bvvtn

VIÊM TRONG BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Đăng lúc: Thứ hai - 23/09/2019 16:04 - Người đăng bài viết: admin
VIÊM TRONG BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

VIÊM TRONG BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH

Viêm đóng vai trò trung tâm trong cơ chế sinh bệnh của BPTNMT. Hút thuốc lá phối hợp cả hai hiện tượng viêm của đường hô hấp dưới và viêm hệ thống.
1. Viêm trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 
Viêm đóng vai trò trung tâm trong cơ chế sinh bệnh của BPTNMT. Hút thuốc lá phối hợp cả hai hiện tượng viêm của đường hô hấp dưới và viêm hệ thống.
■ Sự thay đổi chủ yếu ở phổi của những người hút thuốc trẻ là một sự gia tăng đáng chú ý của đại thực bào phế nang. Những tế bào này tập hợp các phân tử sắc tố và tình trạng hoạt hoá và biểu thị gen bị biến đổi. Tuy nhiên, khi ngưng thuốc lá thì sự thay đổi này có thể hồi phục.Vì những người hút thuốc lá có tính nhạy cảm thay đổi trong sự phát triển BPTNMT, vấn đề này không rõ ràng và những thay đổi này phản ánh bệnh sinh của bệnh hay một sự bảo vệ thích nghi của ký chủ. Một khi BPTNMT phát triển, những type tế bào chủ yếu là đại thực bào, bạch cầu đa nhân và lymphocyte CD8+, mặc dù bạch cầu ái toan cũng có thể hiện diện ở một số bệnh nhân, đặc biệt là trong đợt bộc phát.
■ T-Lymphocyte CD8+
Có  những sự khác nhau có ý nghĩa về T-lymphocyte CD8+ trong đường dẫn khí ngoại biên và trung tâm ở người hút thuốc lá có hay không có BPTNMT. Người ta nhận thấy rằng đường dẫn khí ngoại biên là nơi xảy ra sự tắc nghẽn ở nhiều bệnh nhân bị BPTNMT. Những phương pháp hóa mô miễn dịch đã được sử dụng để xác định bạch cầu đa nhân trung tính, đại thực bào và T-lymphocyte CD4+ và CD8+ tẩm nhuận tại vách đường dẫn khí. Phương pháp đo hình thái được áp dụng để đo chu vi trong, thành đường dẫn khí và vùng cơ trơn ở đường dẫn khí ngoại biên. Những người hút thuốc lá bị BPTNMT có một sự gia tăng khối cơ trơn gợi ý sự hiện diện sự tái cấu trúc đường dẫn khí và sự gia tăng số lượng T-lymphocyte CD8+ so sánh với người hút thuốc lá mà không bị BPTNMT. Những type tế bào viêm khác bao gồm bạh cầu đa nhân trung tính được đánh giá trong mô của đường dẫn khí.
            Ngưòi ta cũng nhận thấy rằng T-lymphoctes trong BPTNMT biểu thị những thụ thể chemokines CCR5 và CXCR3, chúng được xem như là những chỉ điểm của những tế bào T helper 1 (Th1). Thực vậy hiện tượng viêm do lympho trong BPTNMT khác với hen phế quản trong đó chủ yếu  tìm thấy những tế bào T helper 2 (Th2)
Có một sự tương quan giữa số lượng T-lymphocyte CD8+ và mức độ giới hạn lưu lượng khí. Trong khi đó đường dẫn khí lớn không phải là vị trí chủ yếu của giới hạn lưu lượng khí, mối liên quan giữa FEV1 và sự gia tăng số lượng T-lymphocyte CD8+ gợi ý rằng đáp ứng viêm là phổ biến hơn.
            Một số tác giả xác định có một sự gia tăng số lượng lymphocyte CD8+ trong động mạch phổi. Ở bệnh nhân BPTNMT, những động mạch phổi giãn mức độ thấp với adenosine diphosphate so sánh với người không hút thuốc lá hay người hút thuốc lá mà chức năng phổi bình thường. Những bệnh nhân BPTNMT có một sự gia tăng các tế bào viêm (đặc biệt là lymphocyte T) trong động mạch phổi. Mặc dù cơ chế không rõ, nhưng cường độ tẩm nhuận viêm tương quan với sự giãn lệ thuộc tế bào nội mô và độ dày của nội mạc mạch máu. Ngoài ra, T-lymphocyte CD8+ không hoàn toàn gia tăng trong BPNMT nhưng cũng gia tăng trong nhóm người hút thuốc với chức năng phổi bình thường, dẫn đến sự giảm tỉ CD4+/CD8+. Mối liên quan giữa sự tẩm nhuận T- lymphocte CD8+ ở người hút thuốc lá và tổn thương cấu trúc và chức năng động mạch gợi ý khả năng rằng T- lymphocyte CD8+ đóng một vai trò sớm trong bệnh sinh các bất thường mạch máu phổi xảy ra trong các giai đoạn sớm của BPTNMT.
■  Bạch cầu đa nhân trung tính đường thở
Bạch cầu đa nhân trung tính cũng gia tăng số lượng và liên quan với độ nặng của BPTNMT. Người ta đã xác định rằng hiện tượng viêm xảy ra nhiều hơn ở bệnh nhân viêm phế quản mạn, và dịch rửa phế quản phế bào ở những bệnh nhân này chứa tỉ lệ % bạch cầu đa nhân trung tính cao hơn (35.8%) ở người hút thuốc lá không có triệu chứng (20.7%) hay người không hút thuốc lá (10.3%). Bệnh nhân viêm phế quản mạn với tỉ lệ % bạch cầu đa nhân trung tính cao >20 % trong dịch rửa phế quản phế bào có khạc đàm nhiều hơn có ý nghĩa và trị số FEV1 thấp hơn bệnh nhân có tỉ lệ % bạch cầu đa nhân trung tính thấp hơn < 20%. Tỉ lệ bạch cầu đa nhân trung tính trong dịch rửa phế quản phế bào tương quan chặt chẻ với tiền sử hút thuốc lá tính theo gói/năm và số lượng điếu thuốc hút trong ngày.
Dưỡng bào cũng gia tăng trong thành đường khí và những chất trung gian của dưỡng bào cũng hiện diện trong chất dịch rửa phế quản-phế bào của bệnh nhân BPTNMT.
Bạch cầu ưa acid cũng hiện diện trong thành đường khí BPTNMTvà cũng được tìm thấy trong dịch rửa phế quản-phế bào và trong đàm. 
2. Bản chất hiện tượng viêm phổi
Vai trò của viêm trong cơ chế sinh bệnh của BPTNMT được quan tâm hàng đầu với sự khởi đầu sớm của khí phế thủng ở những người thiếu chất kháng protease alpha-1-antitrypsin. Người ta nhấn mạnh sự đóng góp của neutrophil elastase, một protease dẫn xuất từ neutrophil,  đối với sự giáng hóa chất cơ bản phổi do sự thiếu enzyme ức chế của nó. Điều đó gợi ý giả thuyết protease-antiprotease, giả thuyết này góp phần vào nguyên nhân của khí phế thủng đối với gia tăng quá mức protease dẫn xuất từ neutrophil gây nên do thuốc lá.
Vì phần lớn chẩn đoán BPTNMT liên quan đến phơi nhiễm thuốc lá, có nhiều công trình nghiên cứu xác định mối liên quan giữa hút thuốc lá và hiện tượng tái cấu trúc chủ mô và đường dẫn khí đang tiến triển.
Trong BPTNMT có một sự mất quân bình rõ ràng chất oxy hóa và chất chống oxy hóa, trong đó chủ yếu là các chất oxy hóa. Những chỉ điểm của stress oxy hóa được tìm thấy trong dịch, hơi thở và nước tiểu của những người hút thuốc lá và bệnh nhân BPTNMT. Hydrogen peroxide (H2O2) và nitric oxide (NO) là những tiêu chuẩn đánh giá trực tiếp của những chất oxy hóa được thải ra bởi hút thuốc lá và được phóng thích bởi những bạch cầu viêm và tế bào thượng bì. H2O2 gia tăng trong hơi thở của những bệnh nhân BPTNMT trong giai đoạn ổn định và đợt bộc phát cấp của BPTNMT. Chất đồng đẳng prostaglandine, isoprostane F2 a III gia tăng trong hơi thở và nước tiểu của bệnh nhân BPTNMT.
            Những chất oxy hóa có thể phản ứng với một số lượng thay đổi phân tử sinh hóa như protein, lipid, và nuclic acid, điều này dẫn đến  suy chức năng hay chết tế bào cũng như khung ngoại bào phổi. Những stress oxy hóa ngoài việc gây tổn thương trực tiếp phổi còn góp phần vào sự mất quân bình  proteinase - antiproteinase bởi sự bất hoạt antiproteinase (như α1 antitrypsine và SLDI) và bởi sự hoạt hóa proteinase (như MMPs). Những chất oxy hóa cũng xúc tiến viêm, ví dụ như bởi sự hoạt hóa yếu tố sao chép NF-kB, những genes viêm được xem như là quan trọng trong BPTNMT như IL8 và TNF. Cuối cùng những stress oxy hóa có thể góp phần làm hẹp đường hô hấp. H2O2 gây co thắt cơ trơn phế quản trong phòng thí nghiệm và isoprostane F2aIII là một chất gây co thắt phế quản mạnh ở người.
3. Viêm tiếp diễn sau khi ngưng thuốc lá
Vì những đại thực bào và bạch cầu đa nhân trung tính là những tế bào quan trọng nhất gia tăng trong đường dẫn khí và phế bào trong BPTNMT, vai trò của lymphocyte  trong viêm cũng được chú ý đến.
Nghiên cứu vừa qua đã nhấn mạnh sự hiện diện của sự đáp ứng miễn dịch đang tiến triển trong các đường dẫn khí ngoại biên của bệnh nhân có bệnh tiến triển, ngay cả sau ngưng thuốc lá. Những nghiên cứu này gợi ý một vai trò trung tâm của tế bào T trong đáp ứng viêm phổi mạn tính dẫn đến tắc nghẽn lưu lượng khí. Mặt khác, tế bào T, một khi bị hoạt hoá có thể gây nên những đáp ứng khác nhau có thể giải thích cho nhiều hậu quả viêm được quan sát trong BPTNMT. Theo dõi kích thích của chúng bởi những kháng nguyên đặc hiệu, tế bào T khởi động những quá trình liên hợp gây nên những tổn thương trực tiếp bệnh tế bào hay sản sinh ra những chất trung gian viêm từ đó gây tập trung và hoạt hoá những tế bào viêm khác, bao gồm bạch cầu đa nhân trung tính và tế bào B và có thể tiếp tục gây nên tăng sản xơ và tái cấu trúc phổi.
Có một mối liên quan rõ ràng giữa bề dày thành toàn bộ đường dẫn khí và độ nặng của sự tắc nghẽn lưu lượng khí cũng như có một sự phối hợp giữa độ nặng của sự tắc nghẽn và bề dày của biểu mô, lá thành, cơ trơn và ngoại mạc. Trong lúc những biểu hiện này được mô tả như là hậu quả của viêm mạn tính, có một chứng cớ đáng chú ý của một sự đáp ứng miễn dịch thích nghi được biểu hiện bởi sự hiện diện của tế bào T và B chứa trong những nang lympho trong 25 đến 35% đường dẫn khí ở bệnh nhân bị BPTNMT nặng.
Có một sự tổn thương chức năng nhầy lông gây nên bởi những thay đổi cấu trúc phối hợp với thuốc lá từ đó gây nên khuẩn lạc mạn tính ở đường dẫn khí thấp và tạo thành  hiện tượng viêm và tổn thương niêm mạc vĩnh viễn.
Trong khi khuẩn lạc xuất hiện được xem như là có liên quan đến quá trình viêm đang tiến triển, những báo cáo gây tranh luận gợi ý sự hiện diện một phản ứng tự miễn mắc phải làm thay đổi những chỉ điểm bề mặt tế bào hay bộc lộ những kháng nguyên yên lặng trước đó thông qua quá trình tái cấu trúc gây nên do thuốc lá.
4. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và viêm hệ thống
Lúc đầu, người ta nghĩ  rằng sự viêm trong phổi tràn vào tuần hoàn gây nên một sự viêm hệ thống mức độ thấp. Tuy nhiên, thụ thể TNF hoà tan hay IL6 trong đàm và trong huyết tương không tương quan, điều này gợi ý rằng sự giải thích tràn qua đơn giản là không đúng.
Bệnh nhân bị BPTNMT có mức xuất phát của những chỉ điểm viêm lưu hành cao hơn  và người ta vẫn không rõ là viêm hệ thống có phải là một hiện tượng tiên phát hay thứ phát. Những bệnh nhân bị BPTNMT với sự gia tăng tiêu thụ năng lượng lúc nghỉ và giảm khối mở tự do có một sự gia tăng đáng kể CRP và protein kết hợp với lipopolysaccharide. Hơn nữa, những bệnh nhân BPTNMT với mức viêm hệ thống cao sẽ giảm sự đáp ứng với sự bổ sung dinh dưỡng, từ đó ngưòi ta có thể nghĩ rằng đó là một hiện tượng phối hơp hơn là nguyên nhân và hậu quả.
Hút thuốc lá và đợt bộc phát cấp BPTNMT đều gây nên một sự mất quân bình trạng thái oxy hoá. Sự gia tăng những sản phẩm peroxyd lipid chứng tỏ có một sự gia tăng stress oxy hoá và những chỉ điểm khác cũng gia tăng. Sự gia tăng stress oxy hoá có thể gây nên sự bất hoạt antiprotease, tổn thương biểu mô phế quản, tăng tiết dịch nhầy, gia tăng sự đi vào của bạch cầu đa nhân trung tính trong mô phổi và biểu thị những chất trung gian tiền viêm.
Sự hiện diện những tế bào viêm trong đường khí trong BPTNMT đã gợi ý rằng những cytokines tiền viêm có hiệu lực và đã trợ giúp khởi động hóa hướng động của những tế bào nầy. Nhiều nghiên cứu cho thấy sự gia tăng quan trọng mức  của những yếu tố hóa hướng động bạch cầu trung tính trong những mẫu nghiệm ở bệnh nhân BPTNMT. IL-8, TNFα, C-X-C motif ligand 1 (CXCL1) và monocyte chemoattractant protein (MCP-1) được tìm thấy trong đàm bệnh nhân BPTNMT. Gần đây, người ta nhận thấy rằng những mức cytokines vẫn duy trì gia tăng trong suốt quá trình tiến triển BPTNMT. Gia tăng mức của những yếu tố hóa hướng động, chemokines, và những thụ thế của chúng cũng được tìm thấy trong dịch rửa phế quản-phế bào và trong mô phổi BPTNMT. Gia tăng mức của những yếu tố hóa hướng động đối với những tế bào viêm trong BPTNMT gợi ý rằng những thuốc kháng hóa hướng động có thể là một chiến lược điều trị trong BPTNMT.
Những cytokines khác nhau kích thích hóa hướng động bạch cầu trung tính thông qua những cơ chế tác động qua lại. Hóa hướng động bạch cầu trung tính được điều chỉnh bởi  cGMP và cAMP. Gia tăng mức cAMP thường làm giảm sự kết dính bạch cầu và chức năng di chuyển. Hiệu quả trên mức cAMP và những cơ chế viêm có thể là một cơ chế quan trọng đối với hiệu quả của theophylline trên viêm trong BPTNMT. Những chất ức chế phosphdiesterase 4 làm gia tăng mức cAMP cũng có hiệu quả kháng viêm. Biểu thị của nhiều phân tử tiền viêm như IL-8, GM-CSF (granulocyte-macrophage-colony stimulating factor) và RANTES được điều chỉnh bởi NF-kappa B (nuclear factor – kappa B). Protein kinase C (PKC) có nhiều thể đồng đẳng trong đó một vài thể liên can đến tín hiệu tiền viêm và biểu thị IL-8. PKC được quan tâm đặc biệt vì nó có thể làm trung gian điều hòa  những hậu quả của hút thuốc lá trên đại thực bào và tế bào biểu mô và như vậy cung cấp một cơ chế trực tiếp đối với sự điều chỉnh viêm do hút thuốc lá.
Một quan niệm nổi bật có liên quan đến cytokines là cytokines có những vai trò tực tiếp trong quá trình gây tổn thương phổi và tái cấu trúc đường khí. IL-13 làm gia tăng biểu thị của matrix metalloproteinase, có lẽ làm thay đổi sự quân bình protease-antiprotease trong phổi. INF-γ cũng gây ra biểu thị của matrix metalloproteinase  có thể gây tổn thương mô phổi
Những sự thay đổi cũng được ghi nhận trong những tế bào viêm khác nhau trong máu ngoại vi, bao gồm bạch cầu đa nhân và lymphocyte. Những bệnh nhân bị BPTNMT có một sự gia tăng số lượng bạch cầu đa nhân trung tính trong phổi, gia tăng hoạt hoá của  bạch cầu đa nhân trung tính trong máu ngoại vi và gia tăng TNFα và thụ thể TNF hoà tan. Điều này chứng tỏ tầm quan trọng của trục TNFα/bạch cầu đa nhân trung tính trong viêc duy trì phenotyp BPTNMT.
Vai trò trung tâm của TNFα trong viêm phổi không chỉ được chứng minh bởi các nghiên cứu trên mẫu súc vật mà cũng liên quan trong phenotyp BPTNMT với giảm BMI. Sự sản xuất cytokin bởi đại thực bào được tăng cường bởi tình trạng thiếu oxy máu trên thực nghiệm và như vậy mối tương quan nghịch giữa áp lực oxy động mạch và TNFα và thụ thể TNF hoà tan có thể là hậu quả của thiếu oxy máu hệ thống. Bởi vậy, điều nầy gợi ý rằng sự ức chế TNFα có thể có lợi trong BPTNMT cũng như trong những tình trạng viêm khác như viêm khớp dạng thấp và bệnh Crohn. Tuy nhiên, cũng có giả thuyết đối với suy tim TNFα được cho rằng đóng vai trò chính trong cơ chế sinh bệnh của suy tim và phối hợp với tỉ lệ tử vong cao của suy tim. Tuy nhiên, những nghiên cứu sử dụng chất ức chế TNFα chứng tỏ không có lợi và có thể có một sự gia tăng tỉ lệ tử vong mà không rõ lý do, điều nầy gợi ý rằng, đúng  không phải là một nguyên nhân và hậu quả đơn giản.
5. Yếu cơ
BMI giảm, tuổi, và áp lực oxy động mạch giảm được xem như là những yếu tố dự báo độc lập có ý nghĩa của tỉ lệ tử vong trong BPTNMT. Một cách đặc biệt hơn, mất khối lượng mở tự do tác động bất lợi trên chức năng cơ hô hấp và ngoại vi, khả năng gắng sức và tình trạng sức khoẻ. Cả sụt cân và mất khối mở tự do đều là hậu quả của một sự mất quân bình năng lượng  và thường gặp trong khí phế thủng.
Sự gia tăng tiêu thụ năng lượng lúc nghỉ được nhận thấy trong nhiều bệnh nhân BPTNMT, liên kết với viêm hệ thống. Theo quan niệm kinh điển thì sự gia tăng tốc độ chuyển hoá cơ bản một phần là do một sự gia tăng tiêu thụ oxy bởi cơ hô hấp. Một tình trạng giảm nhanh khối cơ của cơ thể trong khung cảnh của một đáp ứng viêm mạn tính là một biểu hiện đặc thù, và không giới hạn đối với BPTNMT. Những bệnh nhân suy kiệt biểu hiện ưu tiên là sự mất khối mở tự do, tăng cường giáng hoá protein và đáp ứng kém với những sự can thiệp dinh dưỡng. Thêm vào đó, những bệnh nhân suy kiệt biểu hiện những sự thay đổi về chuyển hoá protein, lipid, và carbohydrate có liên quan đến viêm hệ thống hơn là viêm tại chỗ. Thật vậy, yếu cơ trong BPNMT là tương tự như trong suy tim, suy thận, hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải và ung thư. Tầm quan trọng của tình trạng suy kiệt trong những điều kiện này không chỉ phối hợp với sự giảm thời gian sống sót, nhưng cũng liên quan đến tình trạng suy giảm chức năng và chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khoẻ. Những biểu hiện thường gặp trong những trường hợp nầy bao gồm sự gia tăng nồng độ những phân tử tiền viêm lưu hành bao gồm TNFα, IL1, IL6, IL8 , INFγ và giảm nồng độ những hormon đồng hoá bao gồm yếu tố tăng trưởng giống như insulin và testosterone.
TNFα đóng một vai trò trung tâm trong sự yếu cơ và sụt cân trong BPTNMT. Nó có nhiều hậu quả trực tiếp ( chán ăn, thay đổi nồng độ những hormone lưu hành và cytokine thoái hoá và sau cùng thay đổi tính nhạy cảm cơ quan đối với chúng), những hậu quả này đẩy mạnh sự yếu cơ. Quá trình này qua trung gian yếu tố nhân κB (NF-κB), một yếu tố sao chép bị bất hoạt khi kết hợp với chất ức chế của nó nhưng có thể được hoạt hoá bởi cytokine viêm như TNFα. Trong tế bào cơ NF-κB giao thoa với sự biệt hoá cơ và điều chỉnh lại qua sự ức chế biểu thị MyoD. Oudijk và cọng sự đưa ra ba cơ chế khác nhau qua đó TNFα có thể gây nên mất khối cơ. Thứ nhất là, sự mất protein có thể được kích thích trực tiếp trong tế bào cơ. Thứ hai là, sự chết theo chương trình có thể được kích thích thông qua nhiều con đường khác nhau đó là tác động qua lại với thụ thể TNFα trên tế bào cơ. Thứ ba là, những loại oxy phản ứng (reactive oxygn species = ROS) có thể dẫn đến những sự thay đổi trong tín hiệu TNFα/NFκB, mặc dù mối liên quan của những thay đổi như vậy theo con đường này vẫn chưa biết rõ. Tuy nhiên, người ta nhận thấy rằng viêm và ROS có một tác động hợp đồng trên sự yếu cơ và BPTNMT phối hợp với sự gia tăng stress oxy hoá.
6. Đái tháo đường
Nhiều nghiên cứu dịch tể học đã cho thấy rằng những chỉ điểm viêm có thể dự báo sự phát triển đái tháo đường và rối loạn đường máu. Những bệnh nhân bị đái tháo đường  không lệ thuộc insulin có sự gia tăng TNFα, IL-6 và CRP. Với những lý do nầy người ta đã xác định vai trò của những cytokin lưu hành trong cơ chế sinh bệnh đái tháo đường và đề kháng insulin. Mô mở tiết ra nhiều adipokin chúng ảnh hưởng rõ ràng trên chuyển hoá lipid và glucose/insulin. Những chất nầy bao gồm TNFα và một chất đối kháng, “chất bảo vệ”, chất đặc hiệu của mô mở, adiponectin.
Người ta nghĩ rằng TNFα có thể là một chất trung gian của quá trình đái tháo đường. Như đã trình bày ở trên, cytokin này tác động qua trung gian thụ thể đã hoạt hóa yếu tố sao chép nhân NF-κB dẫn đến sản xuất cytokin, điều hoà các phân tử kết dính và gia tăng stress oxy hoá. Thật vậy, hiệu quả sau nầy kết hợp với TNFα có thể tạo nên một sự kích thích, sự kích thích nầy giao thoa với chuyển hoá glucose và nhạy cảm với insulin.
Người ta biết rằng TNFα gia tăng ở bệnh nhân tăng trọng và đề kháng insuline. TNFα kích thích ly giải mở và TNFα phối hợp với tăng insulin máu và đề kháng insulin. Nhiều nghiên cứu khác cũng đã xác định rằng đáp ứng pha cấp (CRP) gia tăng ở người béo phì và phối hợp với đề kháng insulin. Hơn nữa, adiponectin giảm ở người béo phì và phối hợp với đề kháng insulin và tăng insulin máu.
=Vai trò của TNFα, adiponectin và NF-κB trong hội chứng chuyển hoá:
TNFα được tiết ra từ mô mở kết nối với glucose, acid béo tự do và insulin kích thích sự hoạt hoá NF-κB. Tác dụng nầy đối kháng với adiponectin, cũng được tiết ra từ mô mở. Sự hoạt hoá của PPARγ (ví dụ bởi TZD) gây nên một sự gia tăng trực tiếp adiponectin và làm giảm TNFα. Hơn nữa, sự hoạt hóa NFκB gây nên sự gia tăng các cytokin viêm, các phân tử kết dính và stress oxy hoá, dẫn đến những biểu hiện lâm sàng của hội chứng chuyển hoá. Thiazolidinedione là chất đồng vận của peroxisome proliferator-activated receptor gamma (PPARγ). Loại thuốcnầy không chỉ làm giảm những chỉ điểm viêm bao gồm TNFα, ICAM, fibrinogen, MIP1 và CRP những cũng cải thiện tác dụng của insulin. Những nghiên cứu nầy đã cho thấy rằng có một quá trình viêm  và có một mối liên kết giữa BPTNMT và đái tháo đường type II. Chúng cũng đúng với vai trò tiên đoán của các protein pha cấp trong sự phát triển đái tháo đường type II
7. Xơ vữa dộng mạch
Một số tác giả vừa công bố những dữ kiện chỉ ra rằng CRP là một yếu tố nguy cơ tương đối lệ thuộc vào nồng độ đối với những biến cố tim mạch.  Người ta đánh giá yếu tố nguy cơ bệnh mạch vành và liên quan yếu tố nguy cơ đó với nồng độ các chỉ điểm viêm lưu hành.
CRP là protein pha cấp type I với những tính chất gợi ý nó là một thể miễn dịch kinh điển. Protein nầy có thể gia tăng gấp 1000 lần trong những ngày bắt đầu quá trình viêm. TNFα, IL1 và IL6 kích thích tổng hợp CRP bởi biểu lộ gen ở gan, chứng tỏ TNFα có liên quan mật thiết đến quá trình viêm. CRP được biết là kết hợp và gây nên sự hình thành và lắng đọng mạng tinh thể dẫn đến sự ngưng kết máu thụ động. Đại thực bào có những thụ thể đối với CRP và CRP có thể làm gia tăng sự hình hành cytokin. Những tính chất này có thể là trung tâm của sự hình thành mảng xơ vửa. CRP có thể lắng đọng trực tiếp trên thành động mạch trong suốt quá trình sinh xơ vữa, có thể thông qua thụ thể Fcgamma (Fcγ) làm dễ sự kết dính monocyte thông qua sự sản xuất monocyte chemokine MCP1. Hơn nữa sự hoạt hoá có thể gây nên sự sản xuất những cytokine tiền viêm và sự biệt hoá monocyte thành đại thực bào. Với sự hiện diện của LDL bị oxy hoá, CRP có thể làm dễ sự sản xuất những tế bào bọt qua đó tạo nên những khối mảng xơ vữa.
8. Loãng xương
Nguy cơ của loãng xương được biết là do sử dụng steroid, nhưng những
bệnh nhân gia tăng nguy cơ ngay cả không sử dụng steroid. Nhiều nghiên cứu cho thấy loãng xương là một biểu hiện của BPTNMT với sự gia tăng TNFα.
Loãng xương sau mãn kinh liên quan với mức TNFα và IL6 huyết thanh cao. Người ta nhận thấy rằng đại thực bào có thể biệt hoá những hủy cốt bào thành những tế bào trung mô tủy xương. Những tế bào sau nầy phóng thích cytokine RANK ligand (RANKL)là một thành phần của TNFα. TNFα và IL1 tăng cường quá trình nầy và có thể gây nên biểu hiện RANKL trong những tế bào đệm tủy xương và tác dụng hổ tương với RANKL trong quá trình sinh hủy cốt bào., mặc dù sự hình thành hủy cốt bào cũng có thể gây nên bởi IL6, độc lập với RANKL.
Thật vậy, vai trò của những cytokine tiền viêm có thể là trung tâm của loãng xương phối hợp với bệnh viêm. Một số tác giả đã xác định Raloxifene có thể làm giảm sự sao chép TNFα và từ đó làm gia tăng tỷ trọng của xương.
9. Loét dạ dày tá tràng
Loét dạ dày tá tràng thường gặp ở những bệnh nhân bị viêm phế quản mạn và khí phế thủng. Hơn nữa, những nghiên cứu ở những bệnh nhân bị loét dạ dày tá trằng có một sự giảm FEV1 và dung tích sống ở người hút thuốc lá và không hút thuốc lá. Nhiều nghiên cứu cho thấy helicobacter pylori có kết quả huyết thanh dương tính gia tăng ở bệnh nhân BPTNMT với tỉ lệ 77.8% ( so sánh cới 54% ở nhóm chứng). Hơn nữa họ ghi nhận rằng kết quả huyết thanh dương tính đối với phenotype tiền viêm biểu biện CaGA là 53.9% là cao hơn nhóm chứng là 29.3%. Ngoài ra, sự hoạt hoá của những chất trung gian viêm gây nên bởi  HP có thể làm nặng thêm sự phát triển BPTNMT. Tần suất gia tăng chủng có  CaGA dương tính cũng cố giả thuyết cho rằng nó kích thích sự phóng thích IL1 và TNFα từ đó có thể tăng cường sự kết dính nội mô và di chuyển những tế bào viêm vào trong phổi. Một số tác giả lại cho rằng có thể có một sự tràn qua do hít của HP hay ngoại độc tố của nó vào trong phổi, từ đó có thể dẫn đến viêm mạn tính đường thở và gây nên tổn thương mô.
10. Những trị liệu có hiệu lực nhắm vào viêm
Căn cứ vào vai trò trung tâm đối với viêm trong sự phát triển và sự tồn tại mãi mãi của sự tái cấu trúc đường khí và  sự phá hủy phế nang phối hợp với BPTNMT, có một quan tâm lớn trong việc sự phát minh những thuốc tác động trực tiếp vào quá trình viêm. Trong khi glucocorticoid hệ thống là quan trọng trong xử trí đợt bùng phát , sự sử dụng lâu dài dẫn đến một sự lệ thuộc liều lượng làm suy giảm lâu dài sự sống sót phối hợp với bệnh cơ, loãng xương, và suy giảm miễn dịch. Corticosteroid hít (ICS) đã được chấp nhận nhiều trong việc xử trí BPTNMT.
ICS được khuyến cáo trong điều trị  BPTNMT, đặc biệt ở bệnh nhân có FEV1 thấp  (< 50% trị số dự đoán) và thường xuyên có những đợt bùng phát. Sự sử dụng ICS bị phê bình cho rằng theo lý thuyết type viêm trong BPTNMT là không phục tùng theo trị liệu này và không có tác động ngắn hạn của ICS trên đáp ứng viêm ở bênh nhân BPTNMT.
Do vai trò trung tâm của những đợt bùng phát trên chất lượng cuộc sống và trên tỉ lệ tử vong, giảm 25% các đợt bùng phát với ICS.
Hiện nay FDA chỉ công nhận thuốc kháng viêm trong điều trị BPTNMT là phối hợp ICS/ chủ vận bêta 2 tác dụng kéo dài, đó là fluticasone/salmeterol .
Căn cứ vào vai trò trung tâm của viêm trong BPTNMT, có cố gắng rất lớn trong việc đánh giá những thuốc mới trên con đường viêm. Một nghiên cứu mới đây đánh giá tác động của anti IL-8 đơn dòng trên sự cải thiện khó thở trong thời gian trên 3 tháng, nhưng không thay đổi FEV1 hay khoảng cách đi bộ. Người ta cũng nghiên cứu trên những chất ức chế phosphodiesterase-4 . Ngoài ra một số mục tiêu nghiên cứu khác trên những con đường LTB4, TNFα, TGF-β (transforming growth factor-beta), NF-kappaB (nuclear factor kappaB), chất chống oxy hóa, proteases, những cytokines khác, và những thụ thể cytokine.

Tác giả bài viết: BS Nguyễn Ngọc Hoàng, Khoa Lão
Nguồn tin: Lê Văn Bàng (2013): “Viêm trong bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” Hô hấp học. Nhà xuất bản Đại học Huế, tr 260-271
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Tin mới

Điện thoại nóng
Kiểm tra kỹ năng thực hành máy tính trước khi ký hợp đồng Bệnh viện
Thông báo đấu giá tài sản: Quyền thuê mặt bằng kinh doanh dịch vụ Nhà để xe tại Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên
Thông báo Chương trình khám sàng lọc tim bẩm sinh
Thư khen cảm ơn y bác sỹ hai khoa
THỦNG MÀNG NHĨ DO CHẤN THƯƠNG
NGƯNG HÔ HẤP TUẦN HOÀN DO ĐỢT CẤP BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
BÁO CÁO CA BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE NẶNG THÀNH CÔNG
CHĂM SÓC BỆNH NHÂN TẠI PHÒNG HỒI TỈNH, HỒI SỨC SAU PHẪU THUẬT
“ BỔ DƯƠNG HOÀN NGŨ THANG” BÀI THUỐC QUÝ TRONG ĐIỀU TRỊ DI CHỨNG VẬN ĐỘNG SAU ĐỘT QUỴ
BỆNH NHÂN THÔNG THÁI
THUẬT NGỮ, ĐỊNH NGHĨA, CÁCH ĐO ĐẠC ĐỂ MÔ TẢ CÁC ĐẶC ĐIỂM SIÊU ÂM CỦA NỘI MẠC TỬ CUNG VÀ CÁC TỔN THƯƠNG TRONG LÒNG TỬ CUNG
VẤN ĐỀ CHẨN ĐOÁN VÀ TẦM SOÁT UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT
PHÁT ĐỘNG CHIẾN DỊCH NHẮN TIN ỦNG HỘ BỆNH NHÂN UNG THƯ
KHOA CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN TRIỂN KHAI PHẪU THUẬT NỘI SOI KHỚP VAI
MỘT SỐ DẤU ẤN SINH HỌC TRONG ĐÁNH GIÁ KHỐI U BUỒNG TRỨNG
TÌNH HÌNH THU DUNG ĐIỀU TRỊ BỆNH SXHD TẠI KHOA TRUYỀN NHIỄM BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN
VIÊM TRONG BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
Thư cảm ơn BN Nguyễn Khắc Trung
CẬP NHẬT ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TUÝP 2 THEO HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRỊ MỚI ADA 2019, ESC 2019
Viêm màng não tăng bạch cầu ái toan

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 59
  • Khách viếng thăm: 58
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 5008
  • Tháng hiện tại: 125647
  • Tổng lượt truy cập: 7261527
Cuộc thi trắc nghiệm Tìm hiểu 90 năm lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang