bvvtn

PHÒNG TRÁNH nCoV- KHÔNG LƠ LÀ VỚI CÚM

Đăng lúc: Thứ sáu - 07/02/2020 05:07 - Người đăng bài viết: admin
PHÒNG TRÁNH nCoV- KHÔNG LƠ LÀ VỚI CÚM

PHÒNG TRÁNH nCoV- KHÔNG LƠ LÀ VỚI CÚM

Cúm là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính do vi-rút cúm lưu hành ở tất cả các nơi trên thế giới.
Cúm là một bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính do vi-rút cúm lưu hành ở tất cả các nơi trên thế giới. Các triệu chứng của cúm bao gồm sốt đột ngột, ho (thường là ho khan), đau đầu, đau cơ và khớp, mệt mỏi, đau họng và chảy nước mũi. Ho có thể nặng và kéo dài từ hai tuần trở lên.
Hầu hết mọi người phục hồi hết sốt và các triệu chứng khác trong vòng một tuần mà không cần chăm sóc y tế. Tuy nhiên, cúm có thể gây ra bệnh nặng hoặc tử vong, đặc biệt trong số các nhóm đối tượng nguy cơ cao bao gồm trẻ nhỏ, người già, phụ nữ mang thai, nhân viên y tế và những người đang mắc các bệnh nặng khác.
Có từ 290.000 đến 650 000 ca tử vong hàng năm liên quan đến cúm, theo ước tính mới của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (US-CDC), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và các đối tác y tế toàn cầu.
Giới chức Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) của Đài Loan cho hay trong mùa cúm có 771 trường hợp bị cúm H1N1, với những biến chứng nghiêm trọng từ ngày 1.10.2019, trong đó có 56 trường hợp tử vong.
            Mặc dù bệnh nghiêm trọng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, khác với nCoV tỷ lệ nhiễm cao ở người trưởng thành, trẻ em dễ mắc cúm nhất, mỗi năm có khoảng 870. 000 trẻ em dưới 5 tuổi là nhập viện trên toàn thế giới do cúm. Phân tích tổng hợp của Nair ước tính rằng từ 28.000 đến 111.500 trường hợp tử vong ở trẻ em trong độ tuổi dưới 5 năm là do liên quan đến cúm
NGUYÊN NHÂN: Phần lớn xảy ra ở các nước đang phát triển. Ở Hoa Kỳ, tử vong do cúm đã trở thành một tình trạng đáng chú ý trên toàn quốc vào cuối năm 2004. Kể từ đó, số ca tử vong liên quan đến cúm được báo cáo ở trẻ em mỗi năm dao động từ 37 đến 171, đặc biệt 358 người chết trong năm 2009.
Lây truyền cúm: Từ người sang người thông qua cả những giọt tiết hô hấp lớn và tiếp xúc.  
 LÂM SÀNG
- Đặc trưng với cơn sốt đột ngột, đau cơ lan tỏa, khó chịu và đau đầu, sau đó ho nghẹt mũi, viêm mũi và đau họng. Các triệu chứng tiêu hóa ít liên quan bị cúm nhưng xảy ra với 30% trẻ em.
 BIẾN CHỨNG
  • Viêm tai giữa cấp tính (AOM)
  •  Suy hô hấp và tử vong
  •  Nhiễm vi khuẩn thứ cấp thường xuyên xảy ra và thường nhất là do Streptococcus pneumoniae và Staphylococcus aureus. AOM thường kèm theo nhiễm cúm, xảy ra ở khoảng một phần ba trẻ nhỏ
  • Viêm phổi là một biến chứng quan trọng từ cúm và có thể dẫn đến nhập viện, suy hô hấp, và tử vong.
  • Bản thân virus tăng nhạy cảm với viêm phổi, điển hình1 tuần sau khi nhiễm cúm ban đầu. Viêm phổi xảy ra ở 22% bệnh nhân, Viêm phổi thứ phát kháng methicillin S. aureus ở trẻ em và thanh niên nhanh chóng tiến triển lâm sàng và tỷ lệ tử vong cao.
Biến chứng không hô hấp thứ phát
  • Viêm cơ cấp tính có thể theo cả hai nhiễm virut cúm A và B. Bệnh nhân bị ảnh hưởng hiện tại với đau cơ đôi khi dẫn đến tiêu cơ vân nặng, thiếu máu cục bộ và tổn thương thận cấp tính. Các biến chứng thần kinh của bệnh cúm thường gặp ở trẻ em hơn người lớn và bao gồm co giật do sốt, viêm tủy cắt ngang, bệnh não và hội chứng Guillain Barre.
  • Viêm cơ tim tối cấp do nhiễm cúm.
 Các yếu tố nguy cơ tiến triển nặng:
  • Trẻ em dưới 5 tuổi, đặc biệt là những người dưới 2 tuổi,
  • Bệnh nhân mắc bệnh phổi mãn tính bao gồm hen suyễn, bệnh tim mạch, thần kinh, bệnh hồng cầu hình liềm và các bệnh huyết sắc tố khác, ức chế miễn dịch, nhiễm HIV, béo phì, bệnh chuyển hóa bao gồm bệnh tiểu đường, người đang mang thai. Bệnh nhân đang điều trị lâu dài điều trị bằng aspirin sau khi bị bệnh Kawasaki hoặc bệnh tim bẩm sinh đã phẫu thuật, những người sau đó bị nhiễm cúm có nguy cơ mắc hội chứng Reye,
 CHẨN ĐOÁN
  • Phết dịch mũi họng và rửa hoặc hút mũi  
  • Xét nghiệm chẩn đoán cúm nhanh (RIDT) sử dụng phát hiện kháng nguyên và cung cấp kết quả sau 15 phút. RIDT hoạt động hiệu quả để chẩn đoán cúm vì hầu hết có độ đặc hiệu lớn hơn 97%.Tuy nhiên, hầu hết các RIDT có độ nhạy cảm 50% 70%, khiến việc loại trừ cúm trở nên khó khăn
  •  PCR phiên mã ngược (RT-PCR: Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán có thể cung cấp kết quả trong vòng vài giờ
 ĐIỀU TRỊ
            Hai loại thuốc chống siêu vi có sẵn để điều trị nhiễm cúm: thuốc ức chế neuraminidase (NAI) và amantadanes. NAI luôn có hiệu quả. Amantadanes, amantadine và rimantadine, hoạt động đặc biệt để ức chế sự nhân lên của cúm A và lan rộng đề kháng giữa cúm A H3N2 và H1N1 2009 các chủng virus đã được báo cáo. Cả amantadine và rimantadine đều không được khuyến cáo sử dụng điều trị hoặc dự phòng cúm. Hai NAI chấp thuận điều trị cho trẻ em là oseltamivir và zanamivir. Peramivir, một NAI khác, hiện đang chỉ được cấp phép sử dụng ở người lớn. Laninamivir là một NAI hiện vẫn đang được nghiên cứu ở Hoa Kỳ nhưng được chấp thuận để điều trị và dự phòng cúm ở Nhật Bản.
            Zanamivir dạng hít khó sử dụng, đặc biệt ở trẻ nhỏ. Nó được chấp thuận bởi FDA điều trị cúm ở bệnh nhân lớn tuổi 7 tuổi trở lên và điều trị dự phòng ở bệnh nhân từ 5 tuổi trở lên. Zanamivir có liên quan đến co thắt phế quản và không được khuyến cáo để sử dụng cho bệnh nhân có bệnh hô hấp như hen suyễn. Zanamivir tiêm tĩnh mạch, có thể được để điều trị bệnh nặng đặc biệt là những người bị suy giảm miễn dịch hoặc cho những người không thể uống oseltamivir.
            Điều trị bằng thuốc kháng vi-rút nên được cung cấp cho tất cả trẻ em nặng bệnh hô hấp do xác nhận hoặc nghi ngờ nhiễm cúm. Trẻ em có nguy cơ cao bị biến chứng cúm nên được điều trị khi xuất hiện bệnh giống cúm ở mọi mức độ nghiêm trọng.
Hiệu quả điều trị
            Có một số bằng chứng cho thấy điều trị bằng NAI, cụ thể là oseltamivir, có thể dẫn đến quá trình điều trị bệnh ngắn và cải thiện khả năng sống sót. Điều trị nên được bắt đầu ngay khi khởi phát triệu chứng, lý tưởng trong vòng 48 giờ.
            Điều trị cúm bằng oseltamivir có thể làm giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em bị bệnh nghiêm trọng với bệnh cúm
PHÒNG NGỪA SAU PHƠI NHIỄM: Oseltamivir và zanamivir cũng có hiệu quả khi được đưa ra như điều trị dự phòng và được bắt đầu lý tưởng trong vòng 48 giờ tiếp xúc. Điều trị dự phòng là đề nghị cho trẻ em:
  • Điều trị dự phòng không được khuyến cáo cho trẻ dưới 3 tháng tuổi.
  • Vắc-xin cúm được phát triển mỗi năm chứa hai vi-rút cúm A (H1N1 và H3N2) và một virut cúm B.
  • CDC khuyến cáo chỉ sử dụng vắc-xin cúm tiêm bắp (vắc-xin cúm bất hoạt hoặc IIV3 hoặc IIV4) hoặc vắc-xin cúm tái tổ hợp.
  • Hiệu quả của vắc-xin: Phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm tuổi của người nhận vắc-xin.
  • Vắc-xin cúm phòng ngừa bệnh do cúm và giảm mức độ nghiêm trọng của bệnh ở những người được tiêm chủng virut.  
  • Phụ nữ mang thai được chủng ngừa Cúm có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh em bé bằng một nửa, miễn nhiễm 4 tháng sau khi sinh [37].
 WHO khuyến cáo tiêm phòng cúm hàng năm cho các đối tượng sau:
  • Phụ nữ mang thai ở bất kỳ giai đoạn nào của thai kỳ
  • Trẻ em từ 6 tháng đến 5 tuổi
  • Người cao tuổi (trên 65 tuổi)
  • Người mắc bệnh mãn tính
  •  Nhân viên y tế.
Các biện pháp vệ sinh cá nhân cũng rất quan trọng trong phòng cúm như:
  • Rửa tay thường xuyên và lau khô tay đúng cách
  • Vệ sinh hô hấp tốt - che miệng và mũi khi ho hoặc hắt hơi, sử dụng khăn giấy đúng cách
  • Tự nguyện cách ly sớm những người cảm thấy mệt mỏi, sốt và có các triệu chứng cúm khác
  • Tránh tiếp xúc gần với người bệnh
  • Tránh chạm vào mắt, mũi hoặc miệng.
Tài liệu tham khảo:
1. Edward C. Hutchinson (2018) Influenza Virus https://doi.org/10.1016/j.tim.2018.05.013
2. Kondrich, J, & Rosenthal, M. (2017). Influenza in children. Current Opinion in Pediatrics, 29(3), 297–302. doi:10.1097/mop.0000000000000495. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pubmed/28346272
3 Maldonado YA, Zaoutis TE, Banerjee R, Barnett ED, Campbell JD, Gerber JS, Kourtis AP, Lynfield R, Munoz FM, Nolt D, Nyquist AC, O'Leary ST, Sawyer MH, Steinbach WJ, Tan TQ.(2018) Recommendations for Prevention and Control of Influenza in Children, 2018-2019. Pediatrics. Oct;142(4). pii: e20182367. doi: 10.1542/peds.2018-2367. Epub 2018 Sep
4. https://www.who.int/vietnam/vi/health-topics/influenza-(seasonal)

Tác giả bài viết: TS. BS TRẦN THÚY MINH-TK Khoa Nhi Tổng hợp
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Tin mới

BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN, Địa chỉ: 184 Trần Quý Cáp- Phường Tự An- TP Buôn Ma Thuột- tỉnh Đắk Lắk, Điện thoại nóng: 0262. 3919009 - 0262. 3852654
Điện thoại phòng KHTH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA LIỆU PHÁP OXY TRONG CHĂM SÓC CẤP TÍNH
Thông báo gửi Báo cáo ứng dụng kết quả nghiên cứu của các đề tài NCKH cấp cơ sở I- năm 2019
KỸ THUẬT CHỤP UIV
Tăng cường sức đề kháng cơ thể
HUYẾT TẮC STENT – NỖI ÁM ẢNH CỦA BÁC SĨ CAN THIỆP TIM MẠCH
NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI
Một cái nhìn bao quát về 2019-nCoV
CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG VÀ TIÊN ĐOÁN TRONG UNG THƯ VÚ DI CĂN
Bệnh viện Vùng Tây Nguyên tiếp nhân bệnh nhân vào viện với lý do khó thở, kèm ho khạc đờm trắng, kèm tiền sử hút thuốc lá.
PHÒNG TRÁNH nCoV- KHÔNG LƠ LÀ VỚI CÚM
HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM PHỔI CẤP DO CHỦNG VIRUS CORONA MỚI (nCoV)
Xử lý lâm sàng nhiễm trùng hô hấp cấp tính nặng ở bệnh nhân nghi ngờ nhiễm chủng mới virus Corona (2019-nCoV)
Phương pháp điều trị mới “Tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch cho người bệnh bị đột quỵ não cấp”
Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên thông báo là cơ sở trên địa bàn có khả năng thu dung và điều trị bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút CORONA (nCoV)
BIẾN CHỨNG TRONG GÂY TÊ VÙNG – GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU RỦI RO TRONG GÂY TÊ VÙNG
DS iDesk Khoa Phòng
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG HÔ HẤP CHO BỆNH NHÂN COPD
Thư khen cuối năm của bệnh nhân
HEN PHẾ QUẢN VÀ BỆNH TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN
Y HỌC CHỨNG CỨ VÀ XU HƯỚNG HIỆN ĐẠI TRONG XỬ TRÍ U XƠ CƠ TỬ CUNG

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 35
  • Khách viếng thăm: 33
  • Máy chủ tìm kiếm: 2
  • Hôm nay: 8556
  • Tháng hiện tại: 236348
  • Tổng lượt truy cập: 8529219
Cổng dịch vụ công quốc gia
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang