải phóng thanh quản.
Sau chấn thương thanh quản kín dây thanh bị bất động vĩnh viễn có thể là do thổn thương thần kinh quặt ngược thanh quản hoặc là cố định khớp nhẫn – phễu.
Phân loại nguyên nhân khác nhau này chính yếu là lựa chọn phương pháp điều trị thích hợp. Điều này được khẳng định bằng quan sát dây thanh độ cử động qua soi bằng ống mềm hay soi thanh quản ống cứng dưới gây tê nhẹ kèm chạm trực tiếp sụn phễu để đánh giá mức độ di động của nó. Nếu sụn phễu còn di động, dây thanh được theo dõi trong 1 năm để chờ sự hồi phục chức năng thần kinh quặt ngược.
Nếu bị sặc hay khó phát âm thì nặng – điều trị bằng có thể tiêm Gelfoam vòa dây thanh.
Liệt vĩnh viễn tạo nên giọng nói không đủ có thể được điều trị bằng chích Teflon vào dây thanh hay kỹ thuật kéo dây thanh theo trung tuyến kiểu chình hình sụn giáp.
  1. KẾT LUẬN
Việc xác định tổn thương thanh quản quan trọng là chấn thương kín, chấn thương hở.
Khởi đầu đối với cả 2 đều là ảnh hương mạng sống – cứu mạng đồng nghĩa với kiểm soát đường thở và phục hồi chức năng dây thanh.
Một bệnh sử chấn thương vùng cổ kèm với khàn tiếng, đau, thở rít, máu tụ, hay tràn khí dưới da nên tiến hành kiểm soát đường thở và đánh giá chấn thương thanh quản. Chuẩn bị ngày bao gồm soi thanh quản – phế quản bằng ống cứng và soi thực quản.

Tác giả bài viết: Bs. Võ Nguyễn Hoàng Khôi-Khoa Tai Mũi Họng
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Số ĐT đặt lịch khám bệnh
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN, Địa chỉ: 184 Trần Quý Cáp- Phường Tự An- TP Buôn Ma Thuột- tỉnh Đắk Lắk, Điện thoại nóng: 0262. 3919009 - 0262. 3852654
Điện thoại phòng KHTH
KHOA NGOẠI THẦN KINH – BV ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN PHẪU THUẬT THÀNH CÔNG CA MỔ U NÃO CÓ DÙNG MÁY ĐỊNH VỊ THẦN KINH
NHỒI MÁU NÃO LỖ KHUYẾT (LACUNAR STROKE)
THIẾU MEN G6PD
Kiểm soát đường huyết chu phẫu
SƠ KẾT VÀ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CÔNG TÁC ĐIỀU TRỊ COVID-19 TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
Thông báo mời thầu: mua sắm thuốc Generic dự án mua thuốc cấp cơ sở năm 2020
UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG
Hoạt động từ thiện Bệnh viện
GÂY MÊ HỒI SỨC CHO BỆNH NHÂN TĂNG ÁP ĐỘNG MẠCH PHỔI PHẪU THUẬT NGOÀI TIM
PHẪU THUẬT CA THỨ HAI DỊ TẬT TIM BẨM SINH THÀNH CÔNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN
Thông báo mời thầu: gói thầu vật tư y tế, test chẩn đoán nhanh
Hưởng ứng Tuần lễ “Dinh dưỡng và Phát triển” năm 2020: DINH DƯỠNG HỢP LÝ ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
XUẤT HUYẾT NÃO DO TĂNG HUYẾT ÁP
SIÊU ÂM PHỔI TRONG NỘI KHOA
HỘI CHỨNG TIÊU CƠ VÂN CẤP
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN TỔ CHỨC LỄ HỘI RỬA TAY NĂM 2020
PHẪU THUẬT BÓC NHÂN XƠ TỬ CUNG/CẮT TỬ CUNG TRONG PHẪU THUẬT PHỤ KHOA
Thông báo mời thầu gói thầu:Mua thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền năm 2020 thuộc DM thuốc đấu thầu cấp cơ sở
PHÒNG VÀ TRỊ CẢM MẠO PHONG HÀN BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN
TẬP NGỒI THĂNG BẰNG TĨNH VÀ ĐỘNG

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 14
  • Khách viếng thăm: 12
  • Máy chủ tìm kiếm: 2
  • Hôm nay: 3589
  • Tháng hiện tại: 191350
  • Tổng lượt truy cập: 11369585
Cổng dịch vụ công quốc gia
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang