bvvtn

ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THANH QUẢN GIAI ĐOẠN SỚM (GIAI ĐOẠN I, II)

Đăng lúc: Thứ ba - 03/09/2019 11:31 - Người đăng bài viết: admin
ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THANH QUẢN GIAI ĐOẠN SỚM (GIAI ĐOẠN I, II)

ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THANH QUẢN GIAI ĐOẠN SỚM (GIAI ĐOẠN I, II)

Trên toàn thế giới, ước tính có khoảng 238 nghìn trường hợp ung thư thanh quản (UTTQ) và 106 nghìn trường hợp tử vong hàng năm do UTTQ.

1.     DỊCH TỄ HỌC VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

Trên toàn thế giới, ước tính có khoảng 238 nghìn trường hợp ung thư thanh quản (UTTQ) và 106 nghìn trường hợp tử vong hàng năm do UTTQ. Ở Hoa Kỳ, có xấp xỉ 13.400 trường hợp UTTQ và 3.700 tử vong hàng năm.
UTTQ được chẩn đoán phần lớn ở nam giới, phản ánh tác động của rượu và thuốc lá lên tỉ lệ mắc bệnh. Những người hít khói thuốc thụ động cũng tăng nguy cơ.

2.     GIẢI PHẪU VÀ XẾP GIAI ĐOẠN

Hệ thống xếp giai đoạn ung thư theo TNM của tổ chức AJCC và UICC được cập nhật năm 2017 như bảng dưới:
Bảng 1. Xếp hạng TNM (AJCC 8th)
Bướu nguyên phát (T)
TX
T0
Tis
Bướu nguyên phát không thể đánh giá
Không bướu nguyên phát
Carcinôm tại chỗ
Trên thanh môn
T1
 
T2
 
 
T3
 
 
T4a
 
 
T4b
Bướu giới hạn một phân vùng trên thanh môn với dây thanh cử động bình thường.
Bướu xâm lấn niêm mạc hơn một phân vùng lân cận trên thanh môn hay ngoài vùng trên thanh môn (niêm mạc đáy lưỡi, thung lũng, vách trong xoang lê), không gây cố định thanh quản.
Bướu khu trú ở thanh quản có bất động dây thanh và/hoặc xâm lấn bất cứ cấu trúc nào sau đây: vùng sau nhẫn, mô trước sụn nắp, khoảng cạnh thanh môn và/hoặc xâm lấn sụn giáp ít (mặt trong sụn giáp).
Bướu xâm lấn sụn giáp và/hoặc xâm lấn khỏi thanh quản (khí quản, mô mềm vùng cổ kể cả cơ sâu của lưỡi, cơ trước tuyến giáp, tuyến giáp hoặc thực quản).
Bướu xâm lấn khoảng trước cột sống, bao lấy động mạch cảnh hoặc xâm lấn cấu trúc trung thất.
Thanh môn
T1
 
T2
 
T3
 
T4a
 
 
T4b
Bướu khu trú ở một (T1a) hoặc cả hai dây thanh (T1b) dây thanh (có xâm lấn mép trước hoặc sau) với cử động dây thanh bình thường.
Bướu ăn lan đến vùng trên thanh môn hoặc dưới thanh môn hoặc có giới hạn cử động của dây thanh.
Bướu khu trú ở thanh quản có bất động dây thanh hoặc xâm lấn khoảng cạnh thanh môn và/hoặc xâm lấn sụn giáp ít (mặt trong sụn giáp).
Bướu xâm lấn sụn giáp và/hoặc xâm lấn khỏi thanh quản (khí quản, mô mềm vùng cổ kể cả cơ sâu của lưỡi, cơ trước tuyến giáp, tuyến giáp hoặc thực quản).
Bướu xâm lấn khoảng trước cột sống, bao lấy động mạch cảnh hoặc xâm lấn cấu trúc trung thất.
Dưới thanh môn
T1
T2
T3
T4a
 
 
T4b
Bướu khu trú dưới thanh môn.
Bướu lan rộng đến dây thanh, có cử động dây thanh bình thường hoặc kém.
Bướu khu trú ở thanh quản có bất động dây thanh.
Bướu xâm lấn sụn nhẫn và/hoặc xâm lấn khỏi thanh quản (khí quản, mô mềm vùng cổ kể cả cơ sâu của lưỡi, cơ trước tuyến giáp, tuyến giáp hoặc thực quản).
Bướu xâm lấn khoảng trước cột sống, bao lấy động mạch cảnh hoặc xâm lấn cấu trúc trung thất.
Hạch vùng (N)
Nx
N0
N1
N2a
N2b
N2c
N3
Hạch vùng không thể đánh giá
Không có hạch vùng di căn
Di căn một hạch cùng bên ≤ 3 cm
Di căn một hạch cùng bên > 3cm và ≤ 6 cm
Di căn đến nhiều hạch cùng bên ≤ 6 cm
Di căn hạch cổ hai bên hay đối bên ≤ 6 cm
Di căn hạch > 6 cm
Di căn xa (M)
Mx
M0
M1
Di căn xa không thể đánh giá
Không có di căn xa
Di căn xa
Bảng 2. Xếp giai đoạn
0
I
II
III

IVA


IVB
IVC
Tis, N0, M0
T1, N0, M0
T2, N0, M0
T3, N0, M0
T1-3, N1, M0
T4, N0-1, M0
T bất kỳ, N2, M0
T bất kỳ, N3, M0
T bất kỳ, N bất kỳ, M1
Thanh quản được chia làm 3 vùng giải phẫu: trên thanh môn, thanh môn (ung thư thường xuất hiện ở đây) và dưới thanh môn. UTTQ thường xuất hiện ở trên thanh môn và thanh môn, chỉ có 2% ở dưới thanh môn. Sự phân chia này tạo nên xếp loại giai đoạn khối u nguyên phát:
-         Trên thanh môn: nắp thanh môn trên xương móng, nắp thanh môn dưới xương móng, sụn nắp, sụn phễu và băng thanh thất (dây thanh giả).
-         Thanh môn: dây thanh thật gồm bờ trước và bờ sau dây thanh.
-         Dưới thanh môn: mở rộng từ ranh giới dưới của thanh môn đến bờ dưới của sụn thanh quản.


Hình 1.
Giải phẫu thanh quản
Theo định nghĩa thì bệnh nhân UTTQ giai đoạn sớm có bướu ở giai đoạn I, II, chưa xâm lấn sụn giáp hay di căn hạch.
Nội soi thanh quản bằng ống cứng hay ống mềm rất cần thiết để xếp giai đoạn với bệnh UTTQ giai đoạn sớm, điều trị và kết quả chức năng sau điều trị dựa vào sự lan rộng của bệnh.

3.     ĐIỀU TRỊ

3.1. Nguyên tắc chung

Bệnh nhân UTTQ giai đoạn sớm nên được điều trị với mục tiêu bảo tồn thanh quản. Thanh quản có 2 chức năng chính: duy trì sự thông thoáng đường thở, đóng đường thở khi nuốt và tạo giọng nói. Điều trị tối ưu là bảo tồn tối đa các chức năng này (chất lượng giọng nói, khả năng nuốt) và sống còn.
          Cả xạ trị và phẫu thuật bảo tồn thanh quản đều có thể điều trị khỏi phần lớn UTTQ giai đoạn sớm. Tỉ lệ sống còn 5 năm với cả 2 phương pháp là trên 90% với giai đoạn I và khoảng 80% ở giai đoạn II theo các nghiên cứu tổng quan[6].
          Xạ trị thường được ưa thích hơn vì kết quả về chức năng đặc biệt là chất lượng giọng nói tốt hơn. Một thử nghiệm ngẫu nhiên so sánh xạ trị với phẫu thuật laser ở 60 người đàn ông UTTQ giai đoạn I cho thấy bệnh nhân được xạ trị có biến chứng liên quan tới khàn giọng trong 2 năm sau điều trị ít hơn so với phẫu thuật laser. Không có sự khác biệt về mặt ung thư học. Tuy nhiên, đánh giá chất lượng giọng nói toàn bộ ở 2 nhóm là như nhau, cho thấy phẫu thuật nội soi có thể cho chất lượng giọng nói tương đương ở một số bệnh nhân nhất định.
          Hóa trị đơn thuần không có vai trò trong điều trị UTTQ giai đoạn sớm. Chỉ có số ít bệnh nhân với UTTQ có bướu T2 (như bướu lớn, T2 xâm lấn làm hạn chế cử động dây thanh) có thể được chỉ định hóa xạ trị đồng thời. Thường thì bướu T2 lớn được điều trị bằng xạ trị đơn thuần với phân liều cao/biến đổi. Phẫu thuật cắt thanh quản toàn phần hiếm khi được chỉ định cho bệnh nhân giai đoạn I, II và thường được dành là phương pháp cuối cùng nếu không có lựa chọn nào khác.
Phẫu thuật cắt thanh quản toàn phần là một phẫu thuật không quá phức tạp có thể cắt bỏ hoàn toàn khối bướu còn nằm trong sụn thanh quản, nhưng việc mất giọng nói vĩnh viễn ảnh làm ảnh hưởng tới cuộc sống hàng ngày của bệnh nhân. Dù có các lựa chọn khác để phục hồi giọng nói, nhiều bệnh nhân vẫn không hài lòng với hiệu quả của những phương pháp này; hệ quả là giảm giao tiếp xã hội, mất việc làm, và trầm cảm.
          Kích thước, độ lan rộng, vị trí của khối bướu, chức năng hô hấp, chức năng nuốt của bệnh nhân, kinh nghiệm của chuyên gia và các vấn đề về sức khỏe khác của bệnh nhân phải được xem xét để lựa chọn giữa phẫu thuật và các điều trị không phẫu thuật ban đầu. Các vấn đề liên quan tới chi phí có thể cũng ảnh hưởng tới quyết định phẫu thuật hay xạ trị.

Xạ trị

Xạ trị dẫn đầu có thể cải thiện về chức năng có cơ hội lớn để bảo tồn giọng nói, tránh gây mê và các nguy cơ khác liên quan tới phẫu thuật. Hầu hết bệnh nhân T1, T2 được điều trị bằng phương pháp xạ trị đơn thuần.

Hình 2. Xạ trị ung thư thanh quản (nguồn: cancer.gov)
          Tuy nhiên, trường hợp tái phát tại vùng sau xạ trị có thể cần phẫu thuật, mặc dù vài bệnh nhân có thể được phẫu thuật bảo tồn thanh quản thì phẫu thuật cắt thanh quản toàn phần là cần thiết trong hơn nửa số trường hợp tái phát. Hơn nữa, phẫu thuật cắt bỏ sau xạ trị làm gia tăng các biến chứng.
Các biến chứng do xạ như viêm da, khàn giọng, nuốt đau, nuốt khó thường xuất hiện trong quá trình xạ trị nhưng những độc tính cấp này thường nhẹ (độ 1-2) tự hết sau 2-8 tuần. Các bệnh nhân UTTQ giai đoạn sớm ít có các biến chứng cấp tính, bán cấp hoặc vĩnh viễn như ở bệnh nhân ở giai đoạn tiến triển được xạ trị vùng rộng hơn và hóa trị đồng thời. Tuy nhiên, phù thanh quản kéo dài, hoại tử mô mềm gây viêm sụn, hẹp thanh quản thỉnh thoảng xuất hiện ngay cả ở bệnh nhân giai đoạn sớm.

Phẫu thuật

Kỹ thuật phẫu thuật bảo tồn thanh quản để điều trị bệnh nhân UTTQ giai đoạn sớm gồm: mổ mở cắt thanh quản một phần, vi phẫu laser qua ngã miệng (TOLM: TransOral Laser Microsurgery) và phẫu thuật robot qua ngã miệng. Phẫu thuật bảo tồn thanh quản chỉ nên thực hiện khi phẫu thuật viên đảm bảo bờ diện cắt không còn mô bướu, vì xạ trị sau mổ có thể làm giảm kết quả chức năng đặc biệt sau mổ mở.
 

Hình 3. A. tổn thương dây thanh trái T1a; B: tổn thương dây thanh đã được cắt qua nội soi [2]
Phẫu thuật laser qua ngã miệng là kỹ thuật xâm lấn tối thiểu, kết hợp nội soi thanh quản treo với kính vi phẫu, dụng cụ vi phẫu và một đèn laser CO2 (được dùng vì tần số ánh sáng của nó được nước hấp thu giúp hạn chế tổn thương mô). Khối u được cắt, bộc lộ độ sâu của tổn thương xâm lấn và cho thấy bờ khối u, khối u được cắt dần. Ít nhất một phức hợp sụn phễu phải được bảo tồn để duy trì chức năng thanh quản. Mới đây, laser KTP (Potassium Titanyl Phosphate) đã được dùng thay thế laser CO2.
          Nếu cắt được toàn bộ qua phẫu thuật laser ngã miệng thì phương pháp này được ưa dùng hơn mổ mở cắt thanh quản một phần trong điều trị UTTQ giai đoạn sớm.
          Phẫu thuật robot ngã miệng cũng đang được phát triển cho bệnh nhân giai đoạn sớm. Ban đầu cho thấy kết quả có thể so sánh với các kỹ thuật khác.
          Các biến chứng có thể xuất hiện khi mổ mở cắt thanh quản một phần gồm: nhiễm trùng, chảy máu, dò thanh quản ra da, tắc nghẽn đường thở cần mở khí quản, viêm phổi hít và nuốt khó. Phẫu thuật laser ngã miệng làm giảm tỉ lệ mở khí quản, nuôi ăn qua sonde cũng như làm giảm chi phí, thời gian nằm viện so với cắt thanh quản một phần.

3.2. Ung thư thanh môn

          Ung thư thanh môn chiếm 2/3 trường hợp UTTQ, hầu hết xuất hiện ở 2/3 trước của dây thanh với tỉ lệ nhỏ ở mép trước. Khàn giọng kéo dài thường xuất hiện sớm và là lý do đến khám của hầu hết bệnh nhân, có thể phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm. Nếu ở giai đoạn muộn hơn, các triệu chứng có thể gồm nuốt khó, đau lan lên tai, đau họng, ho kéo dài, ho ra máu, thở khò khè.
U nguyên phát: bệnh nhân ung thư thanh môn giai đoạn sớm có thể điều trị bảo tồn thanh quản, xạ trị hoặc phẫu thuật laser ngã miệng. Với các tổn thương nguy cơ cao (tổn thương dây thanh 2 bên và/hoặc lan rộng tới mép trước hoặc mép sau) thường được xạ trị vì có nguy cơ diện cắt dương tính và khó tối ưu chất lượng giọng sau phẫu thuật laser ngã miệng hay mổ mở hay cắt thanh quản theo chiều dọc.
Tỉ lệ sống còn 5 năm không bệnh và sống còn toàn bộ khoảng 95% và 80%. Kiểm soát tại vùng, bảo tồn thanh quản và tỉ lệ sống còn là tương tự với xạ trị, phẫu thuật laser ngã miệng và mổ mở cắt thanh quản một phần theo chiều dọc [5].
-         Với các bệnh nhân được xạ trị, sự gián đoạn điều trị và thời gian kéo sẽ làm giảm hiệu quả điều trị. Các yếu tố làm giảm kiểm soát tại vùng: bướu T2 lan dưới thanh môn và giới hạn cử động dây thanh, khối u lớn.
Những bướu lan đến mép trước có thể làm cho bệnh tiến triển xâm lấn một phần sụn (T3) hay lan rộng ngoài thanh quản (T4), làm tăng giai đoạn, tăng nguy cơ tái phát tại chỗ. Những bệnh nhân này, việc đánh giá hình ảnh mép trước chính xác là tiêu chuẩn để đánh giá đúng giai đoạn. Nếu bệnh nhân được đánh giá đúng là giai đoạn sớm thì xạ trị là phương pháp điều trị thích hợp, kế hoạch xạ trị chi tiết và quá trình xạ có thể biến đổi để bảo đảm liều xạ cao đến vùng cần thiết.
-         Những bệnh nhân được phẫu thuật, kỹ thuật cắt laser ngã miệng cho kết quả chức năng tốt hơn các phương pháp phẫu thuật khác, đặc biệt là chất lượng giọng nói. Hơn nữa, việc mở khí quản và nuôi ăn qua sonde ít cần thiết hơn.
Chất lượng giọng nói sau mổ phụ thuộc độ rộng của phẫu thuật cắt bỏ dây thanh. Xạ trị là phương pháp được ưa thích hơn cho ung thư thanh môn giai đoạn sớm vì hiệu quả giọng nói tốt hơn, tuy nhiên chất lượng giọng nói sau phẫu thuật laser của một số tổn thương giai đoạn sớm chỉ nằm ở màng dây thanh thường rất tuyệt vời khi so sánh với xạ trị.
Hạch vùng: thanh môn có rất ít dẫn lưu bạch huyết, do đó ung thư thanh môn giai đoạn sớm ít cho di căn hạch. Khuyến cáo chỉ theo dõi mà không nạo hạch cổ với ung thư thanh môn giai đoạn sớm.

3.3. Ung thư trên thanh môn

Ung thư trên thanh môn chiếm khoảng 1/3 trường hợp UTTQ, ác tính hơn ung thư thanh môn. Bệnh nhân ung thư trên thanh môn thường được phát hiện ở giai đoạn tiến triển, biểu hiện bởi các dấu hiệu tắc nghẽn đường thở (thở khò khè, khó thở khi gắng sức), khó nuốt, nuốt đau, có khi sờ thấy hạch cổ.
U nguyên phát: ở những trường hợp ung thư trên thanh môn được chẩn đoán ở giai đoạn sớm, xạ trị hoặc phẫu thuật dẫn đầu có hiệu quả để kiểm soát bệnh tại vùng ở hầu hết bệnh nhân (90% ở giai đoạn I và 80% ở giai đoạn II). Tuy nhiên, không như ung thư thanh môn, tái phát có thể khó để phẫu thuật lại hơn do kèm theo bệnh tiến triển ở vùng cổ. Tỉ lệ sống còn toàn bộ 5 năm ở bệnh nhân ung thư trên thanh môn giai đoạn sớm khoảng từ 55-75% trong các nghiên cứu tổng quan [4].
Xạ trị hay phẫu thuật đơn thuần có thể chữa khỏi bệnh và duy trì chức năng cho một số tổn thương T1, T2 với cử động dây thanh bình thường. Tổn thương T2 với hạn chế cử động dây thanh có thể phẫu thuật laser ngã miệng, mổ mở cắt phần trên thanh quản hoặc xạ trị liều cao.
-         Với bệnh nhân được xạ trị, trường chiếu bao gồm thanh quản, phần dưới cơ nhị thân, tĩnh mạch cảnh và các hạch dưới tĩnh mạch cảnh. Kỹ thuật xạ trị gồm tối ưu liều và lịch xạ trị.
-         Bệnh nhân được phẫu thuật laser ngã miệng đạt kết quả kiểm soát tại vùng và sống còn là tương tự nhưng kết quả chức năng cao hơn so với mổ mở cắt phần trên thanh quản. Phẫu thuật nội soi qua ngã miệng có thể kết hợp với xạ trị sau mổ bao gồm cả vùng cổ với tỉ lệ kiểm soát tại vùng, tỉ lệ sống còn cao (88% sau 3 năm) và kết quả chức năng tốt trên 90% bệnh nhân [1]. Phẫu thuật laser ngã miệng phù hợp với các khối u ở gần thanh môn và dây thanh giả, các khối u trên nếp sụn nắp và xoang lê cũng có khả năng phẫu thuật. Đánh giá khả năng nuốt trước mổ được khuyến cáo để xác định khả năng hồi phục. Bệnh nhân không được xạ trị sau mổ cần được phẫu thuật để xếp giai đoạn.
Phẫu thuật laser ngã miệng so với mổ mở cắt phần trên thanh quản: giảm thời gian ăn qua sonde, thời gian mở khí quản, thời gian nằm viện và kết quả chức năng tốt hơn đặc biệt là chức năng nuốt. Hơn nữa, phẫu thuật laser ngã miệng phòng ngừa mở khí quản cấp cứu ở bệnh nhân có các tổn thương làm tắc nghẽn đường thở. Những phát triển của vi phẫu gồm hệ thống phẫu thuật robot ngã miệng hứa hẹn tăng hiệu quả và độ chính xác của phẫu thuật.
Hạch vùng: phần trên thanh môn là cấu trúc ở đường giữa với dẫn lưu bạch huyết phong phú, do đó thường xuất hiện hạch cổ di căn 2 bên ở những bệnh nhân không sờ thấy hạch trên lâm sàng. Cần phải nạo hạch cổ 2 bên (nhóm II, III, IV) cho ung thư trên thanh môn giai đoạn sớm dù là phẫu thuật hay xạ trị dẫn đầu.

3.4. Ung thư dưới thanh môn

Ung thư dưới thanh môn ít gặp, khối u dưới thanh môn thường không có triệu chứng cho đến khi bệnh tiến triến tại vùng, nhưng cũng có những khối u nhỏ gây khàn giọng, khó thở, thở khò khè; thường xâm lấn ra ngoài thanh quản. Vì những lý do đó tỉ lệ sống còn thấp hơn khối u ở những vùng khác của thanh quản, tỉ lệ sống còn 5 năm không bệnh và sống còn toàn bộ là 71% và 86% với giai đoạn I; 42% và 50% với giai đoạn II [3].
          Ung thư dưới thanh môn có tỉ lệ tái phát tại chỗ cao hơn và tỉ lệ sống còn thấp hơn so với vùng khác của thanh quản. Phẫu thuật dẫn đầu bao gồm cắt thanh quản toàn phần hoặc cắt thanh quản một phần ở một số trường hợp. Kèm theo cắt tuyến giáp và nạo hạch cổ 2 bên. Nếu xạ trị dẫn đầu thì vùng chiếu xạ gồm phần thấp của cổ và phần trên của trung thất.

4.     ĐIỀU TRỊ HỖ TRỢ

UTTQ giai đoạn sớm sau phẫu thuật nếu phát hiện diện cắt còn mô u, xâm lấn thần kinh, mạch bạch huyết hoặc xếp giai đoạn sau mổ là giai đoạn III, IV (hạch dương tính và/hoặc khối u nguyên phát xâm lấn sâu và rộng). Những trường hợp này cần chỉ định xạ trị sau mổ. Trường hợp hạch phá vỏ bao và/hoặc bờ diện cắt dương tính, xem xét điều trị hóa xạ đồng thời hỗ trợ.

5.     THEO DÕI SAU ĐIỀU TRỊ

Theo dõi định kỳ sau điều trị là một phần quan trọng trong chăm sóc bệnh nhân UTTQ. Bệnh nhân nên được hướng dẫn về các dấu hiệu và triệu chứng khi bệnh tái phát: khàn giọng, nuốt khó, nuốt đau, chảy máu, thở khò khè/khó thở hoặc hạch cổ lớn dần.
Thông thường, tần suất theo dõi nhiều nhất trong 2-4 năm đầu và có khoảng 80-90% trường hợp tái phát sau điều trị khỏi bệnh hoàn toàn xuất hiện trong thời gian này. Theo dõi 5 năm tiếp theo vì nguy cơ tái phát muộn và ung thư thứ hai, đặc biệt ở bệnh nhân có tiền sử hút thuốc lá. Các phương tiện chẩn đoán hình ảnh vùng đầu cổ thường không cần thiết, chụp xquang phổi để phát hiện ung thư phổi nguyên phát thứ hai.

6.     TÓM TẮT VÀ KHUYẾN CÁO

-         Thanh quản được chia làm 3 phần dựa theo giải phẫu: trên thanh môn, thanh môn và dưới thanh môn.
-         UTTQ giai đoạn sớm (giai đoạn I, II) cả 2 phương pháp xạ trị và phẫu thuật bảo tồn thanh quản (phẫu thuật laser ngã miệng và mổ mở cắt một phần thanh quản) đều cho kết quả kiểm soát tại chỗ và sống còn như nhau. Điều trị tối ưu sống còn và chức năng rất quan trọng để duy trì chức năng của thanh quản (bảo tồn giọng nói, chức năng nuốt và bảo vệ đường thở)
-         Nhiều bệnh nhân ung thư trên thanh môn và thanh môn giai đoạn sớm được khuyến cáo xạ trị hơn là phẫu thuật vì cho kết quả chức năng tốt hơn. Tuy nhiên, phẫu thuật laser (hay robot) qua ngã miệng là lựa chọn tốt cho bệnh nhân có khối u nhỏ không nằm trên mép trước, mép sau dây thanh. Khối u lớn hơn thường được xạ trị (thường là xạ trị phân liều cao).
-         Các bệnh nhân ung thư dưới thanh môn giai đoạn sớm được khuyến cáo cắt thanh quản toàn phần hoặc cắt thanh quản một phần với một số trường hợp. Cả 2 phương pháp đều phải cắt tuyến giáp và nạo hạch cổ 2 bên. Một phương pháp khác là xạ trị liều cao ở vùng dưới của cổ và phần trên trung thất.
-         Khuyến cáo nạo hạch cổ nhóm II, III, IV cho ung thư trên thanh môn giai đoạn sớm (hạch không sờ thấy trên lâm sàng). Lựa chọn nạo hạch cổ hay xạ trị vùng cổ dựa trên cách tiếp cận khối u nguyên phát.
-         Khuyến cáo bệnh nhân ung thư thanh môn giai đoạn sớm chưa di căn hạch cổ nên được theo dõi.
-         Bệnh nhân được phẫu thuật dẫn đầu nên được xạ trị sau mổ với những trường hợp có bờ diện cắt dương tính, xâm lấn thần kinh, mạch bạch huyết, xâm lấn sụn hoặc hạch dương tính trên giải phẫu bệnh sau mổ. Hóa xạ đồng thời sau mổ được ưa thích nếu bờ diện cắt dương tính hoặc có một hạch dương tính phá vỏ bao[7].
                                                  
 
Tài liệu tham khảo
1. Agrawal A., Moon J., Davis R. K., et al (2007), "Transoral carbon dioxide laser supraglottic laryngectomy and irradiation in stage I, II, and III squamous cell carcinoma of the supraglottic larynx: report of Southwest Oncology Group Phase 2 Trial S9709", Arch Otolaryngol Head Neck Surg, 133 (10), pp. 1044-1050.
2. Chadwick Keith A., Schindler Joshua S. (2018), "Early Glottic Larynx Cancer", Oral, Head and Neck Oncology and Reconstructive Surgery, Elsevier, pp. 799-817.
3. Dahm J. D., Sessions D. G., Paniello R. C., Harvey J. (1998), "Primary subglottic cancer", Laryngoscope, 108 (5), pp. 741-746.
4. Hinerman R. W., Mendenhall W. M., Amdur R. J., et al (2002), "Carcinoma of the supraglottic larynx: treatment results with radiotherapy alone or with planned neck dissection", Head Neck, 24 (5), pp. 456-467.
5. Mendenhall W. M., Werning J. W., Hinerman R. W., et al (2004), "Management of T1-T2 glottic carcinomas", Cancer, 100 (9), pp. 1786-1792.
6. Tamura Y., Tanaka S., Asato R., Hirano S., Yamashita M., Tamaki H., Ito J. (2007), "Therapeutic outcomes of laryngeal cancer at Kyoto University Hospital for 10 years", Acta Otolaryngol Suppl, (557), pp. 62-65.
7. Wayne M K., et al (2019), Treatment of early (stage I and II) head and neck cancer: The larynx, https://www.uptodate.com/contents/treatment-of-early-stage-i-and-ii-head-and-neck-cancer-the-larynx, Accessed on 02/09/2019.
Tác giả bài viết: BS. TỪ NGỌC HIẾU – KHOA UNG BƯỚU
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Tin mới

Điện thoại nóng
PHÁC ĐỒ SXHD TRẺ EM
BỆNH BẠCH HẦU
DÒ BÀNG QUANG – ÂM ĐẠO NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP
Sốt rét ở phụ nữ mang thai Các tiếp cận mới và lồng ghép vào chương trình chăm sóc trước sinh
ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THANH QUẢN GIAI ĐOẠN SỚM (GIAI ĐOẠN I, II)
CHẢY MŨI Ở TRẺ EM
Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên đạt giải nhất Hội thi sân khấu hóa “Đổi mới phong cách, thái độ của cán bộ y tế, hướng tới sự hài lòng của người bệnh”
HIỆU QUẢ GÂY TÊ TỦY SỐNG BẰNG LEVOBUPIVACAINE PHỐI HỢP MORPHINE TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI KHỚP GỐI
BÀN CHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ CÁCH PHÒNG NGỪA
Nhân trường hợp trẻ sơ sinh mắc bệnh Sốt xuất huyết Dengue điều trị tại khoa Hồi sức cấp cứu nhi và Nhi sơ sinh
TRỊ LIỆU OXY CAO ÁP ( Hyperbaric Oxygen Therapy: HBOT )
Tổng hợp các hệ thống phân chia giai đoạn ung thư biểu mô tế bào gan (Phần 4: Hệ thống GRETCH)
Tổng hợp các hệ thống phân chia giai đoạn ung thư biểu mô tế bào gan (Phần 5: Chỉ số tiên lượng của Đại học Trung Hoa - CUPI)
CƠ SỞ KHOA HỌC CHỨNG MINH HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU CỦA PHƯƠNG PHÁP CHÂM CỨU
Thông báo chương trình " Trái tim cho em"
Thông báo mời thầu : Gói thầu mua sắm thuốc Generic 2
Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên phẫu thuật thay khớp háng thành công cho cụ già 104 tuổi
Phẫu thuật mắt miễn phí tại Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên
Thông báo mời thầu: Gói thầu mua sắm thuốc biệt dược
Tổng hợp các hệ thống phân chia giai đoạn ung thư biểu mô tế bào gan (Phần 3: Phân loại Barcelona)

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 93
  • Khách viếng thăm: 92
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 5092
  • Tháng hiện tại: 111064
  • Tổng lượt truy cập: 7028519
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang