bvvtn

NHỒI MÁU NÃO LỖ KHUYẾT (LACUNAR STROKE)

Đăng lúc: Thứ năm - 19/11/2020 00:15 - Người đăng bài viết: admin
NHỒI MÁU NÃO LỖ KHUYẾT (LACUNAR STROKE)

NHỒI MÁU NÃO LỖ KHUYẾT (LACUNAR STROKE)

NHỒI MÁU NÃO LỖ KHUYẾT (LACUNAR STROKE)
  1. KHÁI NIỆM: (1)(2)
 
Nhồi máu não lỗ khuyết là nhồi máu não không ở vùng vỏ có kích thước nhỏ từ 0.2 đến 15 mm đường kính, do tắc nghẽn một nhánh xuyên đơn độc của một động mạch não lớn.Các nhánh này tách ra từ các động mạch lớn của đa giác Willis, thân động mạch não giữa hay từ động mạch thân nền.
Thuật ngữ “lacune” lần đầu được Dechambre dùng vào năm 1838 để miêu tả các tổn thương mềm nhão ở vùng dưới vỏ của não bộ trên tử thiết. Đến năm 1901 Marie mô tả một hội chứng lâm sàng liên quan với nhiều “lacune” có đặc điểm là đột ngột liệt nữa người có hồi phục tốt, dáng đi đặc trưng với những bước đi nhỏ, liệt giả hành và sa sút trí tuệ.
Hầu hết kiến thức hiện nay về nhồi máu não lỗ khuyết là do Fisher ưu tiên phẫu tích tử thi các bệnh nhân đột quỵ. Ông ấy khám phá ra rằng hầu hết nhồi máu não lỗ khuyết có triệu chứng là do tắc các động mạch xuyên có đường kính từ 200-800 micromet, nhồi máu não ở các động mạch xuyên nhỏ hơn thường không có triệu chứng.
Hầu hết các nhồi máu não lỗ khuyết là ở vùng hạch nền (bèo sẫm, cầu nhạt, đồi thị, nhân đuôi), chất trắng dưới vỏ ( bao trong, vành tia) và cầu não.Những vị trí này tương ứng với vùng cấp máu của các nhánh đậu vân từ động mạch não trước và não giữa, nhánh quặt ngược Heubner từ động mạch não trước, động mạch mạch mạc trước trừ động mạch cảnh trong đoạn xa, các nhánh xuyên đồi thị từ động mạch não sau, các nhánh cạnh đường giữa của động mạch  thân nền. Các nhánh nhỏ này xuất phát trực tiếp từ các động mạch lớn khiến cho chúng đặc biệt dễ bị tổn thương khi tăng huyết áp, có lẽ điều này giải thích cho sự phân bố đặc biệt trên.
Nhồi máu não lỗ khuyết chiếm 15 đến 26% các trường hợp nhồi máu não.
hơn 20 hội chứng nhồi máu não lỗ khuyết đã được mô tả, trong đó có 5 hội chứng nhồi máu não lỗ khuyết được công nhận như là yếu tố dự đoán cao rằng có sự hiện diện của “lacunes” trên hình ảnh học, đó là:
  • Liệt vận động đơn thuần
  • Đột quỵ cảm giác đơn thuần
  • Liệt nữa người thất điều
  • Đột quỵ cảm giác vận động
  • Hội chứng tay vụng về nói khó
  1. DẤU HIỆU LÂM SÀNG CỦA NHỒI MÁU NÃO LỖ KHUYẾT: (1)(2)
Quy luật chung, hội chứng nhồi máu não lỗ khuyết không có các dấu hiệu mất ngôn ngữ, mất nhận thức, thờ ơ, mất thực dụng hoặc mất thị lực. Liệt một chị, lơ mơ, hôn mê, mất ý thức, co giật thường không có trong nhồi máu não lỗ khuyết.Tắc các nhánh động mạch xuyên thường gây các triệu chứng trong khoảng thời gian ngắn điển hình từ vài phút đến vài giờ. Tuy nhiên diễn tiến không điển hình có thể xảy ra sau đó như khi có huyết khối ở các động mạch lớn, và triệu chứng thỉnh thoảng tiến triển trong vài ngày.
Có hơn 20 hội chứng nhồi máu não lỗ khuyết đã được mô tả, trong đó có 5 hội chứng nhồi máu não lỗ khuyết được công nhận như là yếu tố dự đoán cao có sự hiện diện của “lacunes” trên hình ảnh học, đó là:
  • Liệt vận động đơn thuần
  • Đột quỵ cảm giác đơn thuần
  • Liệt nữa người thất điều
  • Đột quỵ cảm giác vận động
  • Hội chứng tay vụng về nói khó
Nói chung, khi có các hội chứng lỗ khuyết thì giá trị tiên đoán dương cho việc thấy khiếm khuyết trên hình ảnh học là 87-90%. Có các cơn thoáng thiếu máu não trước đó và khởi phát không đột ngột làm tăng thêm giá trị tiên đoán dương của các hội chứng lỗ khuyết. Dự đoán vị trí nhồi máu có liên quan đến các biểu hiện lâm sàng theo bảng sau:


Nhận biết hội chứng lỗ khuyết có thể khó ở những trường hợp khởi phát tối cấp.Một nghiên cứu ở các bệnh nhân nhập viện trong vòng 6 giờ khởi phát triệu chứng báo cáo rằng giá trị tiên đoán dương chỉ là 30%.
Các hội chứng khác chưa được nghiên cứu với các thử nghiêm lâm sàng lớn nhưng có thể liên quan nhồi máu lỗ khuyết :
  1. Hội chứng liệt vận động nữa người đơn thuần:
Đây là hội chứng thường gặp nhất trong các nhồi máu lỗ khuyết, chiếm 45 đến 57%. Hội chứng này có các triệu chứng yếu mặt, tay và chân ở một bên cơ thể và không có các dấu hiệu “vỏ não” ( mất ngôn ngữ, mất nhận thức, thờ ơ, mất thực dụng hay bán manh) và không rối loạn cảm giác.
Khiếm khuyết vận động có thể xảy ra đơn thuần hoặc hiếm hơn, xảy ra sau các cơn thoáng thiếu máu não có liệt nữa người. Các ca có cơn thoáng thiếu máu não xảy ra trước đó được mô tả là “ hội chứng cảnh báo bao trong” và là yếu tố dự báo nhồi máu bao trong cấp trên CT scan đầu.Một vài trường hợp có thể do thiếu máu các nhánh xuyên từ các động mạch “mẹ” bị hẹp tắc như động mạch não giữa, động mạch thân nền gây ra các triệu chứng cách quãng hoặc dao động.
H