bvvtn

XƠ CỨNG RẢI RÁC (MS)

Đăng lúc: Thứ sáu - 22/01/2021 05:21 - Người đăng bài viết: admin
XƠ CỨNG RẢI RÁC (MS)

XƠ CỨNG RẢI RÁC (MS)

XƠ CỨNG RẢI RÁC (MS)

1.    Giới thiệu

Xơ cứng rải rác (MS – Multiple sclerosis) còn có tên gọi khác ở Anh là “disseminated sclerosis”, ở Pháp là “Sclérose en plaque” (SEP). Bệnh được Cruveihier mô tả từ 1835, tiếp nối bởi các tác giả Dejong, Prineas, Johnson và Mc Donald. Cho đến nay bệnh mang tiếng Anh là Multiple Sclerosis (1986). Xơ cứng rải rác là bệnh của hệ thần kinh trung ương. Bệnh xuất hiện nhiều ở các nước ôn đới (Bắc Âu, Bắc Mỹ, Canada). Nguyên nhân sinh bệnh vẫn chưa rõ ràng, bệnh thường gặp ở người trẻ.
Lâm sàng của bệnh là lan tỏa và thay đổi; giải phẫu bệnh là một tổn thương mất Myeline xuất hiện tiếp nối, rải rác không theo một trình tự giải phẫu ở chất trắng của hệ thần kinh trung ương; vì thế triệu chứng học rất đa dạng. Bệnh tiến triển từng đợt, sau mỗi đợt dịch bệnh có thay đổi giảm đi hay làm một số triệu chứng rõ ràng hơn.

2.    Dịch tễ học:

·        Ước lượng có khoảng 2,5 triệu người trên thế giới bị mắc MS.
·        Tỉ lệ mắc mới khoảng 3,6/100.000 dân/năm ở nữ giới, 2/100.000 dân/năm ở nam giới.
·        Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, thường gặp nhất từ 15 đến 45 tuổi, tuổi trung bình được chẩn đoán là 29 ở nữ và 31 ở nam.
·        Thông thường, MS bắt đầu sớm ở tuổi trưởng thành, với sự khởi đầu của các triệu chứng ở tuổi 28 và chẩn đoán khi 33 tuổi. Phụ nữ có nhiều khả năng được chẩn đoán mắc MS. Người da trắng có tỷ lệ mắc MS cao nhất, trong khi người Nhật Bản tử tế có tỷ lệ thấp nhất. Lập bản đồ địa lý đã chỉ ra các khu vực tập trung có nguy cơ gia tăng đối với sự phát triển của MS. Tuy nhiên, không có dữ liệu cụ thể nào cho thấy tại sao một số vùng nhất định có tỷ lệ mắc MS cao hơn, mặc dù tính nhạy cảm di truyền và các kiểu di cư dân tộc có thể có liên quan.
·        Một yếu tố khác hỗ trợ khả năng di truyền của MS bao gồm tỷ lệ mắc bệnh trên toàn thế giới. Những người sống ở Bắc Âu và Bắc Mỹ có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn (12 năm 1000) khi so sánh với người Nam Âu. Hơn nữa, MS không phổ biến ở một số nhóm dân tộc như người Uzbek, Samis, Turkmen, Kyrgyzis, Kazakhstan, người Siberia bản địa, người Mỹ gốc Bắc và Nam, Nhật Bản, Trung Quốc, người da đen châu Phi và người Maori New Zealand ( 9 ). Mặc dù những khác biệt này có thể được giải thích một phần do tiếp xúc khác biệt với các yếu tố môi trường cụ thể (chẳng hạn như một số mầm bệnh không phổ biến), sự hiện diện của các nhóm tổ tiên kháng MS hoặc có tỷ lệ mắc bệnh thấp cho thấy rằng lịch sử và kiến ​​trúc di truyền của một quần thể ảnh hưởng đến nguy cơ phát triển của MS.

3.    Di truyền học:

·        Nếu 1 người có mẹ bị MS, con cái có khả năng 5% bị MS.
·        Nếu 1 người có cha bị MS, con trai có khả năng 1% bị MS, con gái là 2%.
·        Một anh chị em của người bị MS, có khả năng 3-4% bị MS.
·        MS có thể là một bệnh rất thay đổi, ảnh hưởng đến mọi người theo cách khác nhau. Các nhà khoa học đã cố gắng xác định xem liệu gen có đóng một vai trò nào đó đối với mức độ nghiêm trọng của MS và loại MS mà một người mắc phải ngoài vai trò của gen trong nguy cơ phát triển MS ngay từ đầu. Đây vẫn là một lĩnh vực đang được nghiên cứu tích cực, nhưng nghiên cứu gần đây cho thấy rằng gen có thể ảnh hưởng đến sự tiến triển của khuyết tật trong thời gian trung hạn nhưng về lâu dài của bệnh, vai trò của di truyền trong kết quả khuyết tật dường như trở nên ít quan trọng hơn.
·        Những nghiên cứu gần đây cho thấy có sự phối hợp giữa khoảng 200 gen có liên quan đến MS, nhưng vẫn còn đang được nghiên cứu thêm, vẫn chưa có cụ thể gen nào có liên quan trực tiếp và chứng minh sự liên quan độc lập của nó với MS.

4.    ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG 

 Các triệu chứng và dấu hiệu phổ biến của MS bao gồm:
 
Symptoms and signs Total (percent)
Sensory in limbs 31
Visual loss 16
Motor (subacute) 9
Diplopia 7
Gait disturbance 5
Motor (acute) 4
Balance problems 3
Sensory in face 3
Lhermitte sign (electric shock-like sensations that run down the back and/or limbs upon flexion of the neck) 2
Vertigo 2
Bladder problems 1
Limb ataxia 1
Acute transverse myelopathy 1
Pain <1
Other 3
 

4.1 . Rối loạn cảm giác

·        Là đặc điểm ban đầu phổ biến nhất của MS và có ở hầu hết mọi bệnh nhân tại một số thời điểm trong quá trình bệnh. Các đặc điểm cảm giác có thể phản ánh tổn thương ở bó gai đồi thị, bó cột sau và rễ lưng. Biểu hiện cảm giác chủ quan, dị cảm rất khác nhau: tê, ngứa ran, châm chích, thắt chặt, lạnh, da cứng bì. Những cơn đau rễ thần kinh có thể xuất hiện, đặc biệt ở vùng ngực thấp và vùng bụng. Một cảm giác ngứa dữ dội, đặc biệt là đốt da vùng cổ và thường một bên, là gợi ý của MS.
·        Các bất thường phổ biến nhất khi khám lâm sàng bao gồm:
o   Giảm cảm giác sâu: rung âm thoa, vị thế khớp…
o   Giảm cảm giác sờ, đau ở ngọn chi.
o   Giảm cảm giác sờ, đau rải rác ở những vùng của chi và thân người.
·        Khi kiểm tra cảm giác với một vật như ghim, bệnh nhân thường cảm giác như điện giựt nhẹ, lan lăn tăn trên da.
·        Giảm cảm giác ở mặt thường gặp ở MS. Giật cơ cục bộ ở mặt và co thắt nửa mặt cũng có thể do MS. Nhưng cần loại trừ các tổn thương khu trú khác ở thân não. Liệt mặt một bên có thể xảy ra, và cảm giác vị giác đôi khi bị ảnh hưởng.
·        Đau là một triệu chứng phổ biến ở bệnh nhân MS. Các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ chung là 63% gồm có đau đầu, đau ngọn chi, đau lưng, dấu Lhermitte (cảm giác như điện giật chạy dọc xương sống lưng và chi dưới; gây ra khi cúi cổ- triệu chứng thường gặp trong xơ cứng rải), đau co thắt, đau dây V ở người trẻ có thể là dấu hiệu sớm của MS.

4.2 . Rối loạn thị giác

·        Rối loạn thị giác do hủy myelin hoặc viêm dây thần kinh thị giác xảy ra ở 85% người mắc MS. Những rối loạn thị giác này có nhiều dạng bao gồm viêm thần kinh thị, bất thường chuyển động của mắt, nhìn mờ hoặc nhìn đôi và mù màu.
·        Viêm thần kinh thị giác: là rối loạn phổ biến nhất ở MS. Ở 17% người MS, việm thần kinh thị là triệu chứng đầu tiên của bệnh, nhưng có thể xảy ra sau các triệu chứng khác. Các triệu chứng liên quan đến viêm thần kinh thị gồm giảm thị lực nhanh chóng, đau khi cử động mắt (thường một bên), mờ mắt, mù màu. Viêm dây thần kinh thị giác hai bên hiếm gặp ở MS, sự xuất hiện đơn độc có thể gợi ý một chẩn đoán khác như bệnh thần kinh thị giác di truyền Leber, bệnh thần kinh thị do độc chất  hoặc viêm tủy thị thần kinh NMO. Khi có viêm thần kinh thị hai bên ở MS thì sự suy yếu bắt đầu không đối xứng và thường nặng ở một bên.
·        Thăm khám lâm sàng bệnh nhân bị viêm thần kinh thị cho thấy tổn thương phản xạ đồng tử hướng tâm (đồng tử Macus-Gunn). Khi tổn thương đầu thần kinh thị trong viêm thần kinh thị giác cấp tính, phù đĩa thị có thể quan sát bằng soi đáy mắt, thường gặp ở trẻ em hơn người lớn. Phần lớn các tổn thương của dây thần kinh thị là hậu nhãn cầu, và trong giai đoạn cấp tính soi đáy mắt bình thường. Sau đó đĩa thị trở nên nhợt nhạt do mất sợi trục và kết quả tăng sinh thần kinh đệm, chiếm ưu thế ở phần đĩa thị thái dương.
·        Viêm thần kinh thị thường nặng lên trong 3-7 ngày trước khi cải thiện dần dần. Tiên lượng khả năng phục hồi thị lực là tốt, 90% bệnh nhân lấy lại thị giác bình thường trong khoảng thời gian từ 2-6 tháng, mặc dù các bất thường về điện thế gợi thị giác vẫn còn tồn tại sau khi hồi phục. Sau đó có teo gai thứ phat thường ở phía thái dương.
·        Các đợt viêm thần kinh thị giác thường xảy ra không phải lúc nào cũng chẩn đoán là MS. Ước tính về nguy cơ phát triển MS trong vòng 15 năm sau đợt viêm thần kinh thị giác cấp tính là 45-80%.
·        Bất thường chuyển động của mắt: là kết quả của việc hủy myelin của các đường dây thần kinh tới cơ mắt và thường xảy ra ở MS. Loại bất thường phụ thuộc vào vị trí tổn thương.
- Bất thường liếc nhìn chủ ý (thường gặp)
+ Liệt vận nhãn liên nhân (INO): do tổn thương bó dọc giữa, bệnh nhân liệt chức năng nhìn trong ở mắt cùng bên tổn thương và rung giật nhãn cầu theo chiều ngang ở mắt còn lại khi nhìn sang bên hướng ra xa tổn thương. Các cử động vận nhãn còn lại, bao gồm cả sự hội tụ thì đều bình thường. Khi quan sát theo chiều ngang sang phía đối diện với mắt bị ảnh hưởng, hình ảnh được di chuyển theo chiều ngang, gây ra chứng nhìn đôi; rung giật nhãn cầu thường xuất hiện tại mắt đang liếc ra ngoài. Đôi khi rung giật nhãn cầu cả 2 mắt xảy ra khi nhìn lên trên.
+ Rối tầm của mắt
+ Liệt chức năng nhìn ngang
+ Hội chứng lưng não giữa ( Hội chứng Parinaud)
+ Lệch nghiêng
- Rung giật nhãn cầu: xảy ra ở 28,5-63% bệnh nhân MS. Thường do tổn thương ở thân não hoặc tiểu não và có thể có nhiều dạng. Nó có thể là giật hoặc lắc, dọc, ngang hoặc xoay tròn. Bệnh nhân bị rung giật nhãn câù thỉnh thoảng bị choáng váng và khó đọc.
- Bất thường pha chuyển động chậm của mắt: rối loạn sự theo đuổi nhịp nhàng.
- Những bất thường về chuyển động của mắt gây ra mức độ nhìn đôi hay ảo thị về chuyển động khác nhau. Nhìn đôi là một triệu chứng thoáng qua, ước tính tỉ lệ mắc 8-22% khi khởi phát bệnh và 29-39% trong suốt quá trình của bệnh MS.

4.3 . Rối loạn vận động

·        Yếu chi là đặc điểm của MS, hiện diện ở 80% bệnh nhân. Hai chi dưới thường bị ảnh hưởng nhất, thường không đối xứng, có thể chỉ ở một chi dưới hay một chi dưới và một chi trên cùng bên. Yếu một tay mà không yếu chân là không thường gặp.
·        Khiếm khuyết vận động ở chi hiếm khi chỉ yếu đơn thuần. Thất điều tiểu não và run, đặc biệt ở tay, và mất cảm giác tư thế góp phần gây ra yếu. Phàn nàn ban đầu của bệnh nhân là thường yếu sau khi gắng sức. Nhưng sau đó tăng dần cho đến khi xuất hiên liên tục.
·        Thăm khám thấy tình trạng co cứng thường ở chân hơn so với tay. Tăng phản xạ gân sâu có thể có clonus, và đáp ứng duỗi bàn chân. Các biểu hiện này thường không đối xứng.
·        Các triệu chứng liên quan đến thân não như nuốt khó, nói khó và rối loạn chức năng hô hấp (ho kém và không thể làm sạch chất tiết), có thể xảy ra ở bệnh MS tiến triển.
·        Mất phối hợp:
- Thất điều là sự thiếu hoặc giảm khả năng phối hợp và luôn liên quan đến run, mà xảy ra như một chuyển động không chủ ý, nhịp nhàng, dao động của một bộ phận cơ thể. Những triệu chứng xảy ra ở 75% bệnh nhân mắc bệnh MS và thường biểu hiện là run khi đến đích ở chi trên. Chúng ảnh hưởng nặng đến chức năng của chi trên, dáng đi và khả năng thăng bằng khi đứng và ngồi. Ở mắt thấy rung giật nhãn cầu, rối tầm của mắt và thất bại trong việc ức chế cố định (giật sóng vuông) cho thấy rối loạn chức năng tiểu não hoặc tiểu não-tiền đình.
- Thăm khám lâm sàng run phối hợp với các rối loạn vận động phức tạp như rối tầm động tác, phân tách động tác phức tạp, và có giảm trương lực thường ở chi trên. Trong vài trường hợp nặng, có thất điều hoàn toàn, không dùng được tay do bị run khi đến đích và lời nói gần như không thể hiểu được.
·        Co cứng và co thắt
- Co cứng là tình trạng tăng trương lực cơ, trong đó phản xạ duỗi ra bất thường làm tăng sức kháng lại các cử động thụ động. Đây là một triệu chứng phổ biến của MS.
- Nhiều bệnh nhân MS cũng bị yếu cơ kèm theo co cứng, nhưng có thể bị co cứng mà không yếu hoặc có yếu mà không co cứng. Co cứng thường ảnh hưởng tới chân nhiều hơn tay. Chứng liệt cứng, liệt nhẹ hay không hoàn toàn do co cứng được coi là nguyên nhân chính dẫn tới mất khả năng làm việc ở người bị MS.
- Sự tăng trương lực cơ khi nghỉ đặc trưng cho tình trạng co cứng cũng liên quan đến co thắt cơ. Trong giai đoạn tiến triển của MS, sự tăng trương lực cơ duỗi có thể dẫn tới co thắt cơ duỗi, trong đó sự co mạnh của các cơ chân gây ra gập gan bàn chân, cùng với sự duỗi thẳng khớp háng và khớp gối. Những cơn co thắt này có thể xảy ra khi bệnh nhân nằm trên giường ban đêm hoặc thức dậy vào buổi sáng. Trương lực cơ gấp trở nên nổi bật hơn vào giai đoạn sau của MS và ban đầu có thể gây ra ngã mà không báo trước. Trong chứng co thắt cơ gấp, có sự gập gối và hông lên, khó duỗi thẳng ra được. Cả hai loại co thắt đều gây đau đớn, gián đoạn giấc ngủ và ảnh hưởng xấu đến sinh hoạt hằng ngày.

4.4 . Rối loạn cơ vòng-sinh dục

Tiểu không tự chủ hoặc bí tiểu; sau mỗi đợt bệnh triệu chứng sẽ giảm dần. Ở giai đoạn muộn các triệu chứng này tồn tại vĩnh viễn do hậu quả tổn thương thần kinh trung ương. Liệt dương thường gặp ở nam giới.

4.5 . Biểu hiện khác

·        Trầm cảm có thể phổ biến hơn ở những bệnh nhân MS. Có mối liên hệ giữa trầm cảm, lo âu và chất lượng cuộc sống.Trầm cảm còn là yếu tố tiên lượng mạnh nhất đến chất lượng cuộc sống. Một số bệnh nội khoa và tâm thần xuất hiện đồng thời thúc đẩy trầm cảm như đau, lo lắng, mệt mỏi, suy giảm nhận thức. Ngược lại, trầm cảm lại tác động lớn đến chức năng nhận thức của bệnh nhân MS.
·        Mệt mỏi trong MS là tình trạng kiệt sức mà không liên quan đến lượng hoạt động được thực hiện. Nó là triệu chứng phổ biến nhất hiện nay (86%) cản trở các hoạt động hàng ngày. Nhiều bệnh nhân phàn nàn về cảm giác kiệt sức khi thức dậy, ngay cả khi họ đã ngủ ngon. Nhưng mệt mỏi có thể giảm một phần hoặc hoàn toàn khi nghỉ ngơi. Nó được thấy liên quan đến những cuộc tấn công cấp tính và có thể đi trước các đặc điểm thần kinh khu trú và tồn tại lâu sau khi đã qua đợt.
·        Sa sút trí tuệ không thường gặp ở MS, nhưng vài mức độ suy giảm nhận thức có thể gặp. Những bất thường thường gặp nhất là tập trung chú ý, chức năng điều hành, khái niệm trừu tượng, trí nhớ ngắn hạn, và xử lí thông tin.
·        Động kinh phổ biến ở bệnh nhân MS hơn dân số chung, xảy ra ở 2-3% bệnh nhân. Khoảng 2/3 cơn co giật ở bệnh nhân MS là cơn toàn thể nguyên phát hoặc thứ phát, 1/3 còn lại là cục bộ. Cơn co giật cục bộ đơn giản thường gặp hơn so với cơn cục bộ phức tạp. Động kinh liên quan đến MS nói chung là lành tính và thoáng qua, đáp ứng tốt với thuốc chống động kinh hoặc không cần điều trị.
·        Nhạy với nóng (hiện tượng Unthoff) hay xảy ra trong MS. Sự tăng nhẹ nhiệt độ cơ thể cũng làm xấu đi tạm thời các dấu hiệu và triệu chứng trước đó. Điều này chiếm 60-80%ở bệnh nhân MS. Nhiệt độ tăng lên có thể làm giảm chức năng nhận thức và thể chất của bệnh nhân, và cản trở các hoạt động sinh hoạt hàng ngày. Hiện tượng này xảy ra có lẽ là kết quả của phong bế đường dẫn truyền theo con đường trung tâm khi nhiệt độ cơ thể tăng. Giới hạn trên ở các dây thần kinh bị hủy myelin ở nhiệt độ thấp hơn so với bình thường. 

5.    DIỄN TIẾN LÂM SÀNG:

Diễn tiến lâm sàng của MS có 2 nét đặc trưng là cơn nặng (hay đợt cấp – exacerbation) và diễn tiến (progression)
v Cơn nặng (exacerbation): là sự xuất hiện, tái xuất hiện hay nặng lên của các triệu chứng thần kinh kéo dài hơn 24h và cách nhau ít nhất 1 tháng (nếu dưới 1 tháng xem là cùng 1 cơn)
v Tiến triển (progression): Là tình trạng thần kinh nặng dần, liên tục trong tối thiểu 6 tháng, tiếp diễn liên tục, thỉnh thoảng có giai đoạn bình nguyên tạm thời
v Tần số tái phát cơn trung bình khoảng 1 lần/2 năm, cao hơn trong năm đầu, giảm khi bệnh tiến triển
v Giả cơn nặng (pseudo-exacerbation)
-         Không có tổn thương mới
-         Có yếu tố thúc đẩy từ bên ngoài
-         Diễn tiến có thể đảo ngược
-         Triệu chứng kéo dài trong <24h 

6.    CÁC THỂ LÂM SÀNG

·        MS tái phát – thuyên giảm (Relapsing – remitting MS – RRMS):
·        Chiếm 80-90% trường hợp MS lúc khởi phát. Trong thể RRMS, các cơn rối loạn chức năng thần kinh tự thuyên giảm hoàn toàn hoặc 1 phần. Cơn xày ra cấp tính trong vài ngày đến vài tuần và hồi phục trong vài tuần đến vài tháng. Giữa các cơn tình trạng tương đối ổn định.
·        Về tiên lượng của dạng này, mức độ tàn phế phụ thuộc vào tuổi bệnh nhân, không phụ thuộc vào độ nặng của đợt cấp. Yếu tố tiên lượng nặng: khởi đầu với triệu chứng bàng quang/ruột, hồi phục không hoàn toàn sau đợt đầu tiên, thời gian ngắn giữa 2 đợt cấp đầu tiên. Có một số trường hợp không bị tàn phế.
·        MS tiến triển thứ phát (Secondary progressive MS – SPMS):
·        Khởi đầu như RRMS nhưng sau đó (10-20 năm) tiến triển nặng dần mà không có đợt cấp, hồi phục ít, cuối cùng là bình nguyên
·        Về sau, khoảng 80% tiến triển thành RRMS. Sau 15 năm: 50% số bệnh nhân cần ít trợ giúp để đi lại, sau 30 năm: trên 90% bệnh nhân trở thành tàn phế. Các bệnh nhân là nam, có triệu chứng vận động, triệu chứng tiểu não xuất hiện sớm, biểu hiện nặng trên MRI não thì khả năng trở thành tàn phế cao hơn.
·        MS tiến triển nguyên phát (Primary progressive MS – PPMS):
·        Chiếm khoảng 10% số trường hợp MS lúc khởi phát. Chức năng thần kinh giảm dần từ lúc khởi phát mà không có đợt cấp. Bệnh cảnh lâm sàng thường gặp: khởi phát với hội chứng tủy nặng dần trong nhiều tháng hoặc nhiều năm với liệt cứng 2 chi dưới không đối xứng, không rối loạn cảm giác tương ứng, bệnh cảnh ít gặp hơn là thất điều tiểu não tiến triển, các bệnh cảnh sau hiếm gặp: rối loạn nhận thức, triệu chứng thân não, thị giác.
·        Thể bệnh này chiếm 60% các ca khởi bệnh sau 40 tuổi. Các bệnh nhân khởi phát với nhiều triệu chứng thì tiến triển nặng sớm hơn là khởi phát với 1 triệu chứng. Tiên lượng tàn phế nặng hơn RRMS.
·        MS tái phát tiến triển (Progressive relapsing MS – PRMS):
·        Bệnh tiến triển ngay từ đầu, thỉnh thoảng có đợt cấp. Hiện nay, các ca bệnh tiến triển dạng này được xếp vào thể tiến triển nguyên phát (PPMS) với đợt cấp.
·        Hội chứng lâm sàng đơn độc (Clinically isolated syndromes – CISs):
·        Là đợt cấp đầu tiên với các triệu chứng gợi ý MS sau đây:
-         Diễn tiến đơn pha với các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng chứng tỏ có sự hủy myelin khu trú 1 hay nhiều ổ do viêm thần kinh trung ương
-         Diễn tiến cấp tính hoặc bán cấp, kéo dài ít nhất 24h, có hoặc không phục hồi
-         Không có sốt hay nhiễm trùng
-         Biểu hiện giống 1 đợt cấp MS trên bệnh nhân chưa từng được chẩn đoán MS trước đó

7.    CẬN LÂM SÀNG 

7.1 . CỘNG HƯỞNG TỪ

Cộng hưởng từ là một công cụ được lựa chọn để hỗ trợ chẩn đoán lâm sàng của bệnh bệnh xơ cứng rải rác. Theo tiêu chuẩn chẩn đoán MCDonald cho MS bao gồm MRI cho thấy tổn thương phân tán theo không gian và thời gian. Tác dụng hỗ trợ chẩn đoán của MRI là rất cao, với độ nhạy và độ đặc hiệu lên tới 87 và 73%. Đối với tiêu chí của McDonald về phân tán trong không gian. MRI có thể phát hiện nhiều tổn thương MS hơn so với chụp cắt lớp vi tính (CT) và MRI có thể phát hiện các vùng tổn thương hủy myelin mà hiếm khi thấy bất thường trên CT như thân não, tiểu não và tủy sống. Hầu hết các tổn thương nhìn thấy trên MRI tương quan với các tổn thương bệnh lý.
  

Đặc điểm tổn thương

Các tổn thương khu trú trên MRI gợi ý của MS thường được tìm thấy ở chất trắng, chẳng hạn như các vùng quanh não thất và cận vỏ não, thể chai, vùng dưới liều (đặc biệt là cầu não và tiểu não) và tủy sống (thường gặp ở đoạn cổ). Tổn thương MS thường có dạng hình trứng. Tổn thương cạnh não thất được sắp xếp một cách đặc trưng ở các góc phải đến thể chai như thể tỏa ra từ khu vực này. Khi xem trên hình ảnh sagittal, chúng được gọi là ngón tay Dawson. Các tổn thương MS thường tăng đậm độ trên T2. Nhiều tổn thương trong bệnh MS mạn tính sẽ thấy hình ảnh giảm đậm độ trên T1 (được gọi là lỗ đen), một số trường hợp không thấy bất
thường trên MRI.
 
Xung T2 trên MRI khó đánh giá kích thước các tổn thương MS do đó khó đánh giá kích thước tổng thể, đặc biệt đối với các tổn thương vỏ não. Các kỹ thuật MRI tiên tiến như MRI khuếch tán và MRI quang phổ thường xuyên cho thấy sự liên quan của chất trắng bình thường ở bệnh nhân MS. Tuy nhiên, do tần suất cao của các tổn thương không đặc hiệu trên MRI não, có nguy cơ đáng kể cho kết quả dương tính giả. Hơn nữa, những thay đổi về tiêu chí chẩn đoán McDonald năm 2017 dường như làm trầm trọng thêm vấn đề này.
MRI tủy sống
Các tổn thương MRI tủy sống gần như phổ biến như các tổn thương não ở bệnh nhân MS, mặc dù chúng ít có khả năng “không triệu chứng” trên lâm sàng hơn các tổn thương não. Ngược lại, tần số tín hiệu bất thường trên MRI tủy sống ở người bình thường chỉ là 2%, do đó tăng tín hiệu không liên quan đến MS thấy ở bệnh nhân lớn tuổi trên MRI sọ não thường không xảy ra ở tủy sống.  
Các tổn thương tủy sống điển hình của MS có liên quan đến các đặc điểm MRI sau:
·        Ít hoặc không phù nề cột tủy
·        Tăng tín hiệu rõ ràng trên T2W có thể nhìn thấy trong hai mặt phẳng (ví dụ: axial và sagittal)
·        Kích thước tối thiểu 3 mm nhưng không kéo dài quá 2 đốt sốt
·        Chỉ chiếm một phần của tủy sống trong mặt cắt ngang và thường nằm ở cột sau  ngoài
·       
T2-weighted sagittal (A) and axial (B) images show a focus of hyperintensity in the posterior columns of the cervical spinal cord at the C2 level. Post-gadolinium T1-weighted sagittal (C) and axial (D) images demonstrate enhancement consistent with an active plaque.

Khu trú (giới hạn rõ ràng trên T2)
 
MRI tủy sống có thể làm tăng khả năng tìm thấy sự rải rác các tổn thương trong không gian và cải thiện độ nhạy chẩn đoán so với MRI não đơn thuần. Lợi ích của MRI cột sống trong MS được thể hiện trong một nghiên cứu 104 bệnh nhân mắc MS giai đoạn đầu và khuyết tật thấp. Chẩn đoán MS được thực hiện theo tiêu chí năm 1982 của Poser et al. Tổn thương MRI tủy sống khoảng 83% và những tổn thương này thường khu trú. Tổn thương tủy khu trú thường là nhiều vùng (trung vị 3), nhỏ (trung bình 0,8 đốt sống) và thường nằm gặp nhất là tủy cổ (56%). Tổn thương lan tỏa  chiếm 13%, thường kết hợp với tổn thương khu trú. Trong nhóm bệnh nhân này, việc bổ sung tủy sống vào tổn thương MRI não, so với MRI não đơn thuần, làm tăng độ nhạy chẩn đoán của tiêu chuẩn McDonald 2001 từ 66 đến 85%.
Các tổn thương tủy sống lan rộng theo chiều dọc, đặc biệt là các tổn thương vượt quá ba đoạn cột sống và chủ yếu tổn thương trung tâm trên MRI axial, là gợi ý của bệnh viêm tủy thị thần kinh (NMO) hoặc NMOSD.

Các tổn thương cấp tính so với mạn tính

Các tổn thương MS cấp tính có xu hướng lớn hơn các tổn thương mạn tính trên MRI và có ranh giới không rõ ràng. Khi tổn thương được giải quyết, chúng trở nên nhỏ hơn với lợi nhuận sắc nét hơn. Điều này có lẽ phản ánh sự giảm phù nề và viêm hiện tại tại thời điểm hình thành mảng cấp tính, chỉ còn lại các khu vực hủy myelin, mô thần kinh đệm và rộng khoang ngoại bào khi bệnh thuyên giảm. Các tổn thương nguyên phát tiến triển của MS cho thấy gánh nặng bệnh tật thấp hơn, các tổn thương nhỏ ưu thế hơn, ít bắt thuốc hơn và thu được ít tổn thương mới trên 1 đơn vị thời gian so với MS tiến triển thứ phát.
Gadolinium-diethylenetriamine penta-acetic acid (DTPA), một chất tương phản thuận từ chỉ có thể vượt qua hàng rào máu não bị phá vỡ, rất hữu ích để đánh giá các tổn thương hoạt động. Gadolinium tăng cường độ tín hiệu trên hình ảnh T1. Không hoàn toàn rõ ràng nếu viêm gây ra sự thoái hóa myelin và thoái hóa sợi trục, nhưng giảm bắt gado hoặc biến mất sau khi điều trị bằng glucocorticoids, một liệu pháp được cho là khôi phục tính toàn vẹn của hàng rào máu não.  
 
Các tổn thương tăng tín hiệu bắt thuốc Gadolinium trên MRI T1 thường tương ứng với các vùng tăng tín hiệu trên T2W và giảm tín hiệu trên T1W không bơm thuốc, có thể là do phù. Tầm quan trọng của các tổn thương tăng bắt thuốc Gadolinium trong MS có liên quan đến các điều sau:
·        Sự tích tụ của gadolinium trong các tổn thương mới hoặc mới hoạt động trong bệnh cảnh viêm cấp tính trong MS.
·        Phần lớn các mảng tăng bắt thuốc gadolinium không có triệu chứng lâm sàng, mặc dù sự hiện diện liên tục của nó cho thấy hoạt động bệnh tiếp tục có khả năng góp phần vào sự tích tụ của bệnh.
·        Tăng bắt thuốc Gadolinium là một hiện tượng thoáng qua và thường biến mất sau một vài tuần, nhưng nó hiếm khi có thể tồn tại đến tám tuần trong các tổn thương cấp tính. Một nghiên cứu cho thấy thời gian tăng bắt thuốc trung bình là ba tuần và trung vị là hai tuần. Sự kiên trì kéo dài của việc tăng bắt thuốc nên thận trọng đối với chẩn đoán MS.
·        Các nghiên cứu theo đã chứng minh rằng sự hiện diện của các tổn thương hoạt động trên MRI nối tiếp có nguy cơ cao bệnh đang diễn tiến.
Sự tăng bắt thuốc Gadolinium có thể cung cấp một số gợi ý cho bệnh lý cơ bản của tổn thương. Các tổn thương MS thường là dạng vòng nhẫn (vòng kín hoặc vòng mở) hoặc nốt, và xảy ra trong não thường xuyên hơn ở tủy sống. Các mô hình khác có thể gợi ý chẩn đoán phân biệt:
·        Vòng lớn hoặc nhiều vòng có thể gặp trong viêm tủy não cấp lan tỏa (ADEM), bệnh lý ác tính hoặc nhiễm trùng.  
·        Tăng tín hiệu màng não và / hoặc rễ thần kinh gợi ý bệnh u hạt thần kinh
·         Dấu hiệu đinh ba (nghĩa là tăng tín hiệu theo chiều dài tủy sống kèm theo tăng tín hiệu trung tâm tủy/ống trung tâm theo mô hình "đinh ba") cũng gợi ý bệnh lý u hạt thần kinh
·        Tăng tính hiệu dạng lấm chấm hay dạng hạt thường xảy ra trong viêm tế bào lympho mạn tính với tăng sinh quanh mạch máu cầu não đáp ứng với steroid (CLIPPERS), viêm mạch, bệnh não chất trắng đa ổ tiến triển (PML) hoặc hội chứng Susac  
·        Tăng tín hiệu dạng dải gợi ý của bệnh xơ cứng đồng tâm Baló.  
·        Các tổn thương giống như đám mây với ranh giới bị mờ ở thể chai gặp trong viêm tủy thị thần kinh (NMOSD).
·        Tăng tín hiệu dạng dẹt pancake-like có thể được nhìn thấy trong bệnh lý tủy cổ
·        Tăng tín hiệu vỏ não hoàn toàn liên quan đến viêm mạch hoặc tổn thương do thiếu máu cục bộ
·        Tăng tín hiệu kéo dài hơn ba tháng có thể nghi ngờ do bệnh lý ác tính

Lỗ đen

Hầu hết các tổn thương MS là đồng tín hiệu ở chất trắng trên MRI T1W, nhưng một số tổn thương giảm tín hiệu hoặc xuất hiện dưới dạng "lỗ đen", đặc biệt là ở vùng trên liều. Những tổn thương giảm tín hiệu này không đặc hiệu tại một thời điểm nhất định, vì gần một nửa sẽ trở lại bình thường trong một vài tháng. Sự biến mất của một lỗ đen rất có thể là do sự tái tạo meylin và giảm tình trạng phù nề.

Mặc dù bằng chứng còn hạn chế, các lỗ đen kéo dài được cho là dấu hiệu của sự mất myelin nghiêm trọng và mất sợi trục. Cơ sở bệnh lý cho sự tích tụ của các lỗ đen kéo dài chủ yếu là tổn thương sợi trục. Mất sợi trục khu trú có thể góp phần vào thoái hóa Wallerian. Trái ngược với bằng chứng này, một nghiên cứu khác cho rằng các lỗ đen có liên quan đến sự tái tạo myelin.
 
Radiologically isolated syndrome (RIS) được xác định bởi hình ảnh ngẫu nhiên ở não (thường xảy ra) hoặc tủy sống (hiếm khi) phát hiện trên MRI rất gợi ý về MS, dựa trên vị trí và hình thái trong hệ thống thần kinh trung ương, ở một bệnh nhân không có tiền sử, triệu chứng hoặc dấu hiệu của bệnh xơ cứng rải rác. Thông thường, MRI được chụp cho một tình trạng hoàn toàn không liên quan đến MS như đau đầu hoặc chấn thương.
Ngoài các bất thường về chất trắng, các tổn thương hủy myelin vỏ não đã được xác định ở một số bệnh nhân mắc RIS sử dụng MRI phục hồi đảo ngược kép. 

Những tiến bộ trong kỹ thuật MRI 

Thật khó để phân biệt phù nề của một tổn thương cấp tính của tăng sinh thần kinh đệm (Gliosis) và tổn thương hủy myelin mãn tính nếu MRI thông thường. Ngoài ra, các kỹ thuật MRI thông thường không phân biệt các biểu hiện khác của bệnh lý MS như hủy myelin, tái tạo myelin, mất sợi trục và tăng sinh thần kinh đệm.  
Cộng hưởng từ quang phổ phospho (MRS) có thể cung cấp thông tin về chuyển hóa phospholipid và MRS proton có thể cung cấp thông tin về các thành phần trao đổi chất khác, chẳng hạn như N-acetyl aspartate (NAA, một chất đánh dấu tế bào thần kinh), creatine phosphate (Cr, một chất đánh dấu năng lượng), hợp chất chứa choline (thành phần màng) và axit lactic (LA). MS mãn tính có liên quan đến việc giảm NAA so với choline và Cr trong não. Tỷ lệ NAA / Cr giảm là phương tiện phổ biến để thể hiện mức giảm đó. Tỷ lệ giảm này cho thấy mất tế bào thần kinh hoặc sợi trục, phù hợp với các nghiên cứu bệnh lý và tương ứng với khiếm khuyết trong MS. Ngoài ra, nồng độ NAA trong não có thể là một dấu hiệu thay thế độ nhạy của mất tế bào thần kinh trong MS.
Hình ảnh MRI khuếch tán và khuếch tán sức căng, cũng như MRS, có thể cung cấp cái nhìn sâu sắc về mất sợi trục và bất thường khuếch tán trong chất trắng và sự phát triển của chất xám. Các phương pháp MRI định lượng như tỷ lệ truyền từ hóa ngày càng được sử dụng để đánh giá hàm lượng myelin và số lượng sợi trục.

Hình ảnh MRI khuếch tán sức căng cho phép đo bất đẳng hướng phân đoạn, phản ánh mức độ khuếch tán của các phân tử nước theo một hướng so với nhiều hướng. Kỹ thuật này rất hữu ích để đánh giá tính toàn vẹn của các vùng chất trắng, thường có mức độ dị hướng cao do sự sắp xếp tuyến tính của chúng và sự khuếch tán nước được ưa thích dọc theo trục dài của các sợi myelin. Tổn thương các sợi trục thần kinh hoặc vỏ myelin cho phép tăng khả năng khuếch tán của nước qua đường chất trắng và do đó làm giảm dị hướng phân đoạn.
Chất trắng xuất hiện bình thường ngay liền kề với các mảng nhìn thấy trên hình ảnh T2 có thể làm giảm các dị hướng bất thường. Lấy ví dụ, một nghiên cứu đánh giá 36 mảng chất trắng ở 20 bệnh nhân mắc MS cho thấy kích thước mảng trung bình, được đo bằng cách giảm 40% dị hướng phân đoạn, đã tăng đáng kể (145%) so với kích thước được đo bằng T2W.
Mặc dù MS chủ yếu ảnh hưởng đến chất trắng, nhưng sự tham gia của chất xám vỏ não là phổ biến. MRI T2W thông có thể đánh giá thấp kích thước mảng MS và do đó có thể bỏ sót các tổn thương, đặc biệt đối với các tổn thương vỏ não. Các tổn thương chất xám có thể được phát hiện khi sử dụng các kỹ thuật MRI tiến bộ, bao gồm MRI 7 Tesla, hình ảnh phục hồi đảo ngược chất lỏng hai chiều và ba chiều, hình ảnh phục hồi đảo ngược kép, phục hồi đảo ngược pha, hình ảnh khuếch tán sức căng. 

7.2 . DỊCH NÃO TỦY

Phân tích dịch não tủy (CSF) và xác định các dải oligoclonal đặc hiệu CSF, điện thế gợi, chụp cắt lớp vi tính kết hợp quang học và các xét nghiệm tự kháng thể có thể hữu ích trong đánh giá MS nghi ngờ khi chẩn đoán hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) không đủ để hỗ trợ chẩn đoán.
Phân tích CSF và các dải oligoclonal  -  Chọc dò dịch não tuỷ không phải là một xét nghiệm giúp chẩn đoán bệnh ở bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng và tổn thương trên MRI não của MS kinh điển, nhưng nó có thể được sử dụng để giúp tăng độ tin cậy chẩn đoán trong các trường hợp sau:
·        Khi bệnh nhân có hội chứng đơn độc lâm sàng gợi ý MS mà thoả mãn tiêu chí hình ảnh học rải rác theo không gian nhưng không theo thời gian; các tiêu chí của McDonald chấp nhận việc bác sĩ tìm kiếm các nhóm oligoclonal  trong CSF
·        Đối với những bệnh nhân mắc hội chứng đơn độc lâm sàng có kết quả MRI không đáp ứng tiêu chí McDonald là rải rác trong không gian (nghĩa là MRI não cho thấy không có hoặc có ít tổn thương), đánh giá về dịch não tủy cho các nhóm globulin miễn dịch oligoclonal G (IgG) giúp ước tính rủi ro tiến triển thành đa xơ cứng.
·        Với bệnh cảnh lâm sàng có triệu chứng khác ngoài hội chứng lâm sàng đơn độc điển hình, trong đó bao gồm diễn tiến tăng dần (nghĩa là gợi ý MS nguyên phát tiến triển)
·        Khi các đặc điểm lâm sàng, hình ảnh hoặc xét nghiệm không điển hình của MS
·        Trong các quần thể mà MS ít phổ biến hơn, bao gồm trẻ em và người lớn tuổi
·        Đánh giá định tính các nhóm IgG oligoclonal của CSF đồng thời với huyết thanh là điều quan trọng nhất khi xác định chẩn đoán MS.
Lặp đi lặp lại chọc dò thắt lưng và phân tích CSF nếu nghi ngờ lâm sàng đối với MS cao nhưng kết quả CSF ban đầu là không rõ ràng, âm tính hoặc chỉ hiển thị một dải duy nhất trên tập trung đẳng điện.
Các dải Oligoclonal được tìm thấy ở 95% bệnh nhân được chẩn đoán MS dựa vào lâm sàng. Các dải oligoclonal đại diện cho các lớp kháng thể giới hạn được mô tả như các dải rời rạc trên gel agarose. Một CSF dương tính dựa trên việc tìm thấy các dải oligoclonal khác với bất kỳ dải nào như vậy trong huyết thanh, hoặc chỉ số IgG tăng. Mức IgG có thể được biểu thị bằng phần trăm của tổng protein (bình thường <11 phần trăm), theo phần trăm của albumin (bình thường <27 phần trăm), bằng cách sử dụng chỉ số IgG được tính toán (giá trị bình thường <0,66 đến <0,9, tùy thuộc vào phòng thí nghiệm riêng lẻ), hoặc bằng cách sử dụng một công thức để tổng hợp chất lỏng trong máu của IgG.
Trong MS áp lực dịch não tuỷ thường bình thường. Tổng số bạch cầu là bình thường ở khoảng một phần ba số bệnh nhân, vượt quá 15 tế bào / microL trong một phần ba khác và hiếm khi vượt quá 50 tế bào / microL (nếu có sẽ làm tăng sự nghi ngờ về nguyên nhân khác). Tế bào lympho là loại tế bào chiếm ưu thế, phần lớn trong số đó là tế bào T. Mức protein CSF (hoặc albumin) thường là bình thường. Albumin không được tổng hợp trong hệ thống thần kinh trung ương, và do đó xác định albumin cho thấy dấu hiệu phá vỡ hàng rào máu-CSF tốt hơn so với protein tổng số, một số trong đó có thể được tổng hợp trong hệ thống thần kinh trung ương (ví dụ, immunoglobulin).     

Lên đến 8% mẫu CSF từ bệnh nhân không có MS cũng chứa các dải oligoclonal; hầu hết là kết quả của nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương mãn tính, nhiễm siêu vi và bệnh thần kinh. Trong nhiều trường hợp như vậy, các dải oligoclonal cũng được phản ánh trong phân tích huyết thanh. Tuy nhiên, sự hiện diện của các dải oligoclonal không tương đương với chẩn đoán của MS, do số lượng dương tính giả có thể xảy ra và sự thay đổi trong kỹ thuật và diễn giải trong các phòng thí nghiệm khác nhau. Độ cao của mức độ globulin miễn dịch CSF so với các thành phần protein khác là một phát hiện phổ biến ở bệnh nhân mắc MS và gợi ý tổng hợp nội mô. Sự gia tăng immunoglobulin chủ yếu là IgG, mặc dù sự tổng hợp của immunoglobulin M (IgM) và immunoglobulin A (IgA) cũng tăng lên.
 

7.3 . Các điện thế gợi  

Các điện thế gợi là các sự kiện điện được tạo ra trong hệ thống thần kinh trung ương bằng cách kích thích ngoại biên của một cơ quan cảm giác. Các điện thế gợi được sử dụng để phát hiện chức năng hệ thống thần kinh trung ương cận lâm sàng, bất thường. Phát hiện một tổn thương cận lâm sàng ở một vị trí xa khu vực rối loạn chức năng lâm sàng hỗ trợ chẩn đoán MS đa nhân. Các điện thế gợi cũng có thể giúp xác định vị trí giải phẫu của tổn thương trong các vùng không dễ hình dung bằng hình ảnh (ví dụ: dây thần kinh thị giác, cột sống lưng).
Ba nghiệm pháp điện thế gợi được thực hiện thường xuyên nhất là điện thế gợi cảm giác thân thể, điện thế gợi đáp ứng thị giác và điện thế gợi thính giác. Bệnh nhân mắc MS xác định lâm sàng có điện thế gợi đáp ứng thị giác bất thường trong 50 đến 90% trường hợp. Điện thế gợi thị giác đặc biệt hữu ích ở những bệnh nhân thiếu bằng chứng lâm sàng rõ ràng về rối loạn chức năng dại não, chẳng hạn như những người mắc bệnh tủy tiến triển mạn tính. Rối loạn ở mắt hoặc võng mạc phải được loại trừ trước khi đưa ra các điện thế gợi thị giác với sự khử ion trong đường dẫn quang.

7.4 . Chụp cắt lớp kết hợp quang học  

Chụp cắt lớp kết hợp quang học (OCT) sử dụng sóng ánh sáng hồng ngoại phản xạ cấu trúc vi mô bên trong của các mô sinh học để tạo ra hình ảnh dựa trên độ phản xạ quang học. OCT cung cấp một cách không xâm lấn để hình ảnh võng mạc ở độ phân giải cao. Nó có thể được sử dụng để đo độ dày của lớp sợi thần kinh võng mạc, giảm ở hầu hết bệnh nhân (85%) với viêm dây thần kinh thị giác. Suy thoái thần kinh thị giác hoặc đường quang dẫn đến thoái hóa ngược của sợi trục thần kinh võng mạc không myelin. Mất lớp sợi thần kinh võng mạc trở nên rõ ràng với OCT khoảng ba tháng sau khi bị viêm thần kinh thị giác.
Vai trò của OCT đối với chẩn đoán MS không được thiết lập rõ. Tuy nhiên, xét nghiệm OCT có thể hữu ích trong việc chứng minh bằng chứng khách quan về mất lớp sợi thần kinh võng mạc ở những bệnh nhân có tiền sử phù hợp với viêm dây thần kinh thị giác nhưng nếu không thì kiểm tra và chụp ảnh não bình thường. Ngoài ra, một số dữ liệu cho thấy rằng lớp sợi thần kinh võng mạc và lớp tế bào hạch mỏng hơn nghiêm trọng hơn với rối loạn phổ viêm cơ thần kinh so với MS, một phát hiện có thể hữu ích trong việc phân biệt hai rối loạn. 

7.5 . Xét nghiệm tự kháng thể

Thử nghiệm tự kháng thể huyết thanh IgG aquaporin-4 (AQP4) và tự kháng thể myelin oligodendrocyte glycoprotein IgG (MOG-IgG) được chỉ định cho các bệnh nhân có biểu hiện suy giảm hệ thần kinh trung ương cấp tính khi xét nghiệm.
Kháng thể AQP4 - Kháng thể AQP4 là một dấu ấn sinh học cụ thể cho rối loạn phổ viêm tủy thị thần kinh (NMOSD). Do đó, bệnh nhân nghi ngờ có NMOSD nên được xét nghiệm tìm kháng thể IgG AQP4 huyết thanh. Các trường hợp nghi ngờ đối với NMOSD bao gồm những điều sau đây:
·        Viêm dây thần kinh thị giác đồng thời hai bên, liên quan đến giao thoa thị giác, gây ra khiếm khuyết trường thị giác hoặc gây mất thị lực nghiêm trọng
 
·        Một hội chứng tủy sống lan tỏa (hiếm khi cục bộ), đặc biệt là khi đi kèm với co cứng kịch phát; MRI cột sống có thể cho thấy một tổn thương tủy sống lan rộng theo chiều dọc kéo dài nhiều hơn 3 đoạn đốt sống.
·       
Một hội chứng lâm sàng tại trung tâm gây nôn bao gồm nấc cụt hoặc buồn nôn và ói mửa
Kháng thể MOG-IgG  -  Kháng thể MOG-IgG là một dấu hiệu của viêm tủy não liên quan đến MOG (MOG-EM), một rối loạn hủy myelin tương đối hiếm gặp, đặc trưng bởi một loạt các biểu hiện bao gồm tái phát và viêm dây thần kinh hai bên, viêm tủy. viêm não lan tỏa cấp tính (ADEM).

8.    TIÊN LƯỢNG CHUNG

Tiên lượng diễn tiến 1 cac bệnh MS thường dựa vào các yếu tố sau:
·        Thể bệnh: Thể tiến triển từ đầu thường tàn phế sớm hơn thể tái phát – thuyên giảm
·        Trên MRI-gadolinium: dựa vào thể tích sang thương mức độ teo não và mức độ teo tủy
·        Thai kỳ: phụ nữ thường khởi phát bệnh ở độ tuổi sinh sản, đợt cấp ít xuất hiện trong thai kỳ nhưng dễ xảy ra ở giai đoạn hậu sản
·        Chủng tộc: BN người Mỹ da đen có tuổi khởi phát trễ hơn, triệu chứng đa ổ và tàn phế nhiều hơn người Mỹ da trắng.
·        Hút thuốc lá có thể làm tăng khả năng chuyển từ RRMS thành SPMS.
·        Các bệnh nhân có bệnh lý khác: đang điều trị bằng antiTNFalpha tăng nguy cơ khởi phát bệnh.
 
Tài liệu tham khảo
  1. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK222388/
  2. http://uptodate.searchbox.science/contents/manifestations-of-multiple-sclerosis-in adults.
  3. Sổ tay lâm sàng thần kinh sau đại học, Bộ môn thần kinh, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
  4. https://www.medscape.com/viewarticle/588913_2
  5. https://www.verywellhealth.com/what-is-a-ms-pseudo-exacerbation-4588928
  6. http://uptodate.searchbox.science/contents/clinical-presentation-course-and-prognosis-of-multiple-sclerosis-in-adults.
  7. Sách Điều trị bệnh thần kinh, Bộ môn Thần kinh, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh.
  8. http://uptodate.searchbox.science/contents/evaluation-and-diagnosis-of-multiple-sclerosis-in-adults.
  9.  Adams and victor’s principles of Neuroglogy.
  10. https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/multiple-sclerosis/symptoms-causes/syc-20350269
  11. https://www.nationalmssociety.org/Symptoms-Diagnosis/MS-Symptoms
  12. https://radiologyassistant.nl/neuroradiology/multiple-sclerosis
Tác giả bài viết: Bs Nguyễn Minh Cường – Khoa Nội Tổng Hợp
Từ khóa:

rải rác

Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Tin mới

Số ĐT đặt lịch khám bệnh
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN, Địa chỉ: 184 Trần Quý Cáp- Phường Tự An- TP Buôn Ma Thuột- tỉnh Đắk Lắk, Điện thoại nóng: 0262. 3919009 - 0262. 3852654
Điện thoại phòng KHTH
Thông báo mời thầu mời thầu Gói thầu: Mua thuốc Vị thuốc cổ truyền năm 2021 thuộc danh mục thuốc cấp cơ sở, Dự án: Mua thuốc phục vụ khám, chữa bệnh của Bệnh viện Đa khoa vùng Tây Nguyên
Lịch họp thường niên 2021
CÁC ÁP XE QUANH HỌNG
VIÊM MÀNG NÃO MỦ
ĐIỀU TRỊ NỘI KHOA THAI NGOÀI TỬ CUNG
BỆNH LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG (Systemic lupus erythematosus)
TẬP ĐỨNG THĂNG BẰNG TĨNH VÀ ĐỘNG
Bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026
DANH MỤC TÀI LIỆU VỀ BẦU CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XV VÀ ĐẠI BIỂU HĐND CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2021-2026
HẠN CHẾ SỬ DỤNG RƯỢU BIA ĐỂ BẢO VỆ SỨC KHỎE
VAI TRÒ CỦA VACCINE TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19
THEO DÕI BỆNH NHÂN Ở GIAI ĐOẠN HỒI TỈNH
CÁC LOẠI VACCINE NGỪA COVID-19 HIỆN NAY
UNG THƯ VÒM HỌNG – BẠN NÊN BIÉT
TÌM HIỂU VỀ VACCINE CORONA VIRUS
Triển vọng chấm dứt đại dịch COVID-19
VAI TRÒ CỦA DỊCH TRUYỀN ALBUMIN TRÊN BỆNH NHÂN HỒI SỨC
Các thương tật thứ cấp thường gặp và cách phòng ngừa
Về việc công bố công khai dự toán chi Ngân sách Nhà nước năm 2021 của Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên
KHÁNG ĐÔNG Ở BỆNH NHÂN CÓ BỆNH LÝ TIM MẠCH PHẢI PHẪU THUẬT NGOÀI TIM

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 38
  • Hôm nay: 11087
  • Tháng hiện tại: 113741
  • Tổng lượt truy cập: 13499905
Cổng dịch vụ công quốc gia
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang