bvvtn

ẢNH HƯỞNG CỦA SUY YẾU LÊN CÁC BIẾN CỐ SAU XUẤT VIỆN 30 NGÀY Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI NHẬP KHOA NỘI TIM MẠCH VÌ SUY TIM CẤP

Đăng lúc: Thứ hai - 02/03/2020 15:01 - Người đăng bài viết: admin
ẢNH HƯỞNG CỦA SUY YẾU LÊN CÁC BIẾN CỐ SAU XUẤT VIỆN 30 NGÀY Ở  BỆNH NHÂN CAO TUỔI NHẬP KHOA NỘI TIM MẠCH VÌ SUY TIM CẤP

ẢNH HƯỞNG CỦA SUY YẾU LÊN CÁC BIẾN CỐ SAU XUẤT VIỆN 30 NGÀY Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI NHẬP KHOA NỘI TIM MẠCH VÌ SUY TIM CẤP

Suy yếu là một trong những hội chứng lão hóa rất thường gặp ở bệnh nhân cao tuổi nhập viện vì suy tim.
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Suy yếu là một trong những hội chứng lão hóa rất thường gặp ở bệnh nhân cao tuổi nhập viện vì suy tim. Hội chứng này liên quan đến các kết cục xấu. Tuy nhiên, vẫn chưa được tầm soát thường quy tại các cơ sở y tế tại Việt Nam.
Mục tiêu: Xác định sự ảnh hưởng của suy yếu bằng thang đo CFS lên biến cố chính (tái nhập viện do bệnh lý tim mạch và/hoặc tử vong do mọi nguyên nhân) sau xuất viện 30 ngày ở bệnh nhân cao tuổi suy tim cấp nằm tại Khoa Nội Tim Mạch bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên.
Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu cắt ngang và theo dõi dọc. Thực hiện chọn mẫu liên tục trên 313 bệnh nhân tuổi ≥ 60, nhập viện vì suy tim cấp tại Khoa Nội Tim Mạch bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên trong khoảng thời gian từ 12/2018 đến 5/2019.
Kết quả: Đối tượng tham gia nghiên cứu có tuổi trung vị là 77 (69, 84), nữ giới chiếm 57%. Tỉ lệ suy yếu bằng thang đo suy yếu lâm sàng khi xuất viện là 66%. Tỉ lệ biến cố chính là 27%. Sau khi phân tích hồi quy Cox đa biến, suy yếu là một trong các yếu tố nguy cơ độc lập liên quan có ý nghĩa thống kê đến biến cố chính (HR = 3,92, KTC 95%: 1,94 - 7,94, P < 0,001). Ở tiêu chí biến cố phụ, suy yếu liên quan có ý nghĩa thống kê đến tái nhập viện do bệnh lý tim mạch sau xuất viện 30 ngày (HR = 3,13, KTC 95%: 1,39 - 7,05, P = 0,006)
Kết luận: Suy yếu là yếu tố nguy cơ độc lập tăng nguy cơ tái nhập viện và/hoặc tử vong sau xuất viện 30 ngày ở bệnh nhân cao tuổi nhập Khoa Nội Tim Mạch vì suy tim cấp.
Từ khóa: suy yếu, suy tim cấp, cao tuổi.
ABSTRACT:
THE EFFECT OF FRAILTY ON OUTCOMES 30 DAY POST - DISCHARGE IN OLDER PATIENTS WITH ACUTE HEART FAILURE ATTENDED IN THE INTERNAL – CARDIOLOGY DEPARTMENT
Background: Frailty, one of geriatric syndromes, has been very common in the elderly patients whose attended hospitals for acute heart failure. This syndrome was associated adverese outcomes. Howerver, frailty has not been screened in health cares in Vietnam.
Objectives: The objective was to determine the effect of frailty on 30 day post-discharge primary oucome (readmission or mortality) in older patients with acute heart failure attended in the Internal – Cardiology Department.
Methods: In a observational and longitudinal study. We included 313 consecutive patients ≥ 60 years old, were attended in the Internal – Cardiology Department for acute heart failure.
Results: The median age was 77 (69, 84) years, female 57%. Frailty was diagnosed in 208/313 (66%) patients by the 9-point Clinical Frailty Scale. The primary outcome event occurred in 78 cases (27%). Frailty adjusted for potential confounding factors was an independent factor associated with 30 day post –discharge on primary outcome (adjusted HR = 3,92; 95% CI: 1,94- 7,94, P < 0,001). Secondary outcome events, as were 30 day post-discharge cardiovascular readmission, were signigficant higher in the frailty group (adjusted HR = 3,13, 95% CI: 1,39 - 7,05, P = 0,006)
Conclusions: The presence of frailty is an independent risk factor of 30 day post-discharge readmisson or mortality in older patients attended by acute heart failure in the Internal – Cardiology Department.
Keywords: frailty, elderly, acute heart failure, short – term outcome
-----------------------------
* Bộ môn Lão khoa, Khoa Y, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh
** Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên
Tác giả liên lạc: Ngô Đăng Trình, ĐT: 0986137503, Email: ngodangtrinh@gmail.com
 
ĐẶT VẤN ĐỀ
Suy yếu là một hội chứng lão hóa thường gặp, liên quan đến giảm hoặc mất chức năng nhiều hệ cơ quan, dẫn đến dễ bị tổn thương và chậm hồi phục với các biến cố sức khỏe xấu. Có nhiều biến cố xấu liên quan chặt chẽ đến suy yếu như là: tăng nguy cơ té ngã, nhập viện, tàn tật và tử vong(5)
Suy yếu rất thường gặp ở bệnh nhân nhập viện vì suy tim cấp. Trong nghiên cứu của Martın-Sanchez, tỉ lệ suy yếu ở bệnh nhân nhập viện vì suy tim cấp là 36%(10). Trong khi đó, nghiên cứu của Vidal, tỉ lệ này lên đến 76%(20). Bệnh nhân suy tim có kèm suy yếu thường làm tăng các kết cục bất lợi như tỉ lệ tử vong, tỉ lệ nhập viện, kéo dài thời gian nằm viện(1), (8), (10), (11), (20)
Từ những dữ liệu kể trên, việc tầm soát suy yếu trên bệnh nhân cao tuổi suy tim cấp nhập viện là thật sự cần thiết. Việc tầm soát suy yếu không chỉ giúp xác định nhóm bệnh nhân dễ tổn thương mà còn giúp tiên lượng bệnh và đưa ra chiến lược điều trị hợp lý hơn(8). Tuy nhiên, việc tầm soát suy yếu hiện nay vẫn chưa được thực hiện thường quy tại các cơ sở y tế ở Việt Nam cũng như trên thế giới.
Thang đo suy yếu lâm sàng (Clinical Frailty Scale ®) được phát triển từ nghiên cứu The Canadian Study of Health and Aging (CSHA), dựa trên hỏi bệnh sử, khám lâm sàng và không cần đo đạc phức tạp. Thang đo này được tích hợp đánh giá khả năng vận động hàng ngày, các bệnh đồng mắc và sa sút trí tuệ. Thang đo suy yếu lâm sàng đã được xác thực dựa trên nghiên cứu đoàn hệ sau 5 năm với 2305 người cao tuổi tại cộng đồng Canada. Thang đo này có chỉ số tương quan r = 0,80 so với chỉ số suy yếu (Frailty Index(FI)) nhưng đơn giản hơn, dễ áp dụng cho lâm sàng(17). Thang đo suy yếu lâm sàng đã được ứng dụng không chỉ trong các nghiên cứu cộng đồng mà còn ứng dụng trong các nghiên cứu trên bệnh nhân cao tuổi nhập viện vì bệnh nội khoa cấp tính, kể cả suy tim cấp(3), (4), (9).
Tại Việt Nam, nghiên cứu về suy yếu bằng thang đo suy yếu lâm sàng trên bệnh nhân cao tuổi nhập viện vì suy tim cấp chưa được thực hiện nhiều. Để đóng góp thêm dữ liệu cũng như kiến thức về tính ứng dụng của thang đo suy yếu lâm sàng, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu này nhằm xác định ảnh hưởng của suy yếu bằng thang đo suy lâm sàng đối với các biến cố chính sau 30 xuất viện ngày ở bệnh nhân cao tuổi nhập viện vì suy tim cấp.
ĐỐI TƯỢNG-PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bệnh nhân ≥ 60 tuổi được chẩn đoán suy tim cấp nhập viện tại Khoa Nội Tim Mạch bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 05 năm 2019.
Tiêu chuẩn chọn bệnh
- Bệnh nhân ≥ 60 tuổi, được chẩn đoán suy tim cấp theo tiêu chuẩn Hội tim mạch Châu Âu (ESC) 2016 (13).
Tiêu chuẩn loại trừ
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Không có đầy đủ thông tin cần cho nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có theo dõi dọc.
Kỹ thuật chọn mẫu
Chọn mẫu liên tục không xác suất.
Các bước tiến hành lấy số liệu
Chúng tôi ghi nhận thông tin về bệnh sử, lâm sàng, cận lâm sàng và số loại thuốc điều trị tại thời điểm nhập viện và trong thời gian nằm viện theo mẫu phiếu thu thập số liệu: tuổi, giới, dân tộc, nghề nghiệp, yếu tố khởi phát suy tim cấp, chỉ số đa bệnh Charlson, thang đo dinh dưỡng MNA-SF, bệnh tim thiếu máu cục bộ. Phân độ suy tim theo NYHA và theo huyết động được đánh giá tại thời điểm vào viện.
Bệnh nhân được đánh giá suy yếu bằng thang đo CFS tại thời điểm khi xuất viện.

Hình 1: Thang đo suy yếu lâm sàng CFS (15)
Chúng tôi theo dõi để ghi nhận biến cố tái nhập viện hoặc tử vong sau xuất viện bằng cách gọi điện thoại cho bệnh nhân hoặc người giám hộ tại thời điểm 30 ngày sau xuất viện.
Định nghĩa các biến số nghiên cứu
Suy yếu được đánh giá bằng thang đo suy yếu lâm sàng (Clinical Frailty Scale) được phát triển từ nghiên cứu the Canadian Study of Health and Aging (CSHA) của đại học Dailhouse, Canada. Trong đó, bệnh nhân được xác định không suy yếu khi CFS 1-4, bệnh nhân được xác định có suy yếu khi CFS 5-9 (9), (15).
Bệnh tim thiếu cục bộ được xác định khi có ít nhất một trong các tiêu chuẩn: TS hội chứng mạch vành cấp, TS đặt Stent, TS phẫu thuật bắc cầu ĐMV, chụp ĐMV có ít nhất 01 nhánh hẹp > 70%(6).
Biến cố chính được xác định là tái nhập viện do bệnh lý tim mạch và/hoặc tử vong do mọi nguyên nhân trong vòng 30 ngày kể từ khi ra viện.
Biến cố phụ được xác định là tái nhập viện do bệnh lý tim mạch, tử vong do mọi nguyên nhân trong vòng 30 ngày kể từ khi ra viện.
Xử lý số liệu
Các số liệu trong nghiên cứu được xử lý và phân tích bằng phần mềm stata 14.2. Kết quả được trình bày theo tần số và tỉ lệ % đối với biến định tính như: tỉ lệ suy yếu, tỉ lệ biến cố chính. Các biến định lượng được trình bày theo trung bình ± độ lệch chuẩn nếu phân phối bình thường, trung vị và khoảng tứ phân vị nếu phân phối không bình thường.
Xây dựng mô hình hồi quy Cox đa biến đối với biến cố chính cũng như biến cố tái nhập viện do bệnh lý tim mạch theo quy trình: lấy tất cả các yếu tố liên quan đến các kết cục của nghiên cứu có P < 0,1 làm các biến số độc lập và xây dựng mô hình hồi quy Cox đa biến(7). Kết quả P < 0,05 được xem là có ý nghĩa thống kê.
Sau khi xây dựng mô hình hồi quy Cox đa biến, chúng tôi sử dụng phân tích biến cố - thời gian đối với biến cố chính bằng biểu đồ Kaplan – Meier. Các trường hợp tái nhập viện, tử vong và mất theo dõi được đưa vào cắt xén trong phân tích kết cuộc tùy trường hợp nào đến trước.
Y đức nghiên cứu
Đây là nghiên cứu quan sát, không can thiệp vào quá trình điều trị. Tất cả các thông tin định danh của bệnh nhân không được công bố và nghiên cứu đã được chấp thuận bởi Hội đồng Y đức Đại học Y dược TP. Hồ Chí Minh.
KẾT QUẢ
Trong khoảng thời gian nghiên cứu, chúng tôi thu nhận được 321 bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu. Có 8 (2,5%) ca tử vong nội viện, còn lại 313 bệnh nhân còn sống xuất viện. Tuổi trung vị, khoảng tứ vị là 77 (69, 84), tỉ lệ nữ là 57%. Có 208/313 (66%) bệnh nhân được chẩn đoán suy yếu. Sau khi theo dõi 30 ngày từ khi xuất viện, có 22 (7%) ca mất theo dõi. Có 78 (27%) ca xuất hiện biến cố chính, 64 (22%) ca tái nhập viện do bệnh lý tim mạch, 18 (6%) tử vong do mọi nguyên nhân, 4 (1,4 %) ca tái nhập viện do bệnh lý tim mạch và tử vong (Hình 1).
Sau khi phân tích hồi quy Cox đa biến, suy yếu là một trong yếu tố nguy cơ độc lập làm tăng xuất hiện biến cố chính gấp 3,92 lần (KTC 95%: 1,94 - 7,94, P < 0,001). Ngoài ra, một số yếu tố khác cũng làm tăng nguy cơ xuất hiện biến cố chính bao gồm: bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn (HR = 2,19, KTC 95%: 1,00 - 4,80, P = 0,049) và số lượng bạch cầu trong máu (HR= 1,06 KTC 95%: 1,01 - 1,12, P = 0,022) (Bảng 1).
Phân tích hồi quy đa biến Cox đối với biến cố phụ sau xuất viện 30 ngày, suy yếu cũng làm tăng nguy cơ tái nhập viện do bệnh lý tim mạch gấp 3,13 lần (KTC 95%:1,39 - 7,05, P = 0,006). Ngoài ra, bệnh tim thiếu máu cục bộ cũng làm tăng nguy cơ tái nhập viện (HR = 2,55, KTC 95%: 1,00 - 6,48, P = 0,049) (Bảng 2).
Phân tích biểu đồ Kaplan-Meier, biến cố chính tích lũy cũng như tái nhập viện ở hai nhóm bệnh nhân suy yếu và không suy yếu có sự khác biệt sớm hơn sau 30 ngày theo dõi (Hình 3 và 4).
 
Bảng 1. Phân tích hồi quy đa biến Cox liên quan giữa suy yếu với biến cố chính
Biến số Biến cố gộp P
  HR KTC 95 %  
Suy yếu khi xuất viện 3,92 1,94 7,94 < 0,001
BTTMCB 2,19 1,00 4,80 0,049
Có yếu tố nguy cơ suy tim cấp 1,97 0,79 4,93 0,15
MNA-SF 1,04 0,93 1,15 0,54
Chỉ số Charlson 0,90 0,72 1,14 0,39
Số lượng bạch cầu máu (K/uL) 1,06 1,01 1,12 0,022
eGFR (ml/phút/1,73 m2) 0,99 0,98 1,00 0,14
Bảng2. Phân tích hồi quy đa biến Cox liên quan giữa suy yếu với tái nhập viện
Biến số Tái nhập viện P
  HR KTC 95 %  
Suy yếu khi xuất viện 3,13 1,39 7,05 0,006
BTTMCB 2,55 1,00 6,48 0,049
eGFR (ml/phút/1.73 m2) 0,99 0,97 1,00 0,127
 
 
Hình 2: Quy trình và kết quả nghiên cứu

Hình 3. Liên quan giữa suy yếu với biến cố chính theo thời gian

Hình 4. Liên quan giữa suy yếu với tái nhập viện theo thời gian
 
BÀN LUẬN
Các nghiên cứu trước đây thường dùng thang đo suy yếu Fried hay CGA khá phức tạp và khó ứng dụng cho các nhà thực hành lâm sàng rất bận rộn hàng ngày. Nghiên cứu của chúng tôi lựa chọn thang đo CFS đơn giản hơn, dễ áp dụng cho lâm sàng và đã được chứng minh giúp tiên lượng các dự hậu xấu trên các nghiên cứu trong cộng đồng cũng như trong bệnh viện(3), (16). Nghiên cứu của chúng tôi sau khi xây dựng mô hình hồi quy Cox đa biến cho thấy, bệnh nhân cao tuổi nhập viện vì suy tim cấp, tỉ lệ suy yếu đo bằng thang đo CFS thời điểm xuất viện liên quan có ý nghĩa thống kê đến biến cố chính (bao gồm tử vong do mọi nguyên nhân và/hoặc tái nhập viện do bệnh lý tim mạch trong vòng 30 ngày sau xuất viện) và biến cố phụ là tái nhập viện do bệnh lý tim mạch sau xuất viện 30 ngày
Các nghiên cứu tương tự trên thế giới có thời gian theo dõi dài hơn và đều cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa suy yếu và tử vong và/hoặc tái nhập viện(14), (18), (19). Tử vong là biến cố quan tâm của y học. Trong khi đó tăng tỉ lệ tái nhập viện sẽ tăng gánh nặng cho hệ thống chăm sóc y tế cũng như gia đình bệnh nhân. Nghiên cứu của chúng tôi theo dõi trong vòng 30 ngày sau xuất viện đã cho thấy suy yếu làm tăng biến cố chính có ý nghĩa thống kê. Kết quả này giúp cho các nhà lâm sàng có kế hoạch chăm sóc, điều trị và tư vấn ở bệnh nhân cao tuổi nhập viện vì suy tim cấp có suy yếu.
Trong phân tích hồi quy Cox đa biến liên quan giữa các biến số độc lập với biến cố gộp, ngoài suy yếu còn có thêm các yếu tố nguy cơ khác liên quan có ý nghĩa thống kê là tiền sử bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn và bạch cầu trong máu. Nghiên cứu tại Hoa Kỳ năm 2003 (2), bệnh nhân nữ có căn nguyên bệnh tim thiếu máu cục bộ giúp tiên lượng tái nhập viện do bệnh lý tim mạch (HR = 4,18 KTC 95%: 2,14–8,19, P = 0,023). Nghiên cứu tại Ấn Độ năm 2019 (12), số lượng bạch cầu ≥ 11 K/uL là yếu tố nguy cơ độc lập  liên quan có ý nghĩa thống kê đến tử vong sau 2 năm theo dõi (HR = 2,1, KTC 95%: 1, 4 – 3,2, P < 0,001).
Nghiên cứu của chúng tôi vẫn còn một số hạn chế. Thứ nhất, thang đo CFS mang tính chủ quan của người đánh giá và chưa đánh giá độ đồng thuận của chỉ số CFS trên mẫu nghiên cứu. Thứ hai, số biến cố tử vong sau xuất viện chưa đủ lớn do cỡ mẫu nhỏ và thời gian theo dõi chưa đủ dài để đánh giá chính xác mối quan hệ nhân quả giữa suy yếu với tử vong sau xuất viện. Cuối cúng, xây dựng mô hình hồi quy đa biến có thể không chính xác do chưa đánh giá hết các yếu tố liên quan.
KẾT LUẬN
Suy yếu, được đánh giá bằng thang đo suy yếu lâm sàng là một trong các yếu tố nguy cơ độc lập giúp tiên lượng biến cố chính và tái nhập viện do bệnh lý tim mạch sau xuất viện 30 ngày.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.       Arundel, C., P. H. Lam, R. Khosla, M. R. Blackman, G. C. Fonarow, C. Morgan, Q. Zeng, R. D. Fletcher, J. Butler, W. C. Wu, P. Deedwania, T. E. Love, M. White, W. S. Aronow, S. D. Anker, R. M. Allman and A. Ahmed (2016). Association of 30-Day All-Cause Readmission with Long-Term Outcomes in Hospitalized Older Medicare Beneficiaries with Heart Failure. Am J Med 129(11): 1178-1184.
2.       Babayan, Z. V., R. L. McNamara, N. Nagajothi, E. K. Kasper, H. K. Armenian, N. R. Powe, K. L. Baughman and J. A. Lima (2003). Predictors of cause-specific hospital readmission in patients with heart failure. Clin Cardiol 26(9): 411-418.
3.       Basic, D. and C. Shanley (2015). Frailty in an Older Inpatient Population:Using the Clinical Frailty Scale to Predict Patient Outcomes. Journal of Aging and Health 27(4): 670-685.
4.       Costa, D., M. Aladio, C. A. Girado, R. Perez de la Hoz and C. Sara Berensztein (2018). Frailty is independently associated with 1-year mortality after hospitalization for acute heart failure. Int J Cardiol Heart Vasc 21: 103-106.
5.       Denfeld, Q. E., K. Winters-Stone, J. O. Mudd, J. M. Gelow, S. Kurdi and C. S. Lee (2017). The prevalence of frailty in heart failure: A systematic review and meta-analysis. International Journal of Cardiology 236: 283-289.
6.       Di Tano, G., R. De Maria, L. Gonzini, N. Aspromonte, A. Di Lenarda, M. Feola, M. Marini, M. Milli, G. Misuraca, A. Mortara, F. Oliva, G. Pulignano, G. Russo, M. Senni and L. Tavazzi (2015). The 30-day metric in acute heart failure revisited: data from IN-HF Outcome, an Italian nationwide cardiology registry. Eur J Heart Fail 17(10): 1032-1041.
7.       Hosmer, D., S. Lemeshow and S. May (2000). Applied Survival Analysis: Regression Modeling of Time to Event Data. Journal of the American Statistical Association 95.
8.       Jha, S. R., H. S. K. Ha, L. D. Hickman, M. Hannu, P. M. Davidson, P. S. Macdonald and P. J. Newton (2015). Frailty in advanced heart failure: a systematic review. Heart Failure Reviews 20(5): 553-560.
9.       Juma, S., M.-M. Taabazuing and M. Montero-Odasso (2016). Clinical Frailty Scale in an Acute Medicine Unit: a Simple Tool That Predicts Length of Stay. 2016 19(2): 6.
10.     Martin-Sanchez, F. J., E. Rodriguez-Adrada, C. Mueller, M. T. Vidan, M. Christ, W. Frank Peacock, M. A. Rizzi, A. Alquezar, P. Pinera, P. L. Aragues, P. Llorens, P. Herrero, J. Jacob, C. Fernandez and O. Miro (2017). The Effect of Frailty on 30-day Mortality Risk in Older Patients With Acute Heart Failure Attended in the Emergency Department. Acad Emerg Med 24(3): 298-307.
11.     McDonagh, J., L. Martin, C. Ferguson, S. R. Jha, P. S. Macdonald, P. M. Davidson and P. J. Newton (2018). Frailty assessment instruments in heart failure: A systematic review. Eur J Cardiovasc Nurs 17(1): 23-35.
12.     Munusamy, V., L. Goenka, M. Sharma, T. Ramamoorthy, D. Jha, S. Solaipriya, V. Dhandapani and M. George (2019). Clinical presentation and 2-year mortality outcomes in acute heart failure in a tertiary care hospital in South India: A retrospective cohort study. Journal of Clinical and Preventive Cardiology 8(2): 56-63.
13.     Ponikowski, P., A. A. Voors, S. D. Anker, H. Bueno, J. G. F. Cleland, A. J. S. Coats, V. Falk, J. R. González-Juanatey, V.-P. Harjola, E. A. Jankowska, M. Jessup, C. Linde, P. Nihoyannopoulos, J. T. Parissis, B. Pieske, J. P. Riley, G. M. C. Rosano, L. M. Ruilope, F. Ruschitzka, F. H. Rutten, P. van der Meer and E. S. C. S. D. Group (2016). 2016 ESC Guidelines for the diagnosis and treatment of acute and chronic heart failureThe Task Force for the diagnosis and treatment of acute and chronic heart failure of the European Society of Cardiology (ESC)Developed with the special contribution of the Heart Failure Association (HFA) of the ESC. European Heart Journal 37(27): 2129-2200.
14.     Rampersad, P., S. E. Bronskill, A. Chong, P. C. Austin, J. V. Tu and D. S. Lee (2014). Frailty Predicts Mortality and Hospital Readmission Amongst Elderly Heart Failure (HF) Patients Discharged From Hospital or the Emergency Department (ED). Circulation 130(suppl_2): A17064-A17064.
15.     Research, G. M. (2015, 07/15/2015). "Clinical Frailty Scale ©."   Retrieved 29/06/2018, 2018, from http://geriatricresearch.medicine.dal.ca/clinical_frailty_scale.htm.
16.     Ritt, M., K. G. Gassmann and C. C. Sieber (2016). Significance of frailty for predicting adverse clinical outcomes in different patient groups with specific medical conditions. Z Gerontol Geriatr 49(7): 567-572.
17.     Rockwood, K., X. Song, C. MacKnight, H. Bergman, D. B. Hogan, I. McDowell and A. Mitnitski (2005). A global clinical measure of fitness and frailty in elderly people. CMAJ : Canadian Medical Association Journal 173(5): 489-495.
18.     Rodriguez-Pascual, C., E. Paredes-Galan, A. I. Ferrero-Martinez, J. L. Gonzalez-Guerrero, M. Hornillos-Calvo, R. Menendez-Colino, I. Torres-Torres, A. Vilches-Moraga, M. C. Galan, F. Suarez-Garcia, M. T. Olcoz-Chiva and F. Rodriguez-Artalejo (2017). The frailty syndrome is associated with adverse health outcomes in very old patients with stable heart failure: A prospective study in six Spanish hospitals. Int J Cardiol 236: 296-303.
19.     Uchmanowicz, I., M. Kusnierz, M. Wleklik, B. Jankowska-Polanska, J. Jaroch and K. Loboz-Grudzien (2017). Frailty syndrome and rehospitalizations in elderly heart failure patients. Aging Clin Exp Res.
20.     Vidan, M. T., V. Blaya-Novakova, E. Sanchez, J. Ortiz, J. A. Serra-Rexach and H. Bueno (2016). Prevalence and prognostic impact of frailty and its components in non-dependent elderly patients with heart failure. Eur J Heart Fail 18(7): 869-875.
Tác giả bài viết: Thân Hà Ngọc Thể , Phạm Hòa Bình, Ngô Đăng Trình
Từ khóa:

suy yếu, hội chứng

Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Số ĐT đặt lịch khám bệnh
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN, Địa chỉ: 184 Trần Quý Cáp- Phường Tự An- TP Buôn Ma Thuột- tỉnh Đắk Lắk, Điện thoại nóng: 0262. 3919009 - 0262. 3852654
Điện thoại phòng KHTH
Phục hồi chức năng sau mổ tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SINH HOẠT CHI BỘ
CẬP NHẬT MỚI BẢO VỆ THẦN KINH KHI SỬ DỤNG MAGNESIUM SULFATE TRONG THAI KỲ
KẾT NỐI YÊU THƯƠNG - PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID-19 - KHÔNG ĐỂ AI BỊ BỎ LẠI PHÍA SAU
Thông báo về việc lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản
CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ TRẠNG THÁI ĐỘNG KINH
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN TỔ CHỨC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGƯỜI HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH LÂM SÀNG CHO ĐIỀU DƯỠNG VIÊN MỚI
VIÊM HỌNG CẤP TÍNH
ĐIỀU TRỊ LIỆT MẶT NGOẠI BIÊN BẰNG PHƯƠNG PHÁP Y HỌC CỔ TRUYỀN
GÂY MÊ HỒI SỨC TRONG PHẪU THUẬT NIỆU KHOA
TRẠNG THÁI ĐỘNG KINH
Bạch hầu: Tiêm chủng là biện pháp phòng bệnh chủ động, hiệu quả
Chín đối tượng dễ bị COVID -19 tấn công
PHÒNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CHUNG TAY HỖ TRỢ TUYẾN ĐẦU PHÒNG CHỐNG COVID-19
CẤP CỨU PHÙ PHỔI CẤP HUYẾT ĐỘNG
MỘT SỐ TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG BỆNH COVID-19
Chấn thương sọ não nặng do tai nạn lao động.
Thông báo mời thầu : Gói thầu Vật tư y tế, vi sinh, ký sinh trùng (đợt 2)
Thông báo số điện thoại đặt lịch khám bệnh
BẠCH HẦU VÀ THAI KỲ!!!

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 19
  • Khách viếng thăm: 17
  • Máy chủ tìm kiếm: 2
  • Hôm nay: 2543
  • Tháng hiện tại: 260011
  • Tổng lượt truy cập: 10944255
Cổng dịch vụ công quốc gia
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang