bvvtn

THEO DÕI BỆNH NHÂN Ở GIAI ĐOẠN HỒI TỈNH

Đăng lúc: Thứ tư - 10/03/2021 15:15 - Người đăng bài viết: admin
THEO DÕI BỆNH NHÂN Ở GIAI ĐOẠN HỒI TỈNH

THEO DÕI BỆNH NHÂN Ở GIAI ĐOẠN HỒI TỈNH

THEO DÕI BỆNH NHÂN Ở GIAI ĐOẠN HỒI TỈNH
  1. ĐẠI CƯƠNG
Trong thực hành gây mê hiện đại, bệnh nhân được theo dõi và chăm sóc kỹ, liên tục từ khi khởi mê trong suốt quá trình phẫu thuật đến khi chuyển vào phòng hồi sức sau mổ. Các biến chứng liên quan đến gây mê và phẫu thuật thường xảy ra tức thì ở giai đoạn sau mổ vì vậy cần có một đội ngũ nhân viên được huấn luyện và có kinh nghiệm để tiếp tục theo dõi trong giai đoạn hồi tỉnh. Tuy nhiên, các biến chứng của gây mê và phẫu thuật có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong những ngày đầu sau mổ.
Hầu hết các bệnh viện đều có phòng hồi sức sau mổ được bố trí gần phòng mổ. Nhân viên luôn sẵn sàng cho các phẫu thuật cấp cứu. Giai đoạn hồi tỉnh bắt đầu ngay sau khi bệnh nhân rời khỏi phòng mổ và được bác sĩ gây mê hồi sức theo dõi trực tiếp hoặc chịu trách nhiệm. Tất cả các biến chứng gây mê được liệt kê dưới đây có thể xảy ra bất cứ lúc nào kể cả lúc chuyển bệnh nhân từ phòng mổ đến phòng hồi tỉnh. Ở một số phòng mổ, thời gian vận chuyển này chỉ cần vài phút, tuy nhiên cũng cần theo dõi sát trong thời gian này. Như vậy, bệnh nhân phải được theo dõi mọi lúc cũng như tiếp tục điều chỉnh các rối loạn trong và sau mổ nếu có, bổ sung các xét nghiệm để phát hiện và điều chỉnh sớm các rối loạn.
  1. THEO DÕI SAU MỔ
    1. Hô hấp
      1. Các thông số theo dõi
  • Bệnh nhân đã được rút nội khí quản hay chưa.
  • Các thông số cần theo dõi: Tần số thở, biên độ hô hấp, độ bão hoà oxy (SpO2), màu sắc da, niêm mạc... 
  • Tiêu chuẩn cho phép rút nội khí quản: Nhiệt độ bình thường, hết tác dụng của thuốc giãn cơ, bệnh nhân tỉnh, gọi hỏi biết, làm được các động tác như nắm chặt tay, há mồm, thè lưỡi, hít sâu, phục hồi các phản xạ bảo vệ đường thở, nhấc đầu lên khỏi mặt giường và giữ trong vòng 10 giây… Sau rút nội khí quản bệnh nhân được cho thở oxy 2 - 4 lít/phút trong những giờ đầu. Riêng trẻ em, có thể rút nội khí quản khi trẻ còn ngủ sâu.
  • Trong một số trường hợp lưu nội khí quản các thông số cần theo dõi: tần số thở, độ di động của lồng ngực, SpO2, màu da, niêm mạc, áp lực đường thở...
    1. Các biến chứng
      1. Tắc nghẽn đường hô hấp
  • Nguyên nhân
  • Tắc nghẽn đường hô hấp do tụt lưỡi, do máu hay chất tiết ở hầu. 
  • Tắc nghẽn một phần đường hô hấp đặc trưng bởi thông khí ồn ào. Khi tắc nghẽn tăng lên, kéo khí quản và huy động các cơ hô hấp phụ, co rút hõm trên xương ức, khoảng liên sườn thì hít vào.
  • Tắc nghẽn hoàn toàn thì không nghe âm thở và chuyển động nghịch lý ngực bụng
  •  Xử trí:
  • Nhiều trường hợp chỉ cần cách kéo hàm ra trước và ngửa cổ tối đa mới làm thông đường hô hấp.
  • Đặt một canuyn miệng hầu, mặc dầu canuyn có thể kích thích phản xạ ho, trớ. 
  • Đôi khi cần đặt mask thanh quản cho đến khi bệnh nhân tỉnh hoàn toàn, hiếm khi phải đặt lại nội khí quản.
  • Máu và chất tiết trong miệng, dịch trào của dạ dày mà bị giữ lại trong hầu nên được hút và bệnh nhân được đặt tư thế hồi tỉnh bằng cách đặt bệnh nhân ở tư thế nằm nghiêng cho phép dẫn lưu tốt dịch trong hầu. Tư thế này nên áp dụng cho tất cả bệnh nhân mất ý thức, bệnh nhân được mổ tai - mũi - họng, phẫu thuật vùng miệng và cho bệnh nhân có nguy cơ hít dịch dạ dày.
  • Các dị vật như răng, đặc biệt răng gãy một phần hoặc các miếng gạc có thể gây tắc đường thở. 
  • Ở bệnh nhân có u ở miệng, hầu, thanh quản chưa tỉnh hẳn khó có thể giữ thông đường hô hấp. Tắc đường hô hấp trên xảy ra trong giai đoạn hồi tỉnh, ngưng thở khi ngủ hay xảy ra ở giai đoạn sau mổ và có thể dẫn đến giảm độ bão hoà oxy của hemoglobine trong máu động mạch (SaO2). Ngưng thở hay xảy ra nhất 4giờ sau gây mê, thường gặp và nặng ở bệnh nhân được dùng thuốc giảm đau họ morphine hơn là các kỹ thuật gây tê vùng. 
  • Tắc nghẽn đường hô hấp có thể xảy ra do khối máu tụ sau phẫu thuật ở vùng cổ như phẫu thuật tuyến giáp, vết thương vùng cổ. Xử trí nên được mổ cấp cứu để dẫn lưu khối máu tụ, cắt chỉ, khâu vết mổ.
  • Xẹp khí quản có thể xảy ra sau cắt tuyến giáp do khối bướu giáp lớn chèn làm xẹp các vòng sụn. Trên lâm sàng nghe tiếng rít thì thở vào và có thể tắt hoàn toàn thì thở vào. Xử trí: Đặt nội khí quản ngay lập tức nếu xẹp khí quản hoàn toàn.
    1. Co thắt thanh quản
  • Nguyên nhân
  • Biến chứng này tương đối hay gặp sau gây mê toàn thân, co thắt thanh quản có thể bán phần hay toàn phần và thường do kích thích trực tiếp dây thanh âm, kích thích sụn tiểu thiệt do đặt canuyn, do đặt mask thanh quản, do chất tiết hoặc do máu, có thể xảy ra sau khi rút nội khí quản ở bệnh nhân chưa tỉnh hoàn toàn, rất khó phân biệt với tắc nghẽn đường hô hấp trên. 
  • Nếu vẫn còn tắc nghẽn đường hô hấp trên sau khi làm các biện pháp trên thì nên soi thanh quản để tìm nguyên nhân.
  • Xử trí:
  • Hút và lấy bỏ tất cả các dị vật gây co thắt phế thanh quản  + Cho thở oxy 100%. 
  • Thông khí áp lực dương có thể làm đẩy oxy qua dây thanh để duy trì oxy máu động mạch cho đến khi co thắt giảm đi, nếu tắc nghẽn hoàn toàn. Nhưng có nguy cơ bơm oxy vào dạ dày. 
  • Cho Suxamethonium và thông khí phổi với oxy cho đến khi co thắt giảm bớt nếu xử trí như trên thất bại. 
  • Khi cung cấp oxy được tốt người ta khuyên nên đặt nội khí quản để giảm nguy cơ trào ngược dịch dạ dày.
    1. Phù thanh quản
  • Thỉnh thoảng xảy ra sau khi đặt nội khí quản và có thể dẫn đến tắc nghẽn nặng đặc biệt ở trẻ em.
  • Điều trị phụ thuộc vào mức độ tắc nghẽn. Nếu tắc nghẽn hoàn toàn đòi hỏi đặt nội khí quản ngay lập tức. Nếu tắc nghẽn một phần bệnh nhân được điều trị với khí ẩm nóng, dexamethasone có thể làm giảm phù.
    1. Co thắt phế quản
  • Là hậu quả của kích thích đường hô hấp do các vật hít vào và thường xảy ra ở bệnh nhân hen, bệnh nhân viêm phế quản và bệnh nhân hút thuốc lá. Có thể do hen nội sinh hoặc có thể là triệu chứng của phản ứng phản vệ, một số thuốc sử dụng trên lâm sàng có thể dẫn đến co thắt phế quản do tác dụng giải phóng histamine. Những thuốc này gồm barbiturate, d-Tubocurine, morphine, mivacurium, atracuronium...
  • Điều trị gồm loại bỏ các nguyên nhân gây co thắt quản, cung cấp oxy, dùng thuốc giãn phế quản.
    1. Ức chế trung tâm hô hấp
  • Nguyên nhân: Có  nhiều nguyên nhân ức chế trung tâm hô hấp trong giai đoạn hồi tỉnh:
  • Do còn tác dụng của các thuốc mê ức chế trung tâm hô hấp
  • Bệnh thần kinh có trước mổ
  • Tai biến mạch máu não trong và sau mổ
  • Hạ thân nhiệt
  • Tăng thông khí như đã nói ở trên. 
  • Bệnh não, khối u, chấn thương, chảy máu có thể ảnh hưởng đến trung tâm hô hấp sau mổ. Thông khí bị giảm khi giảm thân nhiệt mặc dầu nó phù hợp với nhu cầu chuyển hoá của cơ thể, giảm thông khí có thể xảy ra khi nhược thán thường sau giai đoạn tăng thông khí cho đến khi PaCO2 đạt đến giá trị bình thường và khi có kiềm chuyển hoá tiên phát. Nguyên nhân hay gặp nhất của ức chế trung tâm hô hấp trong giai đoạn hồi tỉnh là do tác dụng còn lại của các thuốc đã sử dụng trong mổ. Tất cả thuốc mê bốc hơi, thuốc mê dùng đường tĩnh mạch ngoại trừ ketamine đều ức chế trung tâm hô hấp. Tất cả các thuốc giảm đau họ morphine ức chế trung tâm hô hấp, mức độ ức chế phụ thuộc liều. Ở đa số bệnh nhân, thuốc họ morphine không gây ra ngưng thở nhưng dẫn đến chậm nhịp thở, gia tăng PaCO2 và bình ổn ở giá trị cao. Người già rất nhạy cảm với tác dụng ức chế trung tâm hô hấp của thuốc giảm đau họ morphine. Điều trị đau sau mổ bắt đầu ở khu hồi tỉnh thường dùng thuốc phiện đường tĩnh mạch phải theo dõi sát thông khí sau mỗi liều. Thuốc phiện dùng đường tuỷ sống hay ngoài màng cứng đặc biệt các thuốc ít tan trong lipid như morphine có thể gây ức chế hô hấp trong vài giờ sau khi dùng. Ở những bệnh nhân này nên lưu lại phòng hồi tỉnh hoặc đơn vị chăm sóc đặc biệt ít nhất 12 giờ sau liều morphine cuối hoặc ít nhất 3 giờ sau khi dùng fentanyl trừ khi nhân viên ở khu điều trị đã được đào tạo, huấn luyện để theo dõi. Theo dõi bao gồm nhịp thở, biên độ hô hấp, SpO2, tri giác... Ức chế trung tâm hô hấp chẩn đoán dễ nếu như tần số hay thể tích lưu thông giảm rõ. Tuy nhiên giảm thông khí mức độ nhẹ khó phát hiện và dấu hiệu tăng CO2 trung bình: tăng huyết áp, tăng nhịp tim có thể bị che lấp do tác dụng còn lại của thuốc gây mê hoặc nhầm với đau gây nên. Giảm thông khí mức độ nhẹ có thể chấp nhận được miễn là cung cấp oxy còn đủ. Điều này dễ dàng đạt được nếu như tăng nồng độ oxy hít vào. 
  • Xử trí: 
  • Nếu trung tâm hô hấp bị ức chế nhiều do thuốc phiện dẫn đến tăng PaCO2 hoặc chậm tỉnh có thể dùng naloxone từng liều nhỏ 1,5 - 3 mcg/kg (0,15mg/50 kg)  cho mỗi 2 - 3 phút cho đến khi cải thiện.
  • Nếu cho liều lớn của naloxone sẽ làm mất tác dụng giảm đau của thuốc phiện.
  • Liều cao có thể gây tăng huyết áp nặng và có thể gây ngừng tim  nhưng hiếm gặp.
  • Tác dụng của naloxone chỉ kéo dài 20 - 30 phút có thể cho liều lặp lại bằng 50 % liều ban đầu.
    1. Nguyên nhân ngoại biên gây giảm thông khí
  • Nguyên nhân
  • Yếu cơ hô hấp : Tác dụng còn lại của thuốc giãn cơ, bệnh thần kinh cơ trước mổ, rối loạn nước điện giải
  • Đau làm bệnh nhân không hít sâu
  • Bụng trướng
  • Mập
  • Mặc áo quần quá chật
  • Tràn khí, tràn máu màng phổi
  • Xử trí: 
  • Chủ yếu điều trị nguyên nhân
  • Thông khí nhân tạo nếu ứ thán nặng hoặc diễn tiến lâm sàng của bệnh nhân không thuận lợi.
    1. Thiếu Oxy máu
  • Giảm nồng độ oxy thở vào
  • Bất thường thông khí tưới máu
  • Shunt trong phổi
  • Giảm thông khí
  • Bất thường khuếch tán màng phế nang do phù phổi hay do suy chức năng thất trái
  • Tăng tiêu thụ oxy
  • Hạ oxy do khuếch tán khí (khi sử dụng protoxyte d’azote)
    1. Thay đổi ở phổi sau phẫu thuật bụng
  • Sau phẫu thuật bụng trên rốn hay phẫu thuật ngực, sự oxy hoá máu sau mổ bị ảnh hưởng. 
  • Nguyên nhân do giảm thể tích cặn chức năng, thể tích cặn chức năng có vai trò quan trọng trong việc trao đổi oxy trong thì thở ra và khi ngưng thở. 
  • Sau mổ thể tích cặn chức năng bị giảm do đau, co thắt cơ hô hấp, bụng trướng làm giảm sự di động của cơ hoành
    1. Phương pháp làm giảm các biến chứng phổi 
      1. Trước mổ
  • Các biện pháp để giảm các biến chứng phổi nên được thực hiện trước mổ.
  • Điều trị các nhiễm khuẩn đường hô hấp, nhiễm khuẩn răng, xoang.
  • Điều trị các rối loạn phổi mạn tính thường bằng lý liệu pháp.
  • Ngưng thuốc lá, giảm trọng lượng.
    1. Trong mổ
  • Không sử dụng các dụng cụ bị nhiễm khuẩn khi khởi mê
  • Khí mê nên được làm ẩm
  • Giải giãn cơ đủ sau mổ
    1.  Sau mổ
  • Giảm đau tốt để bệnh nhân thở sâu, ho tốt.
  • Tập lý liệu pháp.
    1. Hệ tim mạch
      1. Các thông số cần theo dõi
  • Đo huyết áp động mạch 
  • Đếm tần số mạch
  • Đo áp lực tĩnh mạch trung ương
  • Đo huyết áp động mạch xâm nhập nếu có
  • Đánh giá tình trạng da, niêm mạc
  • Đánh giá lượng nước tiểu
  • Tổng lượng dịch vào ra (bilan)
  • Theo dõi điện tim trên máy theo dõi
  • Làm các xét nghiệm: hồng cầu, hematocrite, hemoglobin.
    1. Các biến chứng
      1. Hạ huyết áp
  • Nguyên nhân:
  • Còn tác dụng giãn mạch của thuốc mê tĩnh mạch hay thuốc mê bốc hơi nhất là khi bệnh nhân hết kích thích của phẫu thuật và ít đau sau mổ,
  • Còn tác dụng phong bế thần kinh sau gây tê tuỷ sống hay ngoài màng cứng. 
  • Xử trí:
  • Nên loại trừ các nguyên nhân khác trước khi kết luận hạ huyết áp do còn tác dụng của thuốc mê.
  • Thường thì bệnh nhân dung nạp tốt  không cần điều trị với huyết áp 80 - 90 mmHg ngoại trừ bệnh nhân bị bệnh mạch vành hay bị bệnh tim mạch.
  • Nâng chân để tăng tuần hoàn trở về
  • Truyền 7 - 10ml/kg dịch keo thường điều chỉnh được hạ huyết áp, cần thận trọng ở bệnh nhân lớn tuổi và có bệnh tim mạch.
    1. Giảm thể tích tuần hoàn
  • Nguyên nhân
  • Bù dịch không đủ hay không thích hợp do mất dịch, máu trước và trong mổ.
  • Chảy máu sau mổ: Chảy máu sau mổ thường phát hiện dễ dàng qua thăm khám vết thương và ống dẫn lưu, nhưng có một số trường hợp rất khó như chảy máu trong ổ bụng, khoang sau phúc mạc, lồng ngực, tắc dẫn lưu. Cầm máu không kỹ khi phẫu thuật là nguyên nhân hay gặp nhất của chảy máu sau mổ, rối loạn đông máu do truyền máu khối lượng lớn, giảm độ tập trung, số lượng tiểu cầu, bệnh máu có từ trước, đông máu rải rác thành mạch, sử dụng thuốc chống đông.
  • Lâm sàng
  • Hạ huyết áp 
  • Các triệu chứng kèm theo da xanh, niêm mạc nhợt nhạt, giảm tưới máu ngoại vi, da lạnh, mạch nhanh nhỏ, các tĩnh mạch xẹp.
  • Áp lực tĩnh mạch trung ương giảm.
  • Điều trị
  • Điều trị theo nguyên nhân.
  • Nâng chân, bù dịch theo áp lực tĩnh mạch trung ương, thận trọng ở bệnh nhân lớn tuổi.
  • Bù các yếu tố đông máu, tiểu cầu nếu cần.
  • Mổ lại để cầm máu.
    1. Tăng huyết áp 
  • Nguyên nhân: Là biến chứng thường gặp của giai đoạn tức thì sau mổ do:
  • Đau
  • Có tăng huyết áp từ trước nếu kiểm soát chưa tốt
  • Thiếu oxy máu
  • Tăng CO2 máu
  • Dùng các thuốc co mạch
  • Thường do sự kết hợp tất cả các nguyên nhân trên. Tăng huyết áp có thể dẫn đến tăng công cơ tim, tăng tiêu thụ oxy, thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim.
  • Xử trí:  Nên tìm nguyên nhân và điều trị nếu có thể
  • Cho thở oxy
  • Sau khi xử trí các nguyên nhân trên mà vẫn tăng huyết áp có thể dùng các thuốc giãn mạch, các thuốc được dùng phổ biến hiện nay nifedipin, nicardipin, isradipin vì chúng chỉ làm giảm hậu gánh mà không thay đổi tiền gánh, tuy rằng mạch hơi nhanh nhưng có thể chấp nhận được. Cũng có thể dùng urapidil, thuốc ức chế beta1 dẫu rằng mạch hơi nhanh. Labetalol, esmolol có chỉ định khi tăng huyết áp ở bệnh nhân có bệnh mạch vành. 
Bảng liều lượng các thuốc điều trị tăng huyết áp
 
Thuốc Dùng một liều Duy trì Nhận xét
Nicardipin (Loxen) 0,5 - 2mg (5phút) Nếu cần           
 2 - 5mg/giờ
 
Nifedipin (Adalat) 1 nang (10mg) 1 nang (10mg) Dưới lưỡi hay qua mũi
Urapidil (Eupressyl) 25mg 60 - 180mg/giờ Giãn mạch hỗn hợp
Labetalol (Trandate) 0,5 - 1mg/kg
(trong 1 phút)
2 - 10mg/kg/ngày  
Esmolol (Breviloc) 500mcg/kg/phút
(trong 2 giờ)
200 – 300mcg/kg/phút  
Nitroprusside   0,5 – 2mcg/kg/phút (tác dụng mạnh nhưng mạch nhanh)
 
 
  1. Loạn nhịp tim
  • Nguyên nhân
  • Thường hay gặp trong mổ và giai đoạn ngay sau mổ.
  • Nên tìm nguyên nhân và đánh giá các ản hưởng của loạn nhịp lên huyết động.
  • Các nguyên nhân thường gặp là: Tăng CO2, thiếu oxy, đau, rối loạn nước điện giải, còn tác dụng của thuốc mê, kích thích thần kinh phế vị do còn ống nội khí quản hay do hút chất tiết, thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim. 
  • Các biểu hiện:
  • Nhịp nhanh xoang
  • Nhịp chậm xoang
  • Loạn nhịp trên thất
  • Loạn nhịp thất
  • Rối loạn dẫn truyền
  • Thiếu máu cơ tim
  • Nhồi máu cơ tim
    1. Theo dõi thần kinh 
  • Dùng thang điểm Glassgow để theo dõi
  • Nhiều bệnh nhân chưa tỉnh khi đến phòng hồi tỉnh do còn tác dụng của thuốc mê.
  • Thời gian cho đến khi bệnh nhân tỉnh táo hoàn toàn phụ thuộc vào:
  • Thuốc sử dụng: bệnh nhân chậm tỉnh nếu các thuốc sau đây được sử dụng: thuốc mê bốc hơi có chỉ số hoà tan khí máu cao, barbiturates, đặc biệt nếu dùng tổng liều lớn, benzodiazepine, thuốc phiện tác dụng dài như dùng liều lớn fentanyl.
  • Thời gian sử dụng thuốc: bệnh nhân hồi tỉnh chậm nếu dùng thuốc mê hay thuốc giảm đau có tác dụng kéo dài vào cuối cuộc mổ hoặc dùng các thuốc gây mê bốc hơi hoà tan nhiều đến cuối cuộc mổ.
  • Đau: đau làm tăng tốc độ phục hồi trạng thái thức tỉnh, sự phục hồi này có thể bị chậm sau một phẫu thuật nhỏ hoặc nếu giảm đau tác dụng mạnh như họ Morphin hoặc dùng phương pháp gây tê vùng.
  • Hạ glucose máu: thường xảy ra ở những bệnh nhân điều trị với thuốc hạ đường huyết dùng đường uống hoặc dùng insulin và cung cấp glucose không đủ.
  • Tăng đường máu: Tăng đường máu ở bệnh nhân đái tháo đường được chẩn đoán có thể xảy ra như là kết quả của cung cấp insulin không đủ hoặc là truyền glucose quá nhiều. Tuy nhiên, hôn mê ít xảy ra khi tăng đường máu cấp. 
  • Bệnh não:  Giai đoạn thiếu máu não trong phẫu thuật động mạch cảnh, hạ huyết áp kéo dài hoặc thiếu oxy trong quá trình gây mê. Chảy máu trong não, huyết khối, nhồi máu. Các nguyên nhân này có thể xảy ra ngẫu nhiên hoặc kết hợp với tăng huyết áp, loạn nhịp tim trong mổ.
  • Tổn thương não có từ trước: khối u, chấn thương, kỹ thuật gây mê làm tăng áp lực nội sọ làm ảnh hưởng chức năng của não.
  • Động kinh, co giật có thể bị che dấu khi gây mê hoặc dùng các thuốc giãn cơ. Thuốc tê lan lên não sau khi tiêm vào khoang dưới nhện. Có thể do tai biến khi gây tê ngoài màng cứng với biểu hiện mất ý thức kèm theo ngưng thở.  
  • Các nguyên nhân khác:
  • Thiếu oxy máu: nếu tình trạng huyết động ổn định, hôn mê chỉ xảy ra khi thiếu oxy máu nặng kéo dài.
  • Tăng CO2: Mất ý thức xảy ra khi PaCO2 vượt quá 9 - 10 kPa + Hạ huyết áp.
  • Hạ thân nhiệt
  • Rối loạn nước điện giải như trong trường hợp cắt tuyến tiền liệt qua nội soi.
  • Suy giáp, suy gan, suy thận.
  • Lú lẫn và kích thích: 
  • Điều này thỉnh thoảng xảy ra với một cuộc gây mê không quá phức tạp, thường xảy ra ở bệnh nhân lớn tuổi đặc biệt nếu dùng atropine. Atropine qua hàng rào máu não và gây hội chứng anticholinergic trung ương có đặc điểm: khó ngủ, lú lẫn cùng với tác dụng antimuscarinic rõ. Glycopyronium không qua hàng rào máu não và thích được dùng hơn atropine để đối kháng tác dụng muscarinic của neostigmine trong một thời gian dài.
  • Tất cả các yếu tố nêu trên được xem như là nguyên nhân của chậm tỉnh, có thể dẫn đến lú lẫn và kích thích sau mổ. Đau cũng là nguyên nhân gây kích thích sau mổ mặc dù hiếm khi chịu trách nhiệm một mình. Mê sảng hay xuất hiện khi sử dụng ketamine. Nhiễm khuẩn máu cũng có thể dẫn đến lú lẫn. Giãn bàng quan, giãn dạ dày cũng là nguyên nhân. Ở bệnh nhân tiền mê nhẹ, bệnh nhân tỉnh sau gây mê khi hết tác dụng của thuốc mê nhưng còn tác dụng của thuốc giãn cơ hay khi dùng giải giãn cơ không đủ.
    1. Theo dõi suy gan, thận sau mổ
    2. Các biến chứng mạch máu : Viêm tắc tĩnh mạch sâu, viêm tĩnh mạch chỗ tiêm truyền. 
    3. Các biến chứng khác
  • Nôn buồn nôn sau mổ, đau đầu đặc biệt sau gây tê tuỷ sống, đau họng sau đặt nội khí quản, gãy răng, giập môi, tổn thương ở mắt.
  • Điều chỉnh thăng bằng nước điện giải sau mổ.
  • Điều chỉnh thăng bằng kiềm toan.
  1. CÁC VẤN ĐỀ CẦN THEO DÕI VÀ ĐIỀU TRỊ TÍCH CỰC
    1. Oxy liệu pháp
  • Ở giai đoạn sau mổ thiếu oxy hay gặp do những thay đổi hô hấp xảy ra khi gây mê, do còn tác dụng của thuốc mê, do đau bệnh nhân thở yếu, do run lạnh làm tăng tiêu thụ oxy. Cung cấp oxy làm giảm tần số và mức độ nặng của giảm oxy sau mổ, giảm các biến chứng tim mạch, thần kinh, giảm buồn nôn, nôn và tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ. Vì vậy người ta khuyến cáo sử dụng oxy sau một cách hệ thống.
  • Có ba cách cho thở oxy chính: 
  • Dùng mặt nạ cho bệnh nhân chưa tỉnh hoặc bệnh nhân chỉ thở bằng miệng.
  • Dùng xông mũi hay xong mũi hai nòng cho những bệnh nhân khác vì bệnh nhân dễ chịu, có thể nói chuyện được.
  • Liều lượng cần 3 - 10 lít/phút.
    1. Giảm đau sau mổ
  • Dự phòng và điều trị đau sau mổ là một vấn đề lớn trong chăm sóc sau mổ.
  • Nhiều kỹ thuật có thể áp dụng tuỳ theo mức độ đau đánh giá được mà có thể áp dụng riêng lẻ hay phối hợp các kỹ thuật.
  • Cần nhớ rằng thuốc giảm đau nên được cho theo giờ không đợi đến lúc xuất hiện cảm giác đau mới tiêm.
  • Đánh giá mức độ đau là dựa vào lâm sàng, dùng thang điểm đánh giá EVA (Echelle visuelle analogique) hoặc đánh giá định tính (đau ít, đau vừa, đau nhiều, đau không chịu nổi).
  • Các thuốc có thể dùng hiện nay:
  • Paracetamol: Perfalgan 1g, dùng liều 15mg/kg/6 giờ không dùng quá 6g/ngày.
  • Prodafalgan là tiền chất của paracetamol sau khi tiêm 1g prodafalgan sẽ bị thuỷ phân trong huyết tương cho 0,5g paracetamol.
  • Diclofenac (Voltaren75mg) liều lượng 3mg/kg/ngày.
  • Morphine được sử dụng sau các phẫu thuật mà mức độ đau nhiều hoặc vẫn còn đau nhiều sau khi dùng các thuốc giảm đau như trên. 
  • Bậc thang dùng thuốc giảm đau của Tổ chức Y tế Thế giới
  • Bậc I:  Không thuộc nhóm thuốc phiện: Aspirine, paracetamol.
  • Bậc IIa: Thuốc phiện tác dụng yếu: Codeine (Dafalgan codeine), dextropropoxyphen ( Diantalvic).
  • Bậc IIb: Thuốc phiện tác dụng trung bình: Temgésic, Nubain, Topalgic, Contramal.
  • Bậc IIIa: Thuốc phiện tác dụng mạnh: Đường uống morphine, đường qua da fetanyl.
  • Bậc IIIb: Thuốc phiện mạnh dạng tiêm: Morphine.
    1. Truyền dịch sau mổ và nuôi dưỡng bệnh nhân: Đặc biệt các phẫu thuật mà bệnh nhân nhịn ăn, uống trong nhiều ngày. Đánh giá bilan dịch vào ra
    2. Điều hoà thân nhiệt.
    3. Làm các xét nghiệm bổ sung.
    4. Phát hiện và điều trị nhiễm khuẩn sau mổ.
    5. Lý liệu pháp: Xoa bóp tay chân, tập thở, cho bệnh nhân thay đổi tư thế
 
 
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Chăm sóc bệnh nhân sau mổ” tài liệu Gây mê hồi sức cơ bản . ĐHYD TP.HCM, N.X.B.Y.H.
  2. Bài giảng “Chăm sóc tại phòng hồi tỉnh”: bộ môn Gây Mê Hồi Sức đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch
  3. Clinical Anesthesia Procedures of the Massachusetts General Hospital Ninth Edition

Tác giả bài viết: BSCKI : Lương Ngọc Xuân – Khoa : PT. GMHS
Từ khóa:

theo dõi, giai đoạn

Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Tin mới

Số ĐT đặt lịch khám bệnh
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN, Địa chỉ: 184 Trần Quý Cáp- Phường Tự An- TP Buôn Ma Thuột- tỉnh Đắk Lắk, Điện thoại nóng: 0262. 3919009 - 0262. 3852654
Điện thoại phòng KHTH
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN TỔ CHỨC TẬP HUẤN CẬP NHẬT HƯỚNG DẪN PHÒNG, KIỂM SOÁT LÂY NHIỄM VÀ CHĂM SÓC NGƯỜI NHIỄM HOẶC NGHI NHIỄM SARS-COV-2
CỨU SỐNG BỆNH NHÂN THỦNG TIM, XUYÊN THẤU PHỔI DO DAO ĐÂM
SỬ DỤNG DỊCH TRUYỀN TRONG SỐC NHIỄM TRÙNG
Thông báo mời thầu mời thầu Gói thầu: Mua thuốc Vị thuốc cổ truyền năm 2021 thuộc danh mục thuốc cấp cơ sở, Dự án: Mua thuốc phục vụ khám, chữa bệnh của Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên
Lịch họp thường niên 2021
CÁC ÁP XE QUANH HỌNG
VIÊM MÀNG NÃO MỦ
ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA THAI NGOÀI TỬ CUNG
BỆNH LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG (Systemic lupus erythematosus)
TẬP ĐỨNG THĂNG BẰNG TĨNH VÀ ĐỘNG
Bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026
DANH MỤC TÀI LIỆU VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XV VÀ ĐẠI BIỂU HĐND CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2021-2026
HẠN CHẾ SỬ DỤNG RƯỢU BIA ĐỂ BẢO VỆ SỨC KHỎE
VAI TRÒ CỦA VACCINE TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19
THEO DÕI BỆNH NHÂN Ở GIAI ĐOẠN HỒI TỈNH
CÁC LOẠI VACCINE NGỪA COVID-19 HIỆN NAY
UNG THƯ VÒM HỌNG – BẠN NÊN BIÉT
TÌM HIỂU VỀ VACCINE CORONA VIRUS
Triển vọng chấm dứt đại dịch COVID-19
VAI TRÒ CỦA DỊCH TRUYỀN ALBUMIN TRÊN BỆNH NHÂN HỒI SỨC

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 29
  • Hôm nay: 15045
  • Tháng hiện tại: 125729
  • Tổng lượt truy cập: 13511893
Cổng dịch vụ công quốc gia
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang