bvvtn

BỆNH GIANG MAI

Đăng lúc: Thứ hai - 14/10/2019 20:44 - Người đăng bài viết: admin
BỆNH GIANG MAI

BỆNH GIANG MAI

Đây là dấu hiệu cổ điển nhưng muộn. Rụng lan tỏa nhưng thường thấy ở vùng trán - thái dương, ngay cả đuôi chân mày, đôi khi cũng lan tỏa khắp nơi.

1. Đại cương:

     Da và niêm mạc là những cơ quan bảo vệ cơ thể chống lại những sự xâm nhập ngoại lai. Chúng ta biết cấu tạo da và niêm mạc rất tương đồng, điều khác biệt rõ rệt nhất là niêm mạc không có lớp hạt nên sự tăng trưởng từ lớp đáy trở lên rất mau (chỉ khoảng 4 ngày), chính vì vậy niêm mạc dễ bị thương tổn và cũng mau lành.
     Trong lớp biểu mô lót phần trong của cơ thể (miệng, âm hộ, bàng quang, thực quản) là những niêm mạc rất nhầy. Thường niêm mạc giàu cầu nối và có gai rất triển dưỡng cũng như giàu tế bào đáy. Lâm sàng đã cho thấy chỉ cần dùng thuốc ví dụ methotrexate, niêm mạc có thể loét từ 2  đến 4 ngày sau.
     Cũng vì niêm mạc mong manh nên cần được bảo vệ (ví dụ bao cao su) khi tiếp xúc nhất là khi có thương tổn hở như đa số các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong đó có giang mai.
     Đây là một bệnh lây truyền qua đường tình dục, tác nhân gây bệnh là Treponema pallidum, một loại xoắn trùng mỏng manh, giống như cái mở nút chai, dài từ 6 - 16m, không ấy được trên môi trường nhân tạo. Người ta giữ chủng gây bệnh bằng cách cấy chuyển để dùng trong phản ứng huyết thanh giang mai. T.P không chịu được sức nóng, sự khô hanh, thuốc sát khuẩn và nhiều loại kháng sinh nhất là penicilline, xoắn trùng cho đến nay không đề kháng được thuốc.
     Sự lây truyền thường do tiếp xúc mật thiết với người mắc bệnh có những thương tổn ở da và niêm mạc. Thai nhi cũng có thể bị lây truyền từ mẹ đang bị bệnh hoạt tính. Đường lây truyền cũng có thể là do nghề nghiệp, trực tiếp bằng vật dụng bẩn hoặc truyền máu. Bệnh giang mai trước khi đã giảm dần nhưng mới đây bệnh lại vượng lên (đầu thập niên 80) nhất là ở các nước đã kỹ nghệ hóa như Hoa Kỳ chủ yếu là do sự gia tăng tỷ lệ bệnh mới mắc ở người đồng tình luyến ái. Sự xuất hiện bệnh AIDS làm thay đổi lối sống, do đó bệnh suy giảm nhanh, sau 1980 và nhất là đầu thập niên 90, là do tiếp xúc nam nữ ở lứa tuổi trẻ có liên quan đến mại dâm và sử dụng cocaine (Hoa Kỳ và các nước Tây Âu) mặc dù hiệu quả trị liệu nhanh và bền vững của penicillin người ta vẫn thấy dịch tràn lan khắp thế giới, nguyên nhân nhiều nhưng chủ yếu là do người ta quên bệnh giang mai và thường coi những biểu hiện của giang mai là do những bệnh dị ứng nên không cho thử phản ứng huyết thanh giang mai và vấn đề khai báo nặc danh bắt buộc thường không được thực hiện.
     Lịch sử tiến triển tự nhiên của bệnh, sau khi bị lây nhiễm xuất hiện thương tổn thời kỳ 1. Sau đó biểu hiện lan tỏa cuối thời kỳ 2, sau đó bệnh trở nên không triệu chứng với phản ứng huyết thanh giang mai dương tính. Sự xuất hiện những thương tổn muộn ở da và nội tạng không phải là bắt buộc. Ngày nay trong y tế thường qui, hai vấn đề thường đặt ra là vấn đề định bệnh và ý nghĩa của phản ứng giang mai dương tính. Giang mai muộn và giang mai bẩm sinh ngày càng hiếm nhưng ở  Việt Nam giang mai bẩm sinh vẫn còn là một vấn đề y tế cộng đồng quan trọng.

2. Lâm sàng

2.1. Giang mai thời kỳ 1:

     Được biểu trương bằng săng đây là phản ứng của mô ở vị trí bị lây nhiễm, hạch vệ tinh. Nó khởi phát từ 2 đến 4 tuần sau khi tiếp xúc bị lây.

2.1.1. Săng:

     Đây là một vét lở tròn hay thuẫn, đáy sạch hơi ẩm ướt, không đau có bờ rõ nằm trên một nền cứng không viêm. Đây là thương tổn độc nhất, đôi khi nhiều và có tình trạng khác nhau, khu trú cũng thay đổi. Ở nam giớí, thường thấy ở qui đầu nhất là ở rãnh qui đầu da bao qui đầu hoặc ở miệng sáo khiến bệnh nhân đau khi đi tiểu; ở da dương vật hoặc vùng xương mu, săng thường có vảy tiết. Ở nữ giới, săng của môi lớn thường gây phù một bên rất mạnh nên thường che khuất thương tổn, săng ở cổ tử cung thường ít được phát hiện, điều đó một phần cắt nghĩa là tại sao tỷ lệ giang mai 1 ở nam lúc nào cũng cao hơn ở nữ. Săng cũng còn thấy ở trực tràng săng ở hạch hạnh nhân thường sưng tấy.

2.1.2. Hạch:

     Đây là thường là hạch vùng, sờ thấy trừ trường hợp săng ở cổ tử cung và trực tràng. Nó thường gồm nhiều hạch tăng thể tích, cứng, không đau đôi khicũng có hạch bị viêm đau và mềm đi.
     Hình dạng thay đổi của săng khiến ta phải nghi ngờ khi có thương tổn ở cơ quan sinh dục lại có sưng hạch đừng nên vội kết luận éc - pét, nhiệt, loét do chấn thương hoặc bệnh do nấm Candida ở cơ quan sinh dục.

2.1.3. Định bệnh:

     Sẽ được xác định khi thấy T.P ở kính hiển vi nền đen ở bệnh phẩm cạo trên bề mặt săng hay hút ở hạch. Phản ứng sẽ âm nếu có dùng thuốc sát trùng hoặc kháng sinh tại chỗ hoặc bằng đường tổng quát.
     Huyết thanh với phản ứng tố, T.P.H.A (phản ứng kết dính hồng cầu Treponema pallium Hemaglutination) chỉ dương sau 15 ngày nhưng FTA (phản ứng miễn dịch huỳnh quang - Fluorescent Treponemal Antibody) sớm hơn, không trị liệu săng kéo dài nhiều tuần.

2.2. Giang mai thời kỳ thứ 2

     Giang mai 2 xuất hiện trung bình từ 6 đến 8 tuần và đặc trưng bởi những dấu chứng ở da, viêm mạc lan tỏa đa dạng và rất dễ lây.

2.2.1. Đào ban giang mai :

     Đây là phát ban đầu tiên của giang mai 2 nhưng ít khi quan sát được, đây là những dát nhỏ hơn 1cm, bờ không màu hồng nhạt ít khó đỏ rõ, tồn tại vài giờ đến nhiều tuần, khu trú thường thấy ở ngực, có tính đối xứng, đôi khi thấy ở tay chân ở mặt, ở cổ thường có thể để lại những vết trắng hay thâm được gọi là vòng vệ nữ.

2.2.2. Sẩn giang mai :

     Thương tổn cơ bản của lần phát ban thứ hai thường dễ nhận thấy và có thể xuất hiện cùng một lúc, sẩn thường tròn hay hình hạt đậu, đỏ hay hồng có thâm nhiều rõ đường kính từ 1/2 - 1cm, không ngứa. Hình dạng kích thước, sắp xếp, phản ứng của thượng bì trên hoặc quanh thương tổn rất thay đổi, hình ảnh lâm sàng rất đa dạng nên chẩn đoán khó. Ngoài ra giang mai 2 dạng sẩn còn có hình dạng tương tự với những bệnh đỏ đa dạng sẩn khác như giang mai 2 dạng vảy nến, dạng li ken, dạng chốc, thủy đậu .v..v... nhưng khám kỹ có thể phát hiện thâm nhiễm và màu sắc đặc biệt. Sẩn giang mai cô lập hay xếp thành nhóm, thành mảng hay thành dải, số lượng thay đổi lan tỏa hay khú trú. Sẩn thường có khu trú đặc biệt như ở bàn tay, chân, nhất là quanh lỗ tự nhiên ở đây sẩn thường xếp thành hình cánh cung, hoặc sẩn có vảy hoặc dạng mụn trứng cá. Riêng ở vùng hậu môn sinh dục, sẩn trở nên phì đại, nên đôi khi chẩn đoán lầm với u nhú tình dục.

2.2.3. Thương tổn ở niêm mạc và sinh dục rất hay lây:

     Đây là những bản trắng xám, kích thước nhỏ, lở giới hạn rõ, số lượng thay đổi. Ở lưỡi có dạng mảng.

2.2.4. Rụng tóc giang mai :

     Đây là dấu hiệu cổ điển nhưng muộn. Rụng lan tỏa nhưng thường thấy ở vùng trán - thái dương, ngay cả đuôi chân mày, đôi khi cũng lan tỏa khắp nơi. Viêm móng và viêm quanh móng giang mai cũng xuất hiện nhưng hiếm, điều đáng chú ý là dấu da thường đi kèm sưng hạch nhỏ không viêm dễ sờ thấy ở vùng cổ, đau đầu, đau khớp, viêm cần thận - thận, hội chứng thận hư, viêm gan do giang mai hiếm. Xét nghiệm dịch não tủy thường thấy phản ứng màng não nhẹ với sự gia tăng tế bào lympho hoặc hơi tăng lượng protit, chụp X quang xương có thể phát hiện ở thời kỳ muộn những khuyết do viêm xương.

2.3. Giang mai thời kỳ thứ 3.

     Giang mai 3 không phải là bắt buộc, không điều trị cũng chỉ có một số nhỏ có biểu hiện muộn (#1/4) thương tổn da ngày nay rất hiếm và thường khu trú, đơn độc hoặc hơi nhiều nhưng không đối xứng, không đau và có khuynh hướng hủy hoại, không lây. Thể ở bì là những củ giang mai, thường liên kết thành dạng vòng hay hình cánh cung với trung tâm bình thường và kết sẹo. Những thể sâu hơn gọi là gôm thường mềm đi và loét ra đây là những vét loét với những bờ thẳng đứng, giới hạn rõ. Những thương tổn da thường khu trú ở hai chân, mặt đuỗi ở cùi chỏ, đầu gối, mặt và da đầu. Gôm ở lưỡi gây loét nhưng không đau, thương tổn lan tỏa có thể gây ra viêm lưỡi gây loét nhưng không đau. Thương tổn lan tỏa có thể  gây viêm lưỡi với xơ hóa. Gôm cũng có thể làm thủng vách mũi, vòm miệng. Bạch sản do giang mai hiếm. Thương tổn da có thể cô lập hay liên kết với những thương tổn ở xương tạo nên giang mai muộn lành tính. Còn rất chịu tác dụng của PNC ngay cả với bismuth.
     Giang mai nội tạng, tim mạch, thần kinh, trở nên vô cùng hiếm. Chỉ cần chú ý đến khi xét nghiệm huyết thanh giang mai dương tính.

2.4. Giang mai bẩm sinh

     Giang mai bẩm sinh có thể truyền từ mẹ sang con qua trung gian của nhau.
     Bé bị nhiễm trong hầu hết những trường hợp từ tháng thứ 4 của thời kỳ, sự lây nhiễm là khoảng 100% nếu mẹ đang ở thời kỳ giang mai mới, sau giảm dần với thời gian bị bệnh, nghĩa là mẹ bị càng lâu, tỷ lệ bé bị nhiễm càng ít - Giang mai bẩm sinh có thể gây thai chết lưu hoặc gây ra những biểu hiện sớm hoặc muộn.

2.4.1. Biểu hiện sớm

     Đây là giang mai lan tỏa nặng. Bé thường thiếu cân, nhợt nhạt, bụng căng do gan lách lớn, thương tổn còn có viêm mũi loét có chảy máu, những thương tổn da nhất là lông bàn tay chân và quanh miệng hoặc quanh hậu môn, thâm nhiễm nứt để lại sẹo như nan xe đạp. Hiếm hơn là những thương tổn có bọng nước. Thương tổn ở thanh quản khiến tiếng bị rè hoặc tắt tiếng, một thương tổn cùng thường gặp, viêm xương sụn ở những xương dài có thể đưa đến giả liệt nhất là khi chụp X quang chứng tỏ có thương tổn xương sụn ở vùng cốt hóa. Tiên liệu của thể này rất nặng nhưng cũng có những hình ảnh lâm sàng nhẹ hơn chỉ bao gồm một vài thương tổn hoặc một vài sự biến đổi ở xương.

2.4.2. Biểu hiện muộn

     Bao gồm những thương tổn giống như thương tổn của giang mai 3 mắc phải. Một vài biểu hiện đặc biệt hơn và cũng không chịu ảnh của sự điều trị giang mai, viêm giác mạc kẽ, viêm mống mi thường xảy ra ở tuổi thiếu niên hay mới lớn, điếc do bị viêm thần kinh tiền đình, tràn dịch tái đi tái lại ở khớp gối. Những biểu hiện này chịu tác dụng của sự trị liệu bằng corticoit. Người ta cũng luôn luôn chú ý đến những di chứng của bệnh: vồ xương trán và mũi, hình yên ngựa bất thường ở răng (răng Hutchinson).

3. Huyết thanh giang mai

3.1. Những phản ứng huyết thanh

     Những phản ứng huyết thanh dùng để định bệnh là chủ yếu, rất nhiều loại phản ứng và mỗi loại phản ứng đều có những đặc tính và những giới hạn.

3.1.1. Phản ứïng huyết thanh giang mai cổ điển:

     Người ta dùng kháng nguyên không phải là xoắn trùng, chuẩn hóa và được gọi là cardiolipine để phát hiện những kháng thể ngưng kết và cố định bổ thể goi là phản ứng tố. Hai loại phản ứng được sử dụng: phản ứng cố định bổ thể (Bordet - Wassenman, Kolmer) và những phản ứng vi ngưng kết trong đó kháng nguyên được gắn trên một giá đỡ [Kline, V.D.R.L. (Venereal Disease Research Laboratory). Những phản ứng này vừa định tính và định lượng. Phản ứng định tính được diễn dịch bằng các dấu cộng +++, ++: dương tính, + hay ± nghi ngờ những phản ứng định lượng phải hòa loãng huyết thanh thanh, tỷ lệ được tính bằng mẫu số còn gây tan máu hoặc đã có kết cụm rõ. Nên VDRL 1/16 có nghĩa là 16 đơn vị. Những phản ứng này không đắt, tự động hóa, chuẩn hóa cho phép ta phát hiện bệnh và theo dõi sau điều trị. Biệt tính chỉ trung bình, có khả năng có dương tính giả.

3.1.2. Phản ứng mà kháng nguyên là xoắn trùng

- Thử nghiệm Nelson (TPT: Treponema pallium immobilization) phát hiện kháng thể bất động (bất động tố) một chủng xoắn trùng sống (chủng Nichols) khi có sự hiện diện của bổ thể - kết quả được tính bằng tỉ lệ phần trăm xoắn trùng bất động (80 - 100% dương tính; 20 - 80% nghi ngờ; 0 - 20% âm tính; tỷ lệ chỉ có giá trị định lượng,  phản ứng này rất nhạy cảm và có biệt tính cao nhưng đắt. Dương tính của phản ứng này thường đi sau phản ứng kết cụm nhiều nên ít được dùng trong xét nghiệm hàng ngày.
- Thử nghiệm miễn dịch huỳnh quang (F.T.A)
     Dùng kháng nguyên là xoắn trùng đã bị giết và cố định trên lam kính. Khi có kháng thể một màu huỳnh quang xanh của xoắn trùng hiện ra. Người ta dùng F.T.A được hòa loãng 200 (FTA.200) hoặc FTA có triệt hút (absorption) ((FTA.Abs).
     Phản ứng F.T.A định lượng được chuẩn hóa kỹ là một kỹ thuật được chọn lựa, dương tính sớm, nhạy cảm và có biệt tính cao. Ngày nay nó được dùng như phản ứng qui chiếu.
- Thử nghiệm ngưng kết hồng cầu (T.P.H.A): là một phản ứng mà kháng nguyên là một tính chất xoắn trùng được cố định trên những hồng cầu, khi có sự hiện diện của kháng thể, có sự ngưng kết hồng cầu - phản ứng vừa định tính và định lượng thực hiện đơn giản đã được chuẩn hóa. Biệt tính và tính nhạy cảm cũng như F.T.A. Ngày nay hầu như trên khắp thế giới VDRL và TPHA là một phức hợp phản ứng chuẩn để phát hiện giang mai.

3.2. Tiến triển của huyết thanh

     Phản ứng huyết thanh sẽ dương tính sau săng xuất hiện. Đối với phản ứng cổ điển vào ngày thứ 15, F.T.A sớm hơn nhiều. Hai loại phản ứng vừa định tính và định lượng được dùng để phát hiện giang mai ở giai đoạn 1. Ở giai đoạn 2 những phản ứng cổ điển sẽ dương tính với chuẩn độ cao đủ để định bệnh. Trong giang mai muộn, phản ứng cổ điển dương với những mức độ khác nhau và giảm dần với thời gian. Chỉ VDRL về phương diện định lượng đủ để theo dõi sự suy giảm chuẩn độ của phản ứng (thường từ 6 đến 24 tháng hoặc phát hiện sự tái nhiễm gia tăng ít nhất là 2 lần hòa loãng) T.P.H.A và F.T.A rất ít thay đổi khi điều trị và thường dương tính rất lâu - đây là sẹo huyết thanh - Huyết thanh dương tính ở trẻ sơ sinh không đồng nghĩa với bệnh vì có thể có những kháng thể của mẹ thụ động truyền sang con. Khi mẹ bị giang mai tiềm ẩn. Trong trường hợp này những phản ứng tố sẽ mất vào tháng thứ ba, những kháng thể khác biến mất chậm hơn. Ngày nay người ta dùng F.T.A Abs. Gắn với IgM, kháng thể không qua được với nhau, về phương diện lý thuyết có thể làm rõ được nguồn gốc của huyết thanh dương tính ở trẻ sơ sinh.

3.3. Huyết thanh giang mai dương tính giả.

     Phát hiện huyết thanh giang mai cổ điển dương tính là một vấn đề thường gặp, sự dương tính thường không đồng bộ, cao vừa hay thấp đều phải được kiểm tra bằng phản ứng qui chiếu (T.P.H.A; F.T.A. Abs). Trong trường hợp những phản ứng qui chiếu âm, đây là phản ứng dương tính giả nghĩa là xảy ra ở những người không mắc bệnh giang mai. Tần xuất những phản ứng dương giả không ít. Nó có thể chóng qua (<6 tháng), thường thấy ở những bệnh do virút, sau chủng ngừa, khi có thai. Những phản ứng dương tính giả thường xuyên quan trọng hơn. Nó thường thấy ở những bệnh viêm mô liên kết, xơ gan, một vài bệnh máu, những bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng mạn tính. Ngày nay người ta vẫn chưa tìm hiểu kỹ được. Những phản ứng dương tính đồng thời với nhiều loại phản ứng cho phép kết luận giang mai huyết thanh đây là vấn đề thường gặp hàngngày: giang mai kín, giang mai bị bỏ qua, giang mai 3, giang mai bẩm sinh, giang mai tồn lưu sau trị liệu.v.v... Do vậy phải hỏi kỹ tiền sử, truy tìm những kết quả của những phản ứng trước kia, phát hiện những biểu hiện cũ và mới v.v... không phải là lúc nào cũng xác định được thời gian và ý nghĩa của những phản ứng này. Những kết quả của những phản ứng định lượng liên tiếp là một hướng theo dõi. Xét nghiệm dịch não thường qui không cần thiết.
     Xoắn trùng không lây truyền bằng đường tình dục thường gặp ở Phi châu; giang mai địa phương (béjel) ở những vùng khí hậu khô cằn, ghẻ cóc ở vùng ẩm ướt cũng cho những phản ứng huyết thanh giang mai dương tính, không phân biệt được với giang mai lây truyền qua đường tình dục. Vậy khó mà xác định rõ một phản ứng mà không có dấu hiệu lâm sàng là thuộc bệnh xoắn trùng hoặc chỉ là dương giả v.v... Trị liệu như giang mai lây qua đường tình dục.

4. Trị liệu

     Penicilline vẫn còn rất hiệu quả trên mọi thể giang mai. Vấn đề là giữ nồng độ tối thiểu diệt xoắn trùng trong ít nhất 10 ngày, tốt nhất là dùng penicilline bán chậm hoặc chậm.

4.1. Đối với giang mai 1, 2 và kín sớm (<2 năm):

     Phác đồ như sau được khuyến cáo.
     - Penicilline - procaine 1.000.000 đơn vị/ngày trong 10 đến 15 ngày.
     - Benzathine - penicilline (Extenciline) 2,4 x 106 đơn vị, liều duy nhất.
     Bệnh nhân dị ứng với penicilline có thể dùng erythromycine 2g/ngày trong 2 tuần hoặc doxycycline 300mg/ngày (chia làm 3 lần) trong 15 ngày không dùng doxycycline cho phụ nữ mang thai. Hiệu quả những kháng sinh này thường không bằng penicilline. Bệnh nhân phải được theo dõi kỹ, trị liệu tấn công có thể gây ra hiện tượng Hersheimer: sốt, khó chịu, triệu chứng ở da. Trị liệu cho những người mới tiếp xúc 2,4 x 106 đơn vị. Phụ nữ có thai cũng điều trị như vậy.

4.2. Giang mai kín, huyết thanh.

     Trên 12 tháng phải dùng phác đồ sau. Benzathine - PNC 2,4 x 106 đơn vị/ lần trong 4 lần cách nhau 1 tuần (Mỹ chỉ 3 lần) nhưng ta nhớ là chuẩn độ những huyết thanh giang mai sau đi điều trị không có sự thay đổi trừ trường hợp giang mai kín muộn sớ bị bỏ quên, ở những bệnh nhân có nguy cơ cao nên theo dõi cẩn thận, định kỳ (thai phụ AIDS,v.v...) khi thấy có sự gia tăng nhiều chuẩn độ, có thể là do tái nhiễm nên cần trị liệu như giang mai mới. Thai phụ không cần sư điều trị ngay mà phụ thuộc vào sự trị liệu đã dùng.
     Giang mai bẩm sinh được trị liệu bằng PNC.G hoặc penicilline - procaine liều trung bình 500.000 đơn vị/kg cân nặng chia đều trong 10 ngày, giang mai muộn điều trị như ở người lớn. Viêm giác mạc, viêm thần kinh tiền đình, tràn dịch khớp gối đáp ứng tốt với corticoit trị liệu.
     Bệnh giang mai là bệnh phải khai báo, phản ứng huyết thanh giang mai phải được thử nghiệm trước hôn nhân, thai phụ có tuổi thai trước 3 tháng, trước hiến máu và nhiều vấn đề liên quan đến nghề nghiệp xã hội.
 

Tài liệu tham khảo:
 
1. Nguyễn Văn Út và cộng sự (2000). Bệnh Da liễu, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Fitzpatrick T.B. (1998). Color Atlas and Synopsis of Clinical Dermatology
3. Fitzpatrick T.B. (1998). Dermatology in General Medicine.
4. Giáo trình Da liễu (1998). Bộ môn Da liễu, Đại học Y Huế.
Tác giả bài viết: Bs Đỗ Thị Huế -Khoa Khám
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Số ĐT đặt lịch khám bệnh
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN, Địa chỉ: 184 Trần Quý Cáp- Phường Tự An- TP Buôn Ma Thuột- tỉnh Đắk Lắk, Điện thoại nóng: 0262. 3919009 - 0262. 3852654
Điện thoại phòng KHTH
Thông báo về việc lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản
CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ TRẠNG THÁI ĐỘNG KINH
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN TỔ CHỨC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGƯỜI HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH LÂM SÀNG CHO ĐIỀU DƯỠNG VIÊN MỚI
VIÊM HỌNG CẤP TÍNH
ĐIỀU TRỊ LIỆT MẶT NGOẠI BIÊN BẰNG PHƯƠNG PHÁP Y HỌC CỔ TRUYỀN
GÂY MÊ HỒI SỨC TRONG PHẪU THUẬT NIỆU KHOA
TRẠNG THÁI ĐỘNG KINH
Bạch hầu: Tiêm chủng là biện pháp phòng bệnh chủ động, hiệu quả
Chín đối tượng dễ bị COVID -19 tấn công
PHÒNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CHUNG TAY HỖ TRỢ TUYẾN ĐẦU PHÒNG CHỐNG COVID-19
CẤP CỨU PHÙ PHỔI CẤP HUYẾT ĐỘNG
MỘT SỐ TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG BỆNH COVID-19
Chấn thương sọ não nặng do tai nạn lao động.
Thông báo mời thầu : Gói thầu Vật tư y tế, vi sinh, ký sinh trùng (đợt 2)
Thông báo số điện thoại đặt lịch khám bệnh
BẠCH HẦU VÀ THAI KỲ!!!
Thông báo mời thầu gói thầu: Vật tư kỹ thuật cao
Thông báo HSMT gói thầu : Hóa chất, sinh phẩm chẩn đoán thuộc dự toán : Mua hóa chất sinh phẩm chẩn đoán năm 2020
XÔNG HƠI THUỐC- PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ ĐƠN GIẢN TẠI NHÀ
PHÒNG NGỪA HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH CHU PHẪU CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 165
  • Khách viếng thăm: 118
  • Máy chủ tìm kiếm: 47
  • Hôm nay: 1343
  • Tháng hiện tại: 192537
  • Tổng lượt truy cập: 10876781
Cổng dịch vụ công quốc gia
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang