VẤN ĐỀ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TĂNG SINH LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT

Đăng lúc: Thứ ba - 08/08/2017 06:07 - Người đăng bài viết: admin
VẤN ĐỀ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TĂNG SINH LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT

VẤN ĐỀ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TĂNG SINH LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT

Tăng Sinh Lành tính Tuyến Tiền Liệt ( TSLTTTL ) là bệnh phổ biến ở người lớn tuổi, thương xuất hiện ở tuổi 40 và tỉ lệ tăng nhanh theo tuổi để đạt tỉ lệ khoảng 90% ở những người trên 80 tuổi.
 
 
Sơ đồ minh họa tuyến tiền liệt bình thường (trái) và tăng sinh tuyến tiền liệt lành tính (bên phải).
 
NGUYÊN NHÂN:
Nguyên nhân của TSLTTTL chưa được hiểu rõ. Không có thông tin rõ ràng về các yếu tố nguy cơ tồn tại. Trong nhiều thế kỷ, TSLTTTL được biết rằng  xảy ra chủ yếu ở nam giới lớn tuổi và không phát triển ở nam giới bị gỡ bỏ tinh hoàn trước tuổi dậy thì. Vì lý do này, một số nhà nghiên cứu tin rằng các yếu tố liên quan đến quá trình lão hóa và tinh hoàn có thể thúc đẩy sự phát triển của TSLTTTL.
Ở nam giới, hai loại hormone được sản xuất là testosterone, và một lượng nhỏ estrogen, hormone nữ. Khi đàn ông có tuổi, lượng testosterone hoạt động trong máu giảm, để lại một tỷ lệ cao hơn của estrogen. Các nghiên cứu thực hiện trên động vật đã gợi ý rằng TSLTTTL có thể xảy ra bởi vì tỉ lệ cao hơn của estrogen trong tuyến làm tăng hoạt động của các chất thúc đẩy sự phát triển của tế bào.
Một giả thuyết khác tập trung vào dihydrotestosterone (DHT), một chất có nguồn gốc từ testosterone trong tuyến tiền liệt, có thể giúp kiểm soát sự tăng trưởng của nó. Hầu hết các động vật bị mất khả năng sản xuất DHT khi có tuổi. Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng ngay cả khi giảm tỷ lệ testosterone trong máu, những người lớn tuổi tiếp tục sản xuất và tích lũy ở mức cao của DHT trong tuyến tiền liệt. Tích lũy của DHT có thể kích thích sự tăng trưởng của tế bào. Các nhà khoa học cũng lưu ý rằng những người không sản xuất DHT không TSLTTTL.
CÁC DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG:
TSLTTTL có thể có các triệu chứng bài tiết kích thích và tắc nghẽn.
Các triệu chứng tắc nghẽn bao gồm giảm áp lực và khẩu kính dòng nước tiểu, dòng nước tiểu ngắt quãng, và lưỡng lự đi tiểu.
Các triệu chứng kích thích có thể là hậu qủả của rối loạn chức năng bàng quang, bao gồm đi tiểu thường xuyên, tiểu đềm và tiểu gấp.
Thăm trực tràng bằng tay có thể phát hiện sự phì đại cục bộ hoặc đồng nhất của tuyến. Vùng cứng cục bộ có thể chỉ ra tình trạng ác tính hơn là sự tăng sinh lành tính của tuyến và sự đánh giá sâu hơn (siêu âm qua trực tràng và có thể là sinh thiết) được chỉ định ở những bệnh nhân này.
 Nên thăm khám bụng dưới để đánh giá mật độ bàng quang căng ứ nước tiểu có thể xảy ra khi không có các triệu chứng.
CÁC DẤU HIỆU CẬN LÂM SÀNG
Siêu Âm : đặc biệt là siêu âm có đầu dò đặt trong trực tràng cho thấy những hình ảnh rõ và đáng tin cậy của TTL : Bướu phát triển ở thùy nào và lượng nước tiểu tồn lưu nhiều hay ít.
Xét Nghiệm máu : Urê và creatinin huyết thanh có thể tăng ở những bệnh nhân có thể tích còn lại sau tiểu tiện cao và giảm chức năng thận. Đánh giá kháng nguyên đặc hiệu TTL (PSA) để làm tăng độ nhạy của việc xác định ung thư tuyến mặc dù PSA có tăng trong TSLTTTL.
Soi Bàng Quang Niệu Đạo: là thủ thuật gây chảy máu và nên được tiến hành khi chẩn đoán chưa chắc chắn và đôi khi là ở những bệnh nhân đang được đánh giá để áp dụng cách điều trị mới. Khi phẫu thuật cắt TTL được chỉ định thì nên tiến hành soi bàng quang niệu đạo ngay trước khi làm phẫu thuật.

 
ĐIỀU TRỊ:
Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng điều trị sớm có thể không cần thiết bởi vì các triệu chứng của TSLTTTL rõ ràng mà không cần điều trị ở các trường hợp nhẹ. Thay vì điều trị ngay lập tức, ta cần kiểm tra thường xuyên để xem xét các vấn đề sớm. Nếu TSLTTTL bắt đầu gây nguy hiểm cho sức khỏe của bệnh nhân hoặc gây ra một bất tiện lớn đối với họ, điều trị thường được khuyến cáo.
Các loại điều trị được sử dụng phổ biến nhất cho TSLTTTL dựa trên số điểm IPSS:
Bảng thang điểm quốc tế  IPSS (International Prostate Symptom Score).
Trong hơn một tháng nay
1. Tiểu đêm nhiều nhất bao nhiêu lần? 0 1 2 3 4 5
2 –Tiểu không hết 0 1 2 3 4 5
3 –Tiểu lắt nhắt, mỗi lần tiểu cách nhau không quá 2 giờ 0 1 2 3 4 5
4. Tiểu ngắt quãng 0 1 2 3 4 5
5. Tiểu gấp (tiểu són). 0 1 2 3 4 5
6. Tiểu tia yếu 0 1 2 3 4 5
7. Tiểu khó (phải rặn) 0 1 2 3 4 5
 
0-Không gì cả
1-Ít hơn 1 lần trong 5
2-Ít hơn một nửa thời gian
3-Khoảng một nửa thời gian
4-Hơn một nửa thời gian
5-Hầu như luôn luôn
Tổng số điểm: 0-35
0-7: thấp => theo dõi.
8-19: trung bình;
20-35: nặng => điều trị nội khoa. Điều trị ngoại khoa khi cần thiết.
Điều trị bằng thuốc:
Trong những năm qua, các nhà nghiên cứu đã cố gắng tìm cách để  ngăn chặn sự phát triển của TTL mà không cần sử dụng phẫu thuật. FDA đã phê duyệt sáu loại thuốc để giảm triệu chứng và ngăn cản sự phát triển của TTL.
Finasteride (Proscar), FDA chấp thuận vào năm 1992, và dutasteride (Avodart), FDA chấp thuận vào năm 2001, ức chế sự sản xuất hormone DHT.
Thuốc Terazosin (Hytrin) vào năm 1993, doxazosin (Cardura) vào năm 1995, tamsulosin (Flomax) vào năm 1997, và alfuzosin (Uroxatral) trong năm 2003 để điều trị bệnh TSLTTTL. Tất cả bốn loại thuốc này hoạt động bằng cách làm giãn các cơ trơn của tuyến tiền liệt và cổ bàng quang để cải thiện dòng nước tiểu và làm giảm tắc nghẽn.
Điều trị xâm lấn tối thiểu:
Bởi vì thuốc điều trị không hiệu quả trong mọi trường hợp, các nhà nghiên cứu trong những năm gần đây đã phát triển một số thủ tục làm giảm triệu chứng nhưng ít xâm lấn hơn phẫu thuật thông thường.
Năm 1996, FDA đã phê chuẩn một thiết bị TUMT transurethral để làm nóng và phá hủy mô TTL quá mức.
Phương pháp này khoảng 1 giờ và có thể được thực hiện trên bệnh nhân ngoại trú mà không cần gây mê toàn thân.
Sử dụng nước nóng để tiêu diệt tế bào dư thừa trong TTL. Một ống thông có chứa nhiều trục được trong niệu đạo để một quả bóng điều trị nằm ở giữa TTL. Một máy tính điều khiển nhiệt độ của nước chảy trong bong bóng và làm nóng các mô xung quanh TTL. Hệ thống tập trung sức nóng trong một khu vực chính xác của TTL. Các mô xung quanh niệu đạo và bàng quang được bảo vệ. Mô bị phá hủy được thải ra ngoài với nước tiểu qua niệu đạo hoặc được tái hấp thu của cơ thể.
Siêu âm tập trung cường độ cao. Việc sử dụng sóng siêu âm để phá hủy mô TTL vẫn còn trải qua thử nghiệm lâm sàng ở Hoa Kỳ. FDA đã không thông qua siêu âm cường độ cao.
Phẫu thuật điều trị :
Loại bỏ bướu TSLTTTL như là một giải pháp dài hạn tốt nhất cho bệnh nhân. Với phẫu thuật TTL, chỉ có các mô mở rộng  ép niệu đạo được lấy ra, phần còn lại của các mô bên trong và vỏ bao bên ngoài còn nguyên vẹn. Phẫu thuật thường làm giảm sự tắc nghẽn và làm rỗng bàng quang.
Cắt đốt nội soi: Cắt đốt nội soi TTL là phương pháp khoét bỏ khối u tăng sinh TLT bằng máy cắt nội soi qua ngả niệu đạo.


 
Mổ mở: Ta thường mổ mở khi TTL tăng sinh nhiều, bàng quang bị tổn thương,  suy thận. Các vị trí của bướu và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân sẽ quyết định có mổ mở hay không.
Tóm lại: đối với việc điều trị ưu tiên điều trị nội khoa, chỉ điều trị ngoại khoa khi có biến chứng hoặc khi nội khoa thất bại.
Tác giả bài viết: BS Nguyễn Toàn Hưng – khoa ĐTTYC
Nguồn tin: vi.wikipedia.org; Bệnh Học Niệu khoa - GS,BS Trần văn Sáng ;Niệu Học Lâm Sàng - TS,BS Vũ Lê Chuyên
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Tin mới

Điện thoại nóng
Sử dụng nước súc miệng thường xuyên có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường
CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ LÍ NHỮNG BỆNH GAN THƯỜNG GẶP Ở THAI PHỤ BA THÁNG CUỐI.
PHÁT HIỆN VÀ ĐIỀU TRỊ NHỒI MÁU CƠ TIM SAU MỔ
MÒN CỔ RĂNG – NGUYÊN NHÂN, CÁCH ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG NGỪA.
Mối quan hệ giữa bệnh loãng xương và gãy xẹp cột sống
Kháng sinh Vancomycin và hội chứng người đỏ
KHÁM THAI
Hướng dẫn chăm sóc bàn chân ở người bệnh đái tháo đường
TÓM TẮT CẬP NHẬT ĐIỀU TRỊ SUY TIM MẠN
CỨU SỐNG BỆNH NHÂN SUY HÔ HẤP NGUY KỊCH
BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP NHIỄM TRÙNG HẬU SẢN NẶNG DO SANH THƯỜNG TẠI NHÀ
TỔ CHỨC LỚP TẬP HUẤN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG – AN TOÀN NGƯỜI BỆNH VÀ TRIỂN KHAI NGÀY HỘI 5S TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH ĐẮK LẮK
KHÁM TIỀN MÊ - CHUẨN BỊ BỆNH NHÂN TRƯỚC MỔ
Những lưu ý đặc biệt khi sử dùng thuốc đái tháo đường
CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁM SÁT NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN
Ba điều cần làm để phòng ngừa thoái hóa khớp gối
Phát hiện sớm Dị dạng hậu môn trực tràng
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP VIÊM MÀNG NÃO MỦ DO LIÊN CẦU LỢN (STREPTOCOCCUS SUIS)
Kết quả kiểm tra chất lượng bệnh viện 6 tháng đầu năm 2017
BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP NHIỄM TRÙNG HẬU SẢN NẶNG DO SANH THƯỜNG TẠI NHÀ

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 30
  • Khách viếng thăm: 28
  • Máy chủ tìm kiếm: 2
  • Hôm nay: 4077
  • Tháng hiện tại: 67252
  • Tổng lượt truy cập: 3245639
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang