bvvtn

BỆNH PHỔI VÀ ĐÁNH GIÁ NỘI KHOA TRƯỚC PHẨU THUẬT

Đăng lúc: Thứ tư - 13/05/2020 11:10 - Người đăng bài viết: admin
BỆNH PHỔI VÀ ĐÁNH GIÁ NỘI KHOA TRƯỚC PHẨU THUẬT

BỆNH PHỔI VÀ ĐÁNH GIÁ NỘI KHOA TRƯỚC PHẨU THUẬT

BỆNH PHỔI VÀ ĐÁNH GIÁ NỘI KHOA TRƯỚC PHẨU THUẬT
I.Dịch tễ học
Biến chứng phổi sau phẫu thuật có thể phổ biến hơn biến chứng tim mạch, và việc xảy ra có thể làm tăng các biến chứng khác. Biến chứng phổi có ý nghĩa trên lâm sàng bao gồm: viêm phổi, co thắt phế quản, xẹp phổi, và đợt cấp của bênh phổi mạn tính, suy hô hấp có thể là biến chứng đe dọa tính mạng, với tỷ lệ tử vong trong 30 ngày cao 26,5%.
II.Yếu tố nguy cơ
1.Các yếu tố nguy cơ liên quan đến thủ thuật
Vị trí phẫu thuật là cân nhắc chung cho yếu tố nguy cơ nhất của biến chứng phổi, với phẫu thuật bụng trên và ngực liên quan với nguy cơ cao nhất.phẫu thuật thần kinh  và thủ thuật liên quan đến răng và môi cũng liên quan đến tăng nguy cơ
Thời gian phẫu thuật có liên quan với nguy cơ ở đa số các nghiên cứu
Thể loại gây mê có thể liên quan đến nguy cơ biến chứng phổi, mặc dù con vài tranh cãi, gây tê tủy sống ít nguy cơ gây viêm phổi và suy hô hấp
2.Yếu tố nguy cơ của bênh nhân
Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) thực sự được thấy là 1 yếu tố nguy cơ cho biến chứng phổi sau phẫu thuật, mức độ bệnh nặng liên quan với nguy cơ của  biến chứng nghiêm trọng ,tuy nhiên, bệnh nhân với bệnh phổi mãn tính tiến triển có thể trải qua phẫu thuật an toàn nếu cần thiết,  do đó mức độ nặng của COPD không phái là chống chỉ định của phẫu thuật
Bệnh phổi kẽ dường như làm tăng nguy cơ nhưng không được nghiên cứu tốt ở bệnh nhân có phẫu thuật chung, hen phế quản được kiểm soát tốt và  bệnh phổi hạn chế liên quan với béo phì không xuất hiện như là một yếu tố nguy cơ có ý nghĩa
Tăng áp động mạch phổi có liên quan với tình trạng bệnh tật có ý nghĩa ở bệnh nhân trải qua phẫu thuật
Dữ liệu từ hệ thống báo cáo được thực hiện cơ bản từ American college of Physician hướng dẫn quan điểm phân tầng nguy cơ bệnh phổi với phẫu thuật không phải tim mạch đề nghị suy tim có thể làm tăng nguy cơ của biến chứng bệnh phổi,mức độ nặng hơn được thấy ở bệnh nhân COPD.
Tình trạng sức khỏe chung yếu liên quan đến tăng nguy cơ phổi trong phẫu thuật, tỉ số cho bệnh nhân suy hô hấp sau phẫu thuật là 2,53 so với 22,29 đối với bệnh nhân có giảm alb máu < 3g/dl và BUN > 30mg/l. 
Đánh giá được thực hiện bới tố chức American college of physician xác định bệnh nhân >50 tuổi có tăng biên chứng sau phẫu thuật, có liên quan đến việc tăng nguy cơ biến chứng với tăng tuổi.
Thuốc lá được xác định là yếu tố nguy cơ cho cả biến chứng phẫu thuật tại phổi và ngoài phổi, với bệnh ác tính, xuất hiện nguy cơ phụ thuộc vào tần số hút thuốc và liên quan tới bệnh đang tiến triển.
Bệnh ngưng thở khi ngủ làm tăng nguy cơ của biến chứng sau phẫu thuật với cả phổi và tim mạch, biến chứng bệnh phổi thường xuyên được thấy là tình trạng giảm o xy máu.
III.Chẩn đoán
1.Biểu hiện lâm sàng 
Trọng tâm của đánh giá bệnh phổi trước phẫu thuật nên bao gồm các yếu tố nguy cơ đã đề cập ở trên.
Bất kể tiền sử của bênh phổi mạn tính nên được làm sáng tỏ,nếu bệnh phổi mạn tính được xác định đã có, cần xác định các bệnh nền của bệnh nhân và các triệu chứng bất kì gần đây như là ho và tăng tiết đờm.
Triệu chứng gần đây của nhiễm trùng đường hô hấp dưới nên được xác minh, mặc dù không phải là chống chỉ đinh tuyệt đối cho phẫu thuật, nó dường như là khôn ngoan nếu chon lựa việc hoãn lại thủ thuật cho đến khi nhiễm trùng được giải quyết.
Một tiền sử hút thuốc cần được khai thác.
Bệnh nhân nên được hỏi về quan điểm các hội chứng tiềm ẩn với OSA (ngưng thở khi ngủ).
Như đã đề cập ở trên cần khai thác các tiền sử bệnh không phải là bệnh phổi có thể gây biên chứng phổi,hoàn thành tiền sử bệnh tật là cần thiết.  
2.Đánh giá lâm sàng
Chỉ số cơ thể (BMI) nên được tính toán, mặc dù béo phì không liên quan với biến chứng phổi sau phẫu thuật, tỷ lệ lưu hành của OSA tăng khi tăng BMI, tang huyết áp không kiểm soát có thể đề nghị không được chẩn đoán ngưng thở khi ngủ, biện pháp bão hòa oxy bởi hỗ trợ oxy ở phân tầng nguy cơ cao.
Một điểm số Mallampati nên được xác định, một nghiên cứu ở 137 người lớn đã được đánh giá cho OSA cho thấy mỗi điểm Mallampati tăng thì OSA tăng bởi 2,5.
Chú ý nên được dành cho bằng chứng của bệnh phổi mạn tính như tăng đường kính trước sau của lồng ngực và âm thanh phổi bất thường gần đây, một ho kéo dài sau ho tự phát là dấu chỉ điểm cho tăng nguy cơ.
Dấu hiệu của suy tim mất bù nên được tìm kiếm.
3.Phân tầng nguy cơ
Chỉ số nguy cơ nghiêm trọng đã được phát triển để định lượng cho suy hô hấp sau phẫu thuật (xác định thời gian ngừng thở máy sau 48h phẫu thuật) or viêm phổi. chỉ số suy hô hấp của the Azorullah dựa trên phân tích đa số của nghiên cứu đoàn hệ 81,719 bệnh nhân và đã xác nhận ở 99,390 bệnh nhân khác,theo tính toán của Gupta cho viêm phổi và suy hô hấp sau phẫu thuật lấy từ một dữ liệu 211,410 bệnh nhân và đã xác nhận ở 257,318 bệnh nhân.
4.Test chẩn đoán
4.1.Thăm dò chức năng phổi (PFTs)
Giá trị của PFTs trước phẫu thuật còn nhiều tranh cãi cho chọn lựa phẫu thuật, nhưng  vai trò của nó trong xác định,ở phẫu thuật khác đo PFTs có vẻ không cung cấp thông tin hơn các dấu hiệu lâm sàng khác,mặc dù PFTs không xuất hiện trong cách hưỡng dẫn, họ nên cân nhắc cho bệnh nhân với than phiền khó thở  cho những bệnh phổi chưa biết hoặc không rõ rang.
4.2.Khí máu động mạch (AGB)
Không có dữ liệu nào đề nghị khí máu động mạch là thiết yếu đối với nguy cơ bệnh phổi sau phẫu thuật hơn là dấu hiệu lâm sàng, khí máu động mach nên được sử dụng nếu có chỉ định vd như xác định một bệnh phổi mạn tính của bệnh nhân còn bù không.
4.3.X quang ngực
Nhìn chung x quang ngực là khuyến cáo nếu có chỉ định (vd đánh giá các than phiền về khó thở)
Có rất nhiều bất thường đã được tìm thấy như là mạn tính và không được quản lý
IV. Điều trị
Điều trị nên hướng trọng tâm vào các yếu tố liên quan tới bệnh nhân và các yếu tố liên quan đến thủ thật
Hiệu quả của việc ngừng hút thuốc sau phẫu thuật  với biến chứng phổi được miêu tả ở cardiothoracic sugeries,lợi ích của việc ngừng thuốc  tốt nhất là trước hai tháng trước phẫu thật đã được trình bày, hiệu quả trong phẫu thuật chung là là chưa rõ ràng  và còn thiếu,bởi vì các lợi ích của bỏ thuốc lá liên quan đến việc cái thiện tiên lượng ngoài phổi như là mau lành các viết thương, lợi ích của việc ngừng thuốc trong thời gian dài, tất cả  bệnh nhân nên được ngừng thuốc 8 tuần sau phẫu thuật, các lo ngại trước đây về việc tăng ngược các biến chứng là không rõ ràng
Liệu pháp điều trị COPD và hen phế quản nên được tối ưu
Ngưng thở khi ngủ nên được điều trị với phẫu thuật có nguy cơ cao khi có thể. Dữ liệu cho vấn đề này còn hạn chế, nhưng một thử nghiệm mở gần đây cho thấy bệnh nhân với ngưng thở khi ngủ ở mức độ trung bình, người được chọn ngẫu nhiên được điều trị áp lực dương liên tục có cải thiện tình trạng bão hòa oxy máu và chỉ điểm giảm chỉ số hạ oxy máu.
Thủ thuật thay thế với giảm nguy cơ phổi nên được cân nhắc cho bệnh nhân có nguy cơ cao nếu có thể,thủ thuật  mổ nội soi có thể giảm biến chứng phổi, block thần kinh khu trú có thể liên quan với giảm nguy cơ, gây tê tủy sống chung là tuyệt đối cần thiết, thời gian phẫu thuật nên được giảm thiểu nhất có thể
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.The Washington Manual of Medical Therapeutics 35th edition 2019 (Chapter I, Pulmonary Disease and Preoperative Pulmonary Elvation)
Clinical Examniation Skill in the Adult Critically ill Patient 2018 (Chapter II, the airway and lung)
Tác giả bài viết: BS Nguyễn Ngọc Hải - khoa Lão
Từ khóa:

đánh giá, nội khoa

Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN, Địa chỉ: 184 Trần Quý Cáp- Phường Tự An- TP Buôn Ma Thuột- tỉnh Đắk Lắk, Điện thoại nóng: 0262. 3919009 - 0262. 3852654
Điện thoại phòng KHTH
CHIA SẺ YÊU THƯƠNG TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19
Thông báo mời thầu:Mua thuốc vị thuốc cổ truyền năm 2020 thuộc danh mục thuốc cấp cơ sở
Vai trò của đội ngũ điều dưỡng và nữ hộ sinh trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân
Lễ trao tặng Huy hiệu 30 năm tuổi Đảng
KHÓ THỞ THANH QUẢN
THANH PHẾ BÀI ĐỘC THANG - BÀI THUỐC HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ BỆNH COVID-19
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG TỔN THƯƠNG TUỶ SỐNG LƯNG - THẮT LƯNG
Gãy xương mắt cá chân
THÓI QUEN VÀ NGUY CƠ MẮC BỆNH ĐỘT QUỴ
NGỘ ĐỘC THUỐC TÊ- NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN KỶ NIỆM NGÀY QUỐC TẾ ĐIỀU DƯỠNG NĂM 2020
BỆNH PHỔI VÀ ĐÁNH GIÁ NỘI KHOA TRƯỚC PHẨU THUẬT
Phòng CTXH chung tay phòng chống dịch Covid-19
COVID 19 VÀ THAI KỲ
VIÊM NÃO
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP ĐIỀU TRỊ TINH HOÀN ẨN TRONG Ổ BỤNG BẰNG KỸ THUẬT NỘI SOI TẠI BIỆN VIỆN ĐA KHOA VŨNG TÂY NGUYÊN
DỊCH TRUYỀN TRONG GIAI ĐOẠN CHU PHẪU
Thông báo mời thầu: Gói thầu: Mua thuốc Gereric thuộc danh mục thuốc không trúng thầu cấp cơ sở năm 2019
HẠ CANXI MÁU
CÁC BIỂU HIỆN VÀ CHỈ ĐỊNH CỦA CT NGỰC TRONG COVID-19

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 32
  • Khách viếng thăm: 31
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 1370
  • Tháng hiện tại: 39872
  • Tổng lượt truy cập: 9719502
Cổng dịch vụ công quốc gia
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang