Một số quan điểm mới về diễn tiến của viêm ruột thừa

Đăng lúc: Thứ sáu - 01/04/2016 03:16 - Người đăng bài viết: admin
Kinh điển, mọi người đều cho rằng ruột thừa viêm nếu không được cắt bỏ chắc chắn sẽ dẫn tới hoại tử và vỡ mủ.
Thời gian diễn tiến của quá trình này tùy thuộc vào từng bệnh nhân. Trong một nghiên cứu về diễn tiến tự nhiên của viêm ruột thừa [7], các tác giả đã phỏng vấn bệnh nhân về thời gian diễn tiến của các triệu chứng. Kết quả, bệnh nhân viêm ruột thừa chưa vỡ mủ có thời gian xuất hiện triệu chứng trung bình là 22 giờ trước khi đến viện. Trong khi đó, thời gian trung bình của những bệnh nhân vỡ mủ là 57 giờ. Nhưng có đến 20% số trường hợp viêm ruột thừa vỡ mủ lại được mổ trước 24 giờ kể từ khi xuất hiện triệu chứng và có 1 bệnh nhân vỡ mủ khi triệu chứng đầu tiên xuất hiện chỉ có 11 giờ.
Tuy nhiên, ngày càng có nhiều chứng cứ cho thấy không phải tất cả ruột thừa viêm đều dẫn tới vỡ mủ mà quá trình viêm của ruột thừa có thể tự hóa giải và ổn định cũng không hiếm [1]. Trên cơ sở phân tích dịch tễ học, Linvingston và cs. [4] cho rằng viêm ruột thừa không vỡ mủ và viêm ruột thừa vỡ mủ thực chất là hai bệnh lý khác nhau. Từ đó, xuất hiện một giả thuyết gây tranh cãi: viêm ruột thừa cấp gồm hai thực thể riêng biệt có diễn tiến khác nhau [2]. Một loại là viêm ruột thừa đơn thuần, không diễn tiến tới hoại tử và vỡ mủ. Loại này lại chia thành 2 thể: một thể sinh mủ (pus-producing) hoặc viêm tiến triển (nhưng không hoại tử và vỡ) cần phải phẫu thuật cắt bỏ; một thể có quá trình viêm diễn tiến ôn hòa rồi tự khỏi hoặc chỉ cần điều trị bằng kháng sinh. Loại thứ hai là viêm ruột thừa có quá trình viêm nặng nề và nhanh chóng dẫn tới hoại tử, vỡ mủ.
Ủng hộ cho giả thuyết này là 2 thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên so sánh nội soi ổ bụng sớm và điều trị không mổ những bệnh nhân đau bụng cấp [3], [5]. Các nghiên cứu này đã phát hiện ở nhóm soi ổ bụng, dù được chọn ngẫu nhiên, cũng có tỷ lệ viêm ruột thừa gấp 3-5 lần so với nhóm điều trị không mổ. Điều này chứng tỏ, nhiều bệnh nhân viêm ruột thừa ở nhóm không mổ đã được điều trị khỏi mà không cần can thiệp ngoại khoa.
Năm 2010, Ruber và cs. [6] nghiên cứu nồng độ của các chỉ tố viêm (inflammatory marker) ở 3 nhóm bệnh nhân viêm ruột thừa đơn thuần, viêm ruột thừa hoại tử và đau bụng không đặc hiệu. Kết quả, so với nhóm viêm ruột thừa đơn thuần và nhóm đau bụng không đặc hiệu, nhóm viêm ruột thừa hoại tử có nồng độ các chỉ tố tiền viêm (proinflammatory marker) cao hơn nhưng lại có mức nồng độ các cytokin kháng viêm thấp hơn. Điều này khẳng định giả thuyết nghiên cứu ban đầu của các tác giả là viêm ruột thừa đơn thuần và viêm ruột thừa hoại tử là hai thực thể bệnh lý có sự điều hòa miễn dịch khác nhau,
Tài liệu tham khảo
  1. Andersson RE (2007), “The natural history and traditional management of appendicitis revisited: spontaneous resolution and predominance of prehospital perforations imply that a correct diagnosis is more important than an early diagnosis. World J Surg, 31, pp. 86-92.
  2. Bhangu A, Soreide K, Di Saverio S et al. (2015), “Acute appendicitis: modern understanding of pathogenesis, diagnosis, and management”. Lancet, 386, pp. 1278–1287.
  3. Decadt B, Sussman L, Lewis MP, et al. (1999), “Randomized clinical trial of early laparoscopy in the management of acute nonspecific abdominal pain”. Br J Surg, 86, pp. 1383-1386.
  4. Livingston EH, Woodward WA, Sarosi GA, Haley RW (2007), “Disconnect between incidence of nonperforated and perforated appendicitis: Implications for pathophysiology and management”. Ann Surg, 245, pp. 886-892.
  5. Morino M, Pellegrino L, Castagna E, Farinella E, Mao P (2006), “Acute nonspecific abdominal pain: A randomized, controlled trial comparing early laparoscopy versus clinical observation”. Ann Surg, 244, pp. 881-886.
  6. Ruber M, Andersson M, Petersson BF et al. (2010), “Systemic Th17-like cytokine pattern in gangrenous appendicitis but not in phlegmonous appendicitis”. Surgery, 147, pp. 366–72.
  7. Temple CL, Huchcroft SA, Temple WJ (1995), “The natural history of appendicitis in adults. A prospective study”. Ann Surg, 221(3), pp. 278-281.
Tác giả bài viết: Bs. Võ Minh Thành TK ĐTYC
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Điện thoại nóng
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP VIÊM MÀNG NÃO MỦ DO LIÊN CẦU LỢN (STREPTOCOCCUS SUIS)
Kết quả kiểm tra chất lượng bệnh viện 6 tháng đầu năm 2017
BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP NHIỄM TRÙNG HẬU SẢN NẶNG DO SANH THƯỜNG TẠI NHÀ
VIÊM MÀNG NÃO TĂNG BẠCH CẦU ÁI TOAN
Nhân một trường hợp bệnh nhân mắc bệnh Whitmore (Melioidosis) tại khoa Nội Tổng Hợp
Bóc tách động mạch chủ
UNG THƯ THỰC QUẢN
GÂY MÊ TRÊN BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯỜNG
Báo cáo trường hợp trẻ bỏ rơi
Thông báo kết quả kiểm tra vi sinh 6 tháng cuối năm 2016
LỊCH SỬ RA ĐỜI NGÀY RỬA TAY THẾ GIỚI 15/10 VÀ VAI TRÒ CỦA RỬA TAY THƯỜNG QUY TẠI BỆNH VIỆN
NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN
ĐẠI HỘI CHI HỘI ĐIỀU DƯỠNG
BỔ SUNG CÁC YẾU TỐ VI LƯỢNG TRONG THAI KỲ
Khoa Răng Hàm Mặt sánh bước cùng Operation Smile Việt Nam tại Bệnh viện tỉnh Đăk Lăk
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP BỆNH NHÂN ĐƯỢC VÁ SỌ TỰ THÂN TRÁN 2 BÊN TẠI KHOA NGOẠI THẦN KINH
VẤN ĐỀ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TĂNG SINH LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT
Hướng dẫn điều trị tăng Kali máu cấp ở người trưởng thành 2016
HO GÀ –BỆNH DỄ LÂY LAN Ở TRẺ EM
GIỚI THIỆU VỀ CT SCANNER 64 SLICE SIEMENS DIFINITION AS TẠI BVĐK TỈNH ĐĂKLĂK

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 19
  • Hôm nay: 2442
  • Tháng hiện tại: 90674
  • Tổng lượt truy cập: 2884658
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang