bvvtn

VẤN ĐỀ CHẨN ĐOÁN VÀ TẦM SOÁT UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT

Đăng lúc: Thứ năm - 03/10/2019 17:19 - Người đăng bài viết: admin
VẤN ĐỀ CHẨN ĐOÁN VÀ TẦM SOÁT UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT

VẤN ĐỀ CHẨN ĐOÁN VÀ TẦM SOÁT UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT

Ung thư tuyến tiền liệt (UTTTL) là vấn đề sức khỏe quan trọng trên phạm vi toàn cầu vì xuất độ và tử suất cao, chất lượng sống của bệnh nhân bị sút giảm và gánh nặng chi phí điều trị chăm sóc nhiều.
ĐẠI CƯƠNG:
Ung thư tuyến tiền liệt (UTTTL) là vấn đề sức khỏe quan trọng trên phạm vi toàn cầu vì xuất độ và tử suất cao, chất lượng sống của bệnh nhân bị sút giảm và gánh nặng chi phí điều trị chăm sóc nhiều. Đây là bệnh lý ác tính thường gặp ở nam giới cao tuổi với đỉnh cao xuất độ và tử vong trong khoảng 70 tuổi nhưng do diễn tiến chậm và liên tục với nhiều mức độ ác tính khác nhau nên bệnh có tầm ảnh hưởng đến khoảng tuổi rộng hơn.
Tại Việt Nam, bệnh thường gặp hàng thứ 10 trong các ung thư ở hai giới cũng như riêng cho giới nam với 1.275 trường hợp mắc mới và 872 trường hợp tử vong ước tính mỗi năm trên cả nước. Nhìn chung, Việt Nam cũng như các nước châu Á có xuất độ UTTTL thấp so với các khu vực có xuất độ trung bình như Nam Âu, Mỹ Latinh và xuất độ cao như Úc, Bắc Mỹ, Bắc Âu.
Nguyên nhân bệnh UTTTL chưa được xác định rõ. Các nghiên cứu không xác lập được sự liên hệ với thói quen hút thuốc lá và uống rượu bia. Các yếu tố dinh dưỡng như ăn nhiều thịt, chất béo không liên quan rõ rệt đến UTTTL. Vai trò phòng ngừa của các acid béo có thành phần omega 3 cũng không được minh chứng rõ ràng. Sự liên quan đến các yếu tố chuyển hóa, nội tiết... không được khẳng định qua nhiều nghiên cứu khác nhau. Cho đến hiện nay người ta vẫn chưa tìm thấy các gen có ý nghĩa sinh ung thư dù nhiều quan sát lâm sàng ghi nhận có vai trò của yếu tố gia đình trong UTTTL, tuy nhiên đây là hướng nghiên cứu đang được tập trung chú ý.
Với sự gia tăng đều đặn tuổi thọ bình quân của dân số nước ta, bệnh UTTTL đang dần trở thành một gánh nặng cho sức khỏe cho cộng đồng cũng như một thách thức cho những người làm công tác chăm sóc sức khỏe thuộc nhiều lĩnh vực chuyên khoa khác nhau. Sự phối hợp liên chuyên khoa, liên ngành là điều cần thiết để đem lại hiệu quả tốt nhất trong điều trị và chăm sóc bệnh nhân UTTTL.
Phát hiện sớm và tầm soát ung thư tuyến tiền liệt
Tầm soát là thực hiện các xét nghiệm và khám ở cộng đồng người có nguy cơ nhưng không có triệu chứng. Trong khi đó, phát hiện sớm ung thư là thực hiện trên từng cá nhân đơn lẻ. Tuy cả hai đều có chung mục đích là phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm và làm giảm tỉ lệ tử vong, nhưng vì tầm soát ung thư được thực hiện trên một quần thể đông nên rất tốn kém. Vì vậy, tùy điều kiện kinh tế của quốc gia mà một số các xét nghiệm có thể bỏ qua cho một số đối tượng nào đó, và chấp nhận có khả năng bỏ sót một số trường hợp nhất định.
Những bất lợi trong việc tầm soát ung thư tuyến tiền liệt: Chẩn đoán quá mức  Sai lệch về tần suất sống còn, Ích lợi trong việc giảm tỉ lệ tử vong chưa rõ ràng, Sự sai lệch của các xét nghiệm và kết quả thăm khám để chẩn đoán, Chi phí thực hiện chương trình tầm soát quá cao
Tầm soát ung thư tuyến tiền liệt:
Qua những phân tích cũng như các nghiên cứu, người ta đã đưa đến thống nhất là việc tầm soát UTTTL trên diện rộng hiện nay là không cần thiết. Thay vào đó việc phát hiện sớm cần được đặt ra ở những nam giới có đầy đủ thông tin cần thiết.
Với ý nghĩa phát hiện sớm UTTTL, người ta khuyến cáo:
  • Xác định PSA ban đầu ở tuổi 40, dựa vào đó để đánh giá về sau.
  • Một khoảng thời gian sàng lọc 8 năm có thể đủ ở nam giới với PSA ban đầu mức < 1 ng/mL.
  • Không khuyến cáo làm xét nghiệm PSA ở nam giới trên 75 tuổi vì phát hiện sớm ở đối tượng này sẽ không có ý nghĩa lâm sàng.
Tại Việt Nam nên tiến hành khám và xét nghiệm ở bệnh nhân hơn 50 tuổi, một độ tuổi có suất độ cao, chủ yếu là thăm khám trực tràng và làm xét nghiệm PSA toàn phần. Chỉ định sinh thiết tuyến tiền liệt khi phát hiện có nhân cứng, còn khi PSA lớn hơn 4ng/ml thì giải thích ích lợi và nguy cơ khi làm xét nghiệm. Không làm tầm soát ung thư mà là phát hiện sớm ung thư, tức là chỉ thực hiện trên từng cá thể riêng biệt chứ không tiến hành hàng loạt. Các xét nghiệm PSA tự do cũng rất đắt tiền, nên trong chương trình tầm soát cũng không nên thực hiện.
Chẩn đoán ung thư tuyến tiền liệt:
Chẩn đoán xác định UTTTL dựa vào sự khẳng định của giải phẫu bệnh các mẫu bệnh phẩm từ sinh thiết hoặc phẫu thuật.
Để chẩn đoán, về mặt lâm sàng cần thực hiện thăm khám tuyến tiền liệt qua trực tràng, xác định nồng độ PSA huyết thanh và siêu âm qua trực tràng.
Khám trực tràng thấy bất thường hoặc PSA tăng cao có thể biểu thị UTTTL. Giá trị PSA bình thường vẫn chưa được xác định, nhưng giá trị nhỏ hơn 4ng/ml thường được xem là bình thường những nam giới trẻ tuổi.
Thăm khám tuyến tiền liệt qua trực tràng:
Hầu hết các UTTTL xuất hiện ở vùng ngoại vi của tuyến tiền liệt và có thể được phát hiện qua thăm khám trực tràng khi thể tích khoảng 0,2 mL hoặc lớn hơn.
Khám trực tràng thấy nghi ngờ là một chỉ định tuyệt đối sinh thiết tuyến tiền liệt và là một dự báo khả năng ung thư (với điểm Gleason> 7) tuyến tiền liệt rất cao.
Xét nghiệm kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA):
  • Kháng nguyên đặc hiệu tuyến tiền liệt (PSA): Sự phát hiện PSA đã mang lại một cuộc cách mạng trong chẩn đoán UTTTL. Nồng độ PSA được xem như là một biến độc lập và là một yếu tố dự báo UTTTL chính xác hơn so thăm khám trực tràng và siêu âm qua đường trực tràng. Tuy nhiên, nồng độ PSA có thể tăng trong trường hợp tăng sinh lành tính tuyến tiền liệt, viêm tuyến tiền liệt và một số bệnh lý không ác tính khác.
Hiện nay nồng độ PSA để chẩn đoán UTTTL vẫn đang còn được bàn cãi. Tuy nhiên người ta thấy rằng nồng độ PSA càng cao, thì khả năng tồn tại UTTTL càng lớn. Bảng dưới đây cho tỷ lệ UTTTL liên quan đến PSA huyết thanh ở 2.950 nam giới có giá trị PSA < 4 ng/ml.
Nguy cơ ung thư tuyến tiền liệt liên quan đến giá trị PSA thấp
Nồng độ PSA (ng/mL) Nguy cơ ung thư TTL Nguy cơ Gleason ≥ 7 ung thư TTL
0–0,5 6,6% 0,8%
0,6–1 10,1% 1,0%
1,1–2 17,0% 2,0%
2,1–3 23,9% 4,6%
3,1–4 26,9% 6,7%


Bảng trên thể hiện rõ ràng sự xuất hiện của UTTTL ngay cả ở mức PSA rất thấp. Sử dụng toán đồ có thể giúp giảm số lượng sinh thiết tuyến tiền liệt không cần thiết. Một số nghiên cứu ở Việt nam cũng cho rằng ngưỡng bình thường PSA của nam giới là ≤ 4 ng/ml.
  • Tỉ lệ PSA tự do/toàn phần(f/t–PSA): Tỉ lệ PSA tự do/toàn phần là thông số được sử dụng rộng rãi trong lâm sàng để phân biệt giữa tăng sinh lành tính và UTTTL. Tỉ lệ này được sử dụng trong trường hợp nồng độ PSA từ 4 đến 10 ng/mL và thăm khám trực tràng không có dấu hiệu nghi ngờ UTTTL. Trên lâm sàng, phần lớn các tác giả nghi ngờ UTTTL khi tỉ lệ f/t–PSA<20%.
  • Cách tính khác liên quan đến PSA: Nhằm mục đích tăng độ nhạy và độ chuyên biệt của xét nghiệm PSA, một số tác giả đã đề nghị làm thêm các xét nghiệm chuyên sâu như đo vận tốc PSA, thời gian tăng gấp đôi PSA, tỉ trọng PSA, tỉ lệ PSA tự do, PSA theo tuổi...
Siêu âm qua trực tràng: Không phải lúc nào cũng có thể thấy được hình ảnh kinh điển của một vùng giảm âm ở ngoại vi của tuyến tiền liệt qua siêu âm. Siêu âm qua trực tràng không thể phát hiện vùng UTTTL với độ tin cậy đầy đủ. Do đó, sinh thiết các vùng nghi ngờ không thể sử dụng như là một phương pháp thường quy để chẩn đoán. Tuy nhiên, có thể có ích khi sinh thiết thêm các khu vực nghi ngờ.
Sinh thiết tuyến tiền liệt:
  • Sinh thiết cơ bản
Chỉ định sinh thiết tuyến tiền liệt dựa trên cơ sở nồng độ PSA và/hoặc có nghi ngờ khi thăm khám trực tràng. Cũng cần phải xem xét đến các yếu tố tuổi, bệnh kèm theo và hậu quả điều trị. Việc phân tầng nguy cơ là một công cụ quan trọng để giảm sinh thiết tuyến tiền liệt không cần thiết.
Hiện nay sinh thiết tuyến tiền liệt dưới hướng dẫn của siêu âm (có thể qua trực tràng hoặc qua đáy chậu) được xem là tiêu chuẩn. Tỷ lệ phát hiện UTTTL dựa vào sinh thiết qua đáy chậu và qua trực tràng là ngang nhau. Tuy nhiên sinh thiết qua trực tràng là phương pháp được đề nghị trong hầu hết các trường hợp nghi ngờ UTTTL
Cần gây tê bằng tiêm thuốc vào vùng quanh tuyến qua trực tràng khi sinh thiết tuyến tiền liệt.
  • Sinh thiết lặp lại:
Chỉ định cho sinh thiết lặp lại là: (1) PSA tăng và/hoặc cao liên tục, (2) Thăm khám tuyến tiền liệt có nghi ngờ; (3) Tăng sinh dạng nang nhỏ không điển hình (atypical smallacinarproliferation), và (4) tân sinh trong biểu mô tuyến lan tỏa (extensive prostatic intraepithelial neoplasia – PIN).
Sinh thiết thêm (lần thứ ba hoặc nhiều lần hơn) không được khuyến cáo, cần phải xem xét trên từng cá thể riêng biệt.
  • Sinh thiết toàn bộ (Saturation biopsy):
Tỷ lệ UTTTL phát hiện bởi sinh thiết toàn bộ lặp lại (> 20 mẫu) là từ 30% đến 43% và phụ thuộc vào số lượng mẫu trong những sinh thiết trước đó. Trong những trường hợp đặc biệt, sinh thiết toàn bộ có thể được thực hiện qua đáy chậu. Điều này sẽ giúp phát hiện thêm 38% của thư tuyến tiền liệt. Tỉ lệ bí tiểu cấp sau sinh thiết cao (10%) là một nhược điểm của phương pháp.
  • Vị trí và số mẫu sinh thiết:
Vị trí sinh thiết nên càng phía sau và bên càng tốt trong vùng ngoại vi. Các mẫu bổ sung nên được lấy từ khu vực nghi ngờ qua thăm khám trực tràng/siêu âm qua trực tràng.
Sinh thiết 6 mẫu hiện nay không còn được xem là đủ để chẩn đoán nữa. Một tuyến có thể tích 30–40 ml, cần sinh thiết ít nhất là 8 mẫu và có thể nhiều hơn đối với tuyến tiền liệt có thể tích lớn hơn.
  • Sinh thiết vùng chuyển tiếp:
Các mẫu từ vùng chuyển tiếp trong sinh thiết cơ bản có một tỷ lệ phát hiện bệnh rất thấp, do đó nên lặp lại sinh thiết. Cho nên sinh thiết vùng chuyển tiếp không được khuyến khích trong lần sinh thiết đầu tiên.
  • Sinh thiết bằng kim nhỏ: Sinh thiết hút bằng kim nhỏ không còn dùng nữa.
Các biến chứng của sinh thiết: Các biến chứng bao gồm đái máu đại thể và xuất tinh ra máu. Nhiễm trùng nặng sau sinh thiết được báo cáo <1% các trường hợp, nhưng tỷ lệ này tăng lên trong vài năm gần đây do sự phát triển của các chủng vi khuẩn đề kháng kháng sinhtrong khi tỷ lệ biến chứng do không phải nhiễm trùng vẫn như cũ. Bệnh nhân đang dùng liều thấp aspirin không còn là một chống chỉ định tuyệt đối.
  • Điểm Gleason: Phân độ mô học theo hệ thống thang điểm Gleason hiện nay được sử dụng rộng rãi trong chẩn đoán UTTTL nhằm phục vụ cho điều trị và theo dõi, tiên lượng.
Điểm Gleason là tổng của độ mô học Gleason chiếm ưu thế nhất và nhì. Nếu chỉ có một độ mô học, thì điểm được tính bằng cách nhân đôi độ mô học đó. Nếu một độ mô học <5% khối lượng ung thư, thì loại này không được tính trong điểm Gleason (quy tắc 5%). Độ mô học ưu thế nhất và nhì được biểu diễn thông qua số điểm Gleason (ví dụ Gleason số 7 [4+3]) và được phân chia thành các mức độ:
  • Gleason≤6: tế bào biệt hoá tốt.
  • Gleason 7: tế bào biệt hoá trung bình.
  • Gleason từ 8–10: tế bào kém hoặc không biệt hoá.
Xác định giai đoạn ung thư tuyến tiền liệt
  • Đánh giá sự lan rộng của UTTTLchủ yếu dựa vào thăm trực tràng, xét nghiệm PSA, và chụp xạ hình xương,
  • bổ sung chụp cắt lớp vi tính (CT–Scan) hoặc chụp cộng hưởng từ (MRI) và chụp X–quang trong các trường hợp đặc biệt.
  • Xác định giai đoạn khu trú (T–staging) cần dựa trên phim chụp MRI. Số lượng và bên sinh thiết tuyến tiền liệt dương tính, độ mô học của u và nồng độ PSA huyết thanh là những thông tin cụ thể hơn vể tình trạng của UTTTL.
  • Đối với xác định giai đoạn khu trú, không nên sử dụng siêu âm qua trực tràng vì có độ nhạy thấp và có xu hướng xác định giai đoạn thấp hơn thực tế.
  • Đánh giá hạch (N–staging) chỉ thực hiện khi có kế hoạch điều trị triệt căn.
  • Bệnh nhân giai đoạn T2 hoặc ít hơn, PSA <20 ng/ml và điểm Gleason <6 có khả năng di căn hạch thấp hơn 10% có thể không cần đánh giá hạch.
  • Trong trường hợp UTTTL khu trú về mặt lâm sàng, xác định giai đoạn phải được thực hiện bằng cách bóc hạch chậu vì đây là phương pháp đáng tin cậy, (chẩn đoán hình ảnh khó phát hiện những di căn nhỏ < 5mm).
Di căn xương (M–staging) được đánh giá tốt nhất bằng chụp xạ hình xương. Không nhất thiết chỉ định cho bệnh nhân không có triệu chứng nếu nồng độ PSA huyết thanh <20 ng/ml kèm điểm Gleason < 7.
  • Trong trường hợp không rõ ràng, nên thực hiện chụp PET/CT hoặc MRI toàn thân.
  • Phân loại ung thư tuyến tiền liệt theo TM
  • T – U nguyên phát
  • Tx – U nguyên phát không thể đánh giá
  • T0 – Không có bằng chứng của u nguyên phát
  • T1 – Về mặt lâm sàng u không thể sờ được cũng như không nhìn thấy qua hình ảnh
  • T1a – U phát hiện tình cờ về mô học ít hơn 5% của những mẫu được cắt
  • T1b – U phát hiện tình cờ về mô học nhiều hơn 5% của những mẫu được cắt
  • T1c – U xác định bằng sinh thiết kim (ví dụ vì PSA cao)
  • T2 – U còn trong tuyến tiền liệt
  • T2a – U ít hơn 1/2 của 1 thùy
  • T2b – U chiếm hơn 1/2 của 1 thùy,và chỉ ở trong 1 thùy
  • T2c – U có cả ở 2 thùy
  • T3 – U xâm lấn khỏi vỏ bao tuyến tiền liệt.
  • T3a – U xâm lấn ngoài vỏ bao (một bên hay 2 bên)
  • T3b – U xâm lấn túi tinh
  • T4 – U dính hoặc xâm lấn vào cấu trúc xung quanh hơn là túi tinh: bàng quang, các cơ nâng hậu môn, và/ hoặc thành chậu
  • N – Hạch vùng
  • NX – Không đánh giá được hạch vùng
  • N0 – Không có di căn hạch vùng
  • N1 – Có di căn hạch vùng
  • M –Di căn xa
  • MX – Không đánh giá được di căn xa
  • M0– Không có di căn xa
  • M1– Có di căn xa
  • M1a –Không có hạch vùng
  • M1b –Di căn xương
  • M1c – Di căn các bộ phận khác có hoặc không kèm ở xương.
TÓM LẠI: Chẩn đoán sớm và tầm soát Ung Thư Tuyến Tiền liệt giúp phát hiện ung thư ở giai đoạn sớm và làm giảm tỉ lệ tử vong.

Tác giả bài viết: BS Nguyễn Toàn Hưng – khoa ĐTTYC

Ý kiến bạn đọc

 

Tin mới

Điện thoại nóng
Kiểm tra kỹ năng thực hành máy tính trước khi ký hợp đồng Bệnh viện
Thông báo đấu giá tài sản: Quyền thuê mặt bằng kinh doanh dịch vụ Nhà để xe tại Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên
Thông báo Chương trình khám sàng lọc tim bẩm sinh
Thư khen cảm ơn y bác sỹ hai khoa
THỦNG MÀNG NHĨ DO CHẤN THƯƠNG
NGƯNG HÔ HẤP TUẦN HOÀN DO ĐỢT CẤP BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
BÁO CÁO CA BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE NẶNG THÀNH CÔNG
CHĂM SÓC BỆNH NHÂN TẠI PHÒNG HỒI TỈNH, HỒI SỨC SAU PHẪU THUẬT
“ BỔ DƯƠNG HOÀN NGŨ THANG” BÀI THUỐC QUÝ TRONG ĐIỀU TRỊ DI CHỨNG VẬN ĐỘNG SAU ĐỘT QUỴ
BỆNH NHÂN THÔNG THÁI
THUẬT NGỮ, ĐỊNH NGHĨA, CÁCH ĐO ĐẠC ĐỂ MÔ TẢ CÁC ĐẶC ĐIỂM SIÊU ÂM CỦA NỘI MẠC TỬ CUNG VÀ CÁC TỔN THƯƠNG TRONG LÒNG TỬ CUNG
VẤN ĐỀ CHẨN ĐOÁN VÀ TẦM SOÁT UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT
PHÁT ĐỘNG CHIẾN DỊCH NHẮN TIN ỦNG HỘ BỆNH NHÂN UNG THƯ
KHOA CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN TRIỂN KHAI PHẪU THUẬT NỘI SOI KHỚP VAI
MỘT SỐ DẤU ẤN SINH HỌC TRONG ĐÁNH GIÁ KHỐI U BUỒNG TRỨNG
TÌNH HÌNH THU DUNG ĐIỀU TRỊ BỆNH SXHD TẠI KHOA TRUYỀN NHIỄM BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN
VIÊM TRONG BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
Thư cảm ơn BN Nguyễn Khắc Trung
CẬP NHẬT ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TUÝP 2 THEO HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRỊ MỚI ADA 2019, ESC 2019
Viêm màng não tăng bạch cầu ái toan

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 37
  • Hôm nay: 4982
  • Tháng hiện tại: 125621
  • Tổng lượt truy cập: 7261501
Cuộc thi trắc nghiệm Tìm hiểu 90 năm lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang