bvvtn

DẠI LÊN CƠN – BÁC SỸ NHÌN BỆNH NHÂN RA ĐI TRONG BẤT LỰC

Đăng lúc: Thứ hai - 23/09/2019 12:56 - Người đăng bài viết: admin
DẠI LÊN CƠN – BÁC SỸ NHÌN BỆNH NHÂN RA ĐI TRONG BẤT LỰC

DẠI LÊN CƠN – BÁC SỸ NHÌN BỆNH NHÂN RA ĐI TRONG BẤT LỰC

Ngày 15/9 vừa qua khoa Nhi Tổng hợp có tiếp nhận một bệnh nhân dại lên cơn


Ngày 15/9 vừa qua khoa Nhi Tổng hợp có tiếp nhận một bệnh nhân dại lên cơn:
Cách đây khoảng 1 tháng cháu Y Z Adrơng sinh năm 2014 ở Hòa Đông Krông Pak bị chó con ở nhà cắn, sau cắn bé, chó con có biểu hiện bất thường, người nhà nhốt chó lại nhưng chó lại cắn thêm người khác. Tức giận người nhà đập chó chết nhưng không tiêm phòng dại cho cháu. Cách nhập viện một tuấn cháu sốt nhẹ ho, 3 ngày sau yếu 2 chi dưới được nhập BV đa khoa Tp Buôn Ma Thuột sau đó chuyển Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây nguyên. Bệnh nhân vào viện: tỉnh, mắt long lanh, hốt hoảng thở khò khè, tăng tiết đờm dãi, sợ nước sợ gió, đồng tủ 2 bện dãn, cổ cứng. tê chân và run chân khi thăm khám. Bệnh nhân được chẩn đoán dại lên cơn. Từ vong sau 6 giờ trước sự bất lực của bác sỹ.
Bệnh dại thuộc nhóm B trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm
1. Đặc điểm của bệnh:
- Bệnh dại là bệnh nhiễm vi rút cấp tính của hệ thống thần kinh Trung ương từ động vật lây sang người bởi chất tiết, thông thường là nước bọt bị nhiễm vi rút dại. Hầu hết các trường hợp phơi nhiễm với bệnh dại đều qua vết cắn, vết liếm của động vật mắc bệnh dại, đôi khi có thể bị nhiễm qua đường tiếp xúc như hít phải khí dung hoặc ghép tổ chức mới bị nhiễm vi rút dại. Khi đã lên cơn dại, kể cả động vật và người đều dẫn đến tử vong.
- Giai đoạn tiền triệu chứng: thường 1- 4 ngày, biểu hiện cảm giác sợ hãi, đau đầu, sốt, mệt mỏi, khó chịu, cảm giác tê và đau tại vết thương nơi vi rút xâm nhập.
- Giai đoạn viêm não thường biểu hiện mất ngủ, tăng cảm giác kích thích như: sợ ánh sáng, tiếng động và gió nhẹ. Ngoài ra, còn có rối loạn hệ thần kinh thực vật như giãn đồng tử, tăng tiết nước bọt, vã mồ hôi, hạ huyết áp, đôi khi có biểu hiện xuất tinh tự nhiên.
- Bệnh tiến triển theo hai thể: thể liệt kiểu hướng thượng (hội chứng Landly) và thể cuồng.
- Bệnh thường kéo dài từ 2- 6 ngày, đôi khi lâu hơn và chết do liệt cơ hô hấp.
- Chẩn đoán bệnh dựa vào các triệu chứng lâm sàng, đặc biệt là các chứng sợ nước, sợ gió, sợ ánh sáng với các yếu tố dịch tễ học có liên quan.
- Chẩn đoán xác định: bằng xét nghiệm kháng thể miễn dịch huỳnh quang trực tiếp (IFA) từ mô não hoặc phân lập vi rút trên chuột hay trên hệ thống nuôi cấy tế bào. Có thể dựa vào kết quả xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang của các mảnh cắt da đã làm đông lạnh lấy từ dìa tóc ở gáy bệnh nhân hoặc chẩn đoán huyết thanh bằng phản ứng trung hoà trên chuột hay trên nuôi cấy tế bào. Ngày nay, với kỹ thuật mới có thể phát hiện được ARN của vi rút dại bằng phản ứng PCR hoặc phản ứng RT-PCR.
2. Tác nhân gây bệnh
- Tác nhân gây bệnh là vi rút dại (Rhabdovirus) thuộc họ Rhabdoviridae, giống Lyssavirus.
- Hình thái: hình viên đạn một đầu tròn, đầu kia dẹt. Vi rút có chiều dài trung bình 100-300 nm, đường kính 70-80 nm. Sự thay đổi chiều dài của vi rút phản ánh sự khác biệt giữa các chủng vi rút dại. Bộ gen di truyền là ARN.
Vi rút dại bao gồm protein 67%, lipid 26%, ARN 1% và cacbonhydrat 3%. Vỏ vi rút có hai màng mỏng phospholipid xen kẽ với những gai. Nucleocapside có cấu trúc đối xứng hình trụ. Nhân là ARN một sợi, được bảo vệ bằng những đơn vị nucleoprotein mang tính đặc hiệu của họ Rhabdo, vỏ ngoài của vi rút là chất lipid nên dễ bị phá hủy trong các chất dung môi của lipid.
- Sức đề kháng của vi rút dại yếu, dễ bị bất hoạt ở nhiệt độ 560C trong vòng 30 phút, ở 600C/5-10 phút và ở 700C/2 phút. Vi rút bị mất độc lực dưới ánh sáng và các chất sát khuẩn ở nồng độ 2-5%. Trong điều kiện lạnh 40C, vi rút sống được từ vài tuần đến 12 tháng, ở nhiệt độ dưới 00C sống được từ 3 - 4 năm. Vi rút dại được bảo tồn chủ yếu trong cơ thể vật chủ.
Có 2 chủng vi rút dại: vi rút dại đường phố là vi rút dại tồn tại trên động vật bị bệnh và vi rút dại cố định (cố định thời gian ủ bệnh trên thỏ). Chủng vi rút dại cố định được dùng để làm vắc xin dại lần đầu tiên bởi L.Pasteur.
3.  Phương thức lây truyền
Bệnh dại được lây truyền qua nước bọt của động vật mắc bệnh bài tiết ra ngoài và theo vết cắn, vết liếm, vết xước trên da bị rách (hoặc qua màng niêm mạc còn nguyên vẹn) vào cơ thể, từ đó theo dây thần kinh đến các hạch và thần kinh trung ương. Khi đến thần kinh trung ương, vi rút sinh sản rất nhanh rồi lại theo dây thần kinh ra tuyến nước bọt. Tại thời điểm này, thần kinh chưa bị tổn thương đáng kể vì thế nhìn bề ngoài con vật vẫn bình thường nhưng nước bọt đã có vi rút dại. Sau đó, vi rút dại hủy hoại dần các tế bào thần kinh làm xuất hiện các triệu chứng lâm sàng điển hình của bệnh dại.
Sự lây truyền bệnh dại qua đường không khí đã được chứng minh trong quần thể loài dơi sống ở hang động và ở môi trường phòng thí nghiệm. Tuy vậy, cũng rất hiếm xảy ra. Sự lây truyền từ loài dơi hút máu bị nhiễm vi rút dại đến súc vật nuôi trong nhà cũng gặp ở Châu Mỹ La Tinh. Những loài dơi ăn sâu bọ bị nhiễm vi rút dại ở Mỹ rất hiếm lây truyền bệnh dại sang những súc vật sống trên mặt đất, kể cả súc vật hoang dã hoặc súc vật nuôi trong nhà.
4. Tính cảm nhiễm và miễn dịch: Tất cả loài động vật máu nóng đều có cảm nhiễm với vi rút dại ở mức độ khác nhau. Tính cảm nhiễm cao nhất là chó, chó sói, mèo, cáo rồi đến trâu, bò, ngựa, lợn, lạc đà, khỉ, gấu, chuột. Trong đó, chó bị mắc bệnh nhiều nhất. Dơi hút máu, dơi ăn hoa quả, dơi ăn côn trùng đều có thể nhiễm bệnh. Loài chim không mẫn cảm với bệnh dại, trừ khi gây bệnh thí nghiệm. Trong thí nghiệm thường dùng thỏ, chuột lang, chuột bạch. Người cũng có cảm nhiễm cao với bệnh dại nhưng kém hơn một số súc vật. Cho đến nay, chưa biết được tính miễn dịch tự nhiên ở người.
5.  Các biện pháp phòng, chống dịch
Những người bị chó, mèo cắn phải thực hiện nghiêm ngặt nội dung sau:
Xử lý vết thương: Rửa ngay thật kỹ vết cắn bằng nước xà phòng đặc, sau đó rửa bằng nước muối, bôi chất sát trùng như cồn, cồn iốt để làm giảm lượng vi rút tại vết cắn. Chỉ khâu vết thương trong trường hợp vết cắn đã quá 5 ngày. Tiêm vắc xin uốn ván và điều trị chống nhiễm khuẩn nếu cần.
Các vắc-xin được sử dụng để tiêm phòng trước phơi nhiễm và sau phơi nhiễm là như nhau, nhưng lịch tiêm chủng khác nhau. Globulin miễn dịch bệnh dại chỉ được sử dụng để điều trị dự phòng sau phơi nhiễm. Vắc-xin hiện đại nuôi cấy tế bào hoặc nguồn gốc trứng-phôi là an toàn và hiệu quả hơn so với vắc-xin cũ, được sản xuất trong mô não.  
Tiêm phòng trước phơi nhiễm
Nên tiêm vắc-xin trước phơi nhiễm cho những người có nguy cơ cao bị phơi nhiễm bệnh dại, chẳng hạn như nhân viên phòng thí nghiệm làm việc với virus dại, bác sĩ thú y, người xử lý động vật và nhân viên động vật hoang dã và những người khác sống trong hoặc đi đến các quốc gia hoặc khu vực có nguy cơ. Khách du lịch có tiếp xúc ngoài trời rộng rãi ở các vùng nông thôn. Trẻ em sống ở hoặc đến các quốc gia hoặc khu vực có nguy cơ mắc bệnh.
Tiêm vắc-xin bệnh dại trước phơi nhiễm bao gồm ba liều vắc-xin từ tế bào nuôi cấy tế bào hoặc phôi trứng được tiêm vào các ngày 0, 7 và 21 hoặc 28. Đối với người lớn, vắc-xin phải luôn luôn được tiêm ở vùng deltoid của cánh tay; Đối với trẻ nhỏ (dưới 1 tuổi), nên sử dụng vùng phía trước của đùi. Để giảm chi phí trước phơi nhiễm, có thể cân nhắc tiêm vắc-xin trong da với thể tích 0,1 ml vào các ngày 0, 7 và 21 hoặc 28. Sử dụng đồng thời chloroquine có thể làm giảm đáp ứng kháng thể đối với việc sử dụng vắc-xin bệnh dại nuôi cấy trong tế bào. Do đó, những người hiện đang điều trị dự phòng sốt rét hoặc không thể hoàn thành toàn bộ loạt điều trị trước phơi nhiễm ba liều trước khi bắt đầu điều trị dự phòng sốt rét nên được tiêm vắc-xin trước phơi nhiễm bằng đường tiêm bắp.
Tiêm nhắc lại định kỳ không được khuyến cáo cho du khách nói chung. Tuy nhiên, trong trường hợp phơi nhiễm qua vết cắn hoặc vết trầy xước của động vật được biết đến hoặc nghi ngờ mắc bệnh dại, những người trước đó đã nhận được một loạt vắc-xin bệnh dại trước hoặc sau phơi nhiễm (với vắc-xin nuôi cấy tế bào hoặc trứng phôi) nên nhận được hai liều vắc-xin tăng cường. Tốt nhất, nên dùng liều đầu tiên vào ngày tiếp xúc và 3 ngày thứ hai sau đó. Globulin miễn dịch bệnh dại là không cần thiết cho những bệnh nhân trước đây đã nhận được một loạt tiêm chủng đầy đủ.
Thận trọng và chống chỉ định
Vắc-xin dại hiện đại được dung nạp tốt. Tần suất của các phản ứng bất lợi ít(đau cục bộ, ban đỏ, sưng và ngứa). Các phản ứng toàn thân thỉnh thoảng (khó chịu, đau nhức và đau đầu toàn thân) đã được ghi nhận sau khi tiêm bắp hoặc tiêm trong da.
Phòng ngừa sau phơi nhiễm
Ở các quốc gia hoặc khu vực có nguy cơ mắc bệnh dại, các trường hợp bị động vật cắn hoặc tiếp xúc với động vật bị nghi mắc bệnh dại cần điều trị dự phòng sau phơi nhiễm.  
1. Điều trị vết thương
Rửa kỹ vết thương bằng xà phòng/chất tẩy rửa và nước, sau đó là sử dụng ethanol hoặc dung dịch nước iốt hoặc Pididone.
2. Chích ngừa thụ động
Nên sử dụng immunoglobulin bệnh dại ở người (HRIG) hoặc các sản phẩm immunoglobulin dại (ERIG) hoặc F (ab ') 2 cho phơi nhiễm loại III cũng như đối với một số phơi nhiễm loại II. Chích ngừa thụ động nên được tiêm ngay trước hoặc ngay sau khi tiêm liều vắc-xin đầu tiên được đưa ra trong chế độ điều trị dự phòng sau phơi nhiễm. Nếu không có sẵn ngay lập tức, tiêm chủng thụ động có thể được thực hiện cho đến ngày thứ bảy sau khi bắt đầu loạt điều trị dự phòng sau phơi nhiễm chính (với vắc-xin bệnh dại nuôi cấy tế bào hoặc phôi trứng).
Liều lượng và cách dùng: Liều dùng cho HRIG là 20 IU / kg trọng lượng cơ thể và cho ERIG và F (ab ') 2 sản phẩm 40 IU / kg trọng lượng cơ thể. Liều đầy đủ của immunoglobulin bệnh dại, nên được tiêm vào và xung quanh vị trí vết thương. Nên tránh tiêm nhiều kim vào vết thương
3. Chủ động tiêm chủng
Nên luôn luôn sử dụng vắc-xin bệnh dại dựa trên tế bào nuôi cấy hoặc nuôi cấy trứng để điều trị dự phòng sau phơi nhiễm.  
Phác đồ tiêm bắp: Cả hai tiêm TM 5 liều hoặc bốn liều đều được khuyến nghị tiêm vắc-xin sau phơi nhiễm;  
Phác đồ năm liều được thực hiện vào các ngày 0, 3, 7, 14 và 28 vào cơ deltoid.
Phác đồ bốn liều được thực hiện dưới dạng hai liều vào ngày 0 (một liều ở bên phải và một ở cánh tay trái (cơ deltoid), và sau đó một liều vào mỗi ngày 7 và 21 vào cơ deltoid.
Phác đồ trong da:  Thể tích mỗi lần tiêm trong da nên là 0,1 ml với cả vắc-xin bệnh dại tế bào Verorab đã được tinh chế và vắc-xin bệnh dại phôi gà đã được tinh chế.
Tài liệu tham khảo
  1. Viện Y Tế Công Cộng Tp Hồ Chí Minh (2012), Bệnh dại https://iph.org.vn/index.php/bnh-truyn-nhim/230-bnh-di-rabies.
  2. WHO (2019), Rabies. (https://www.who.int/ith/vaccines/rabies/en/

Tác giả bài viết: TS.BS. Trần Thúy Minh, Trưởng khoa Nhi Tổng hợp
Đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Ý kiến bạn đọc

 

Tin mới

Điện thoại nóng
Kiểm tra kỹ năng thực hành máy tính trước khi ký hợp đồng Bệnh viện
Thông báo đấu giá tài sản: Quyền thuê mặt bằng kinh doanh dịch vụ Nhà để xe tại Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên
Thông báo Chương trình khám sàng lọc tim bẩm sinh
Thư khen cảm ơn y bác sỹ hai khoa
THỦNG MÀNG NHĨ DO CHẤN THƯƠNG
NGƯNG HÔ HẤP TUẦN HOÀN DO ĐỢT CẤP BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
BÁO CÁO CA BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE NẶNG THÀNH CÔNG
CHĂM SÓC BỆNH NHÂN TẠI PHÒNG HỒI TỈNH, HỒI SỨC SAU PHẪU THUẬT
“ BỔ DƯƠNG HOÀN NGŨ THANG” BÀI THUỐC QUÝ TRONG ĐIỀU TRỊ DI CHỨNG VẬN ĐỘNG SAU ĐỘT QUỴ
BỆNH NHÂN THÔNG THÁI
THUẬT NGỮ, ĐỊNH NGHĨA, CÁCH ĐO ĐẠC ĐỂ MÔ TẢ CÁC ĐẶC ĐIỂM SIÊU ÂM CỦA NỘI MẠC TỬ CUNG VÀ CÁC TỔN THƯƠNG TRONG LÒNG TỬ CUNG
VẤN ĐỀ CHẨN ĐOÁN VÀ TẦM SOÁT UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT
PHÁT ĐỘNG CHIẾN DỊCH NHẮN TIN ỦNG HỘ BỆNH NHÂN UNG THƯ
KHOA CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN TRIỂN KHAI PHẪU THUẬT NỘI SOI KHỚP VAI
MỘT SỐ DẤU ẤN SINH HỌC TRONG ĐÁNH GIÁ KHỐI U BUỒNG TRỨNG
TÌNH HÌNH THU DUNG ĐIỀU TRỊ BỆNH SXHD TẠI KHOA TRUYỀN NHIỄM BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN
VIÊM TRONG BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
Thư cảm ơn BN Nguyễn Khắc Trung
CẬP NHẬT ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TUÝP 2 THEO HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRỊ MỚI ADA 2019, ESC 2019
Viêm màng não tăng bạch cầu ái toan

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 84
  • Khách viếng thăm: 72
  • Máy chủ tìm kiếm: 12
  • Hôm nay: 5050
  • Tháng hiện tại: 125689
  • Tổng lượt truy cập: 7261569
Cuộc thi trắc nghiệm Tìm hiểu 90 năm lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang