bvvtn

BỆNH VẢY NẾN

Đăng lúc: Thứ tư - 23/10/2019 11:31 - Người đăng bài viết: admin
BỆNH VẢY NẾN

BỆNH VẢY NẾN

Bệnh vảy nến là một bệnh đỏ da có vảy, tiến triển mạn tính được biết từ thời Hyppocrate nhưng cho đến nay nguyên nhân của bệnh vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ .
I. ĐẠI CƯƠNG
Bệnh vảy nến là một bệnh đỏ da có vảy, tiến triển mạn tính được biết từ thời Hyppocrate nhưng cho đến nay nguyên nhân của bệnh vẫn chưa được hiểu một cách đầy đủ . Hai giả thuyết về nguyên nhân đã được đưa ra dựa trên rất nhiều công trinh nghiên cứu đó là di truyền và miễn dịch, trong đó lãnh vực di truyền rất được chú ý.
            Từ nhiều năm nay, vảy nến là một trong những bệnh da được chú ý nhiều nhất, mỗi năm có khoảng trên 300 đề tài nghiên cứu về bệnh này.Bệnh phân bố khắp nơi trên thế giới, tỷlệ chiếm khoảng 1-2 % dân số thế giới ,thay đổi tùy theo vùng địa lý.
             Ở Việt Nam, theo ước tính của Viện Da liễu, bệnh vảy nến chiếm tỉ lệ từ 1-1,5 %. Tuổi mắc bệnh có thể ở bất kỳ lứa tuổi nào, từ trẻ sơ sinh cho đến người già .
Đặc trưng của bệnh là sự tăng sinh thượng bì, sự tăng sinh này luôn lành tính và thường kết hợp với sự rối loạn biệt hóa tế bào và sự sản xuất ra một số Cytokine, dẫn đến một tiến trình viêm. Kết quả của sự tăng sinh thượng bì tạo nên một lớp vảy dày và sự bong vảy không ngừng.
1. Sinh lý da bình thường và những thay đổi trong bệnh vảy nến
Bệnh vảy nến tương ứng với sự tăng sinh những tế bào thượng bì kết hợp với những rối loạn sự trưởng thành của những tế bào này. Cơ chế tạo thành những tổn thương vảy nến đã được biết là do sự gia tăng quay vòng của tế bào thượng bì (3-4 ngày so với 3 tuần ở người bình thường), gia tăng  gấp 7 lần. Thế nhưng các nguyên nhân của sự gia tăng thời gian quay vòng vẫn còn là điều bí ẩn . Nhiều yếu tố nguyên nhân được đưa ra để giải thích cho bệnh vảy nến :
1.2.Những yếu tố di truyền
            Đặc tính gia đình của bệnh vảy nến đã được biết từ lâu và chiếm tỉ lệ khoảng 40% các trường hợp. Nghiên cứu hệ thống HLA đã chỉ ra rằng nhiều vị trí đã được tìm thấy kết hợp với bệnh vảy nến :HLA B13, B17,CW6, và DRW7. HLA B27 thường gặp ở những bệnh nhân bị vảy nến thể khớp, yếu tố di truyền theo nhiễm sắc thể trội.Tác động thứ phát của những yếu tố môi trường làm xuất hiện tổn thương ở những người có yếu tố di truyền.
1.3. Những yếu tố sinh hóa học và miễn dịch học
             Nhiều yếu tố sinh hóa và miễn dịch đóng vai trò thúc đẩy sự tăng sinh thượng bì:
- Ảnh hưởng của những chất hướng động bạch cầu đa nhân.
- Thay đổi của sự điều hòa chuyển hóa acide Arachidonique,
- Aính hưởng của những chất trung gian được tiết ra bởi các tế bào Lympho T
- Hiệu quả của những chất ức chế miễn dịch như Ciclosporine A trong điều trị bệnh vảy nến làm cho người ta nghĩ đến bệnh tự miễn.
2. Những thay đổi về giải phẫu bệnh lý trong bệnh vảy nến
2.1. Hiện tượng á sừng 
Vảy được cấu tạo bởi các lớp tế bào sừng bình thường không có nhân, trong bệnh vảy nến vẫn còn có nhân gọi là hiện tượng á sừng.
2.2. Lớp tế bào hạt mỏng hoặc biến mất
2.3. Lớp tế bào gai dày ra nhất là ở giữa các gai bì
2.4. Gai bì dài ra dạng ngón tay đeo găng
2.5. Vi áp xe Munro
Ởí lớp sừng tập trung nhiều bạch cầu đa nhân trung tính thành từng ổ nhỏ gọi là vi áp xe Munro. Ở thể mụn mủ là do vi áp xe này tăng thể tích.
2.6. Mạch máu giãn trong các gai bì gây nên hiện tượng đỏ da
3. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự khởi phát và gia tăng bệnh
3.1. Yếu tố tâm lý
            Có một sự tương quan giữa những đợt tiến triến của bệnh và những biến cố về tâm lý của bệnh nhân. Tuy vậy cơ chế của nó vẫn chưa được chứng minh và có lẽ thông qua những neuropeptide.
3.2. Nhiễm khuẩn
            Vai trò khởi phát bệnh của nhiễm khuẩn với liên cầu đã được nhận thấy ở trẻ em và đặc biệt trong vảy nến thể giọt, trong các thể này tỷ lệ ASLO (antistreptolysine O) thường tăng cao, các tổn thương thường thoái lui sau một đợt điều trị kháng sinh thuộc nhóm Bêta lactamine
3.3. Vai trò của thuốc
Một số thuốc gây bệnh hay làm gia tăng bệnh vảy nến : kháng sốt rét tổng hợp, các thuốc chẹn ß, muối Lithium, các kháng viêm không Steroit, đặc biệt phải nhấn mạnh đến vai trò của cocticoide đường toàn thân, gây ra hiện tượng "dội", làm bệnh thường tái phát khi ngừng điều trị và tiến triển sang các thể nặng như đỏ da toàn thân và vảy nến thể mụn mủ.
3.4. Vai trò của chấn thương
Hiện tượng Koebner là sự xuất hiện tổn thương vảy nến mới trên những vùng da bị kích thích cơ học, hoá học hay nhiệt. Hiện tượng này thường gặp trên các vết gãi, vết sẹo, những vùng da tiếp xúc lâu dài với ánh nắng, hay trên các đường rạch da.
II. LÂM SÀNG
1. Tổn thương cơ bản
Đặc trưng bởi những dát hay mảng giới hạn rõ, màu đỏ, được phủ bởi lớp vảy dày.
1.1. Lớp vảy
Có giới hạn rõ, màu trắng bẩn, đục hay óng ánh như mica. Lớp vảy có thể che phủ toàn bộ tổn thương vảy nến hoặc chỉ phủ ở phần trung tâm. Bề mặt của vảy đôi khi không đều, lớp vảy được cấu tạo bởi những phiến vảy mỏng, khô, kích thước và chiều dày khác nhau, tách ra tự nhiên hay do va chạm khi thay áo quần.
Đôi khi vảy ít rõ ràng và chỉ phát hiện được nhờ cạo vào thương tổn.
1.2. Đỏ da : lớp da đỏ có giới hạn rõ, nhẵn, khô, biến mất khi đè, mềm và hơi gờ lên so với da xung quanh.
2 . Vị trí khu trú
             Tổn thương khu trú khắp cơ thể, có tính đối xứng, nhưng đặc trưng nhất là các vùng tì đè: khuỷu tay, đầu gối, vùng thắt lưng cùng và đầu.
             Chú ý : bản chất của bệnh là sự rối loạn keratine hóa, tóc cũng là tổ chức sừng nhưng không bị tổn thương trong bệnh này, lý do tại sao vẫn chưa được giải thích.
3. Nghiệm pháp Brocq
Dùng thìa nạo cạo nhẹ lên bề mặt của tổn thương vảy nến từ 30-150 lần, ta sẽ thấy lần lượt các dấu hiệu sau:
- Vết đèn cầy : khi cạo vảy rơi ra giống bụi khi ta cạo trên đèn cầy.
- Dấu vảy hành :khi lớp vảy cuối cùng bong ra, cạo mạnh ta được một miếng bong ra nguyên mảnh hoặc thành những miếng lớn như vảy hành khi lột ra.
- Giọt sương máu = dấu Auspitz : sau khi lớp cuối cùng bong ra trên bề mặt thương tổn có màu đỏ và trên nền màu đỏ xuất hiện những giọt máu như giọt sương nên gọi là giọt sương máu.
4. Triệu chứng cơ năng
Bệnh vảy nến thường không gây nên triệu chứng gì đặc biệt, nhưng triệu chứng ngứa có thể gặp khoảng 25% các trường hợp.
5. Các xét nghiệm cận lâm sàng:
Không có thay đổi gì đặc biệt, có thể tăng acide urique máu trong vảy nến thể khớp hoặc bạch cầu có thể tăng trong vảy nến thể mụn mủ.
III. CÁC THỂ LÂM SÀNG
1. Phân chia theo vị trí
1.1. Vảy nến các kẽ hay còn gọi là vảy nến thể đảo ngược
             Biểu hiện tương tự như viêm kẽ mạn tính, tổn thương có giới hạn rõ, hay gặp ở các nếp gấp lớn: dưới vú, bẹn, nách, gian mông, tổn thương thường ít vảy, màu đỏ tươi, đôi khi bề mặt ẩm ướt và xuất tiết . Có thể có triệu chứng ngứa.
             Chẩn đoán thường dựa vào : đặc tính mạn tính của thương tổn, sự tái phát và không đáp ứng với các liệu pháp kháng sinh cũng như kháng nấm , đôi khi dựa vào giải phẫu bệnh
1.2. Vảy nến ở móng
            Tổn thương móng thường gặp trong khoảng 30-50% các trường hợp, thường xuất hiện trong giai đoạn tiến triển của bệnh, hiếm khi là biểu hiện đầu tiên. Có 2 loại thương tổn móng:
- Dạng từng điểm có hình đáy chén hay hình ‘đế khâu của thợ may”
- Ly móng hay tách móng ở bờ tự do, có thể kết hợp với quá sừng dưới móng.
- Phá hủy toàn bộ móng.
1.3. Vảy nến ở mặt
            Rất hiếm gặp và chẩn đoán thường khó. Thương tổn là mảng đỏ da, vảy ít, mảnh, dễ nhầm với các bệnh da khác.
1.4. Vảy nến ở da đầu
            Khởi đầu của bệnh là những mảng đỏ có vảy dày tương tự tổn thương vùng da nhẵn. Tóc vẫn mọc qua bình thường (không rụng, không gãy)
1.5. Vảy nến ở niêm mạc
            Biểu hiện bởi những mảng đỏ da, mềm, ít vảy hay không có vảy, tiến triển thành từng đợt, ở lưỡi tổn thương tạo thành mảng trắng dạng liken hay dạng hình lưỡi bản đồ.
1.6. Vảy nến lòng bàn tay - bàn chân
            Tổn thương là những mảng hình tròn có giới hạn rõ đối xứng, bề mặt có vảy dày và thường lan đến cổ tay, đôi khi da khô, nứt gây đau.
2. Phân loại theo kích thước
2.1. Vảy nến thể giọt 
             Thường gặp ở trẻ em và thanh niên, thương tổn dạng sẩn, khởi đầu đột ngột, đôi khi có thương tổn đỏ da,  có kích thước nhỏ, số lượng nhiều, rải rác, bề mặt có vảy đôi khi ít rõ  , dễ chẩn đoán nhầm với các bệnh da khác.
2.2.Vảy nến thể mảng
             Các mảng màu đỏ sậm, vảy trắng và dày, giống mica, do nhiều thương tổn nhỏ tập hợp lại với nhau, khu trú ở các chi và thân.
2.3. Vảy nến toàn thân
            Do các thương tổn mảng liên kết lại, nhưng vẫn còn để lại ít da lành .
3. Phân loại theo hình dạng
3.1. Vảy nến hình vòng nhẫn
            Tổn thương có hình vành khăn, trung tâm khỏi.
3.2.. Vảy nến thể mụn mủ
            - Mụn mủ lòng bàn tay - chân : khá thường gặp, mụn mủ màu vàng được che bởi lớp sừng dày.
- Mụn mủ toàn thân thể Von Zumbusch : có biểu hiện đỏ da toàn thân trầm trọng, toàn thân đầy các mụn mủ màu trắng sữa nằm riêng rẽ hay tập trung thành cụm, thường kèm theo tổn thương ở niêm mạc.
- Bệnh thường có các triệu chứng toàn thân đi kèm :
+ Sốt cao 400
+ Rối loạn nước điện giải...
4. Phân loại theo tuổi
4.1. Vảy nến ở trẻ sơ sinh
            Thương tổn có dạng tã lót, màu đỏ tươi, giới hạn rõ, bề mặt khô. Bệnh xuất hiện ở trẻ sơ sinh nhưng không bắt buộc sẽ phát triển bệnh vảy nến ở người lớn.
4.2. Vảy nến ở trẻ em
            Thường dạng giọt, xuất hiện sau nhiễm khuẩn vùng Tai - Mũi - Họng do liên cầu. Đôi khi có thể phát thương tổn ở mặt, lòng bàn tay- chân.
4.3. Đỏ da toàn thân vảy nến bẩm sinh
            Rất hiếm gặp và thường phát triển vảy nến thể mụn mủ
            Lưu ý : Người có HIV (+) thường xuất hiện bệnh vảy nến ở các thể nặng và kháng trị.
IV. TIẾN TRIỂN
            Vảy nến là bệnh da khó điều trị, tiến triển thành từng đợt và thường tái phát. Những giai đoạn khỏi bệnh kéo dài vài tháng đến vài năm làm bệnh nhân nghĩ là bệnh lành hẳn, đôi khi giữa các đợt tái phát vẫn còn ít tổn thương ở đầu gối, khuỷu tay và đầu gọi là thành trì của bệnh vảy nến .Các đợt bệnh tái phát thường có sự tác động của các yếu tố môi trường.
             Sự thoái lui của bệnh vảy nến theo nhiều cách khác nhau, có thể lành ở trung tâm thương tổn nhưng bờ lại lan rộng, có khi da trở lại bình thường nhưng nơi khác vẫn tồn tại thương tổn. Thương tổn vảy nến khi thoái lui thường không để lại sẹo nhưng để lại những dát giảm sắc, đôi khi có những dát tăng sắc được bao quanh bởi một vòng trắng da.
V. BIẾN CHỨNG
1. Sự chàm hoá
            Do ngứa nhiều bệnh nhân gãi hoặc do bôi thuốc không đúng quy cách hoặc không đúng thuốc.
2. Viêm khớp
             Có liên quan đến HLA - B27 (Human Leucocyte Antigen). Thường xuất hiện trong tiến trình của bệnh hiếm khi là biểu hiện đầu tiên của bệnh , chiếm khoảng 10% các trường hợp
- Viêm khớp ngoại vi: thường một khớp hay nhiều khớp không đối xứng, các khớp nhỏ của bàn tay - bàn chân.
- Viêm khớp trung ương: thường gặp ở khớp cùng chậu và các khớp cột sống.
            Tổn thương khớp có thể gây phá hủy khớp và có thể gây biến dạng khớp, đôi khi tổn thương khó phân biệt với viêm đa khớp dạng thấp có thể phân biệt nhờ vào phản ứng Waaler Rose âm tính.
3. Đỏ da toàn thân
Bệnh vảy nến có thể kết thúc bởi đỏ da toàn thân, lưu ý đến các thuốc điều trị vì có thể dẫn đến biến chứng này, quan trọng nhất là Corticoide toàn thân.
VI. CHẨN ĐOÁN
1. Chẩn đoán xác định
 Dựa vào:      
- Thương tổn lâm sàng.
            - Vị trí khu trú đặc biệt.
            - Nghiệm pháp Brocq (+).
                 - Giải phẫu bệnh: chỉ dùng trong các trường hợp khó chẩn đoán.
            - Xét nghiệm vi khuẩn và nấm thường âm tính nhưng cần có để xác định đặc tính vô khuẩn của các thương tổn, nhất là thương tổn mụn mủ.

2. Chẩn đoán phân biệt
2.1. Bệnh Giang mai II dạng vảy nến
            Sẩn rải rác toàn thân, có vảy ở bề mặt, dấu vảy hay gặp ở lòng bàn tay - chân. Kèm theo các mảng niêm mạc, hạch toàn thân di động, không đau. Phản ứng huyết thanh giang mai (+).
2.2. Bệnh vảy phấn hồng Gibert
            Tổn thương dát-sẩn có vảy ở bờ, màu hồng, thưòng có hình bầu dục ,nhiều tổn thương có cùng trục nằm ngang như dạng cây thông tập trung chủ yếu ở thân, ít ở đầu, cổ, các đầu mút chi. Không có tổn thương niêm mạc. Bao giờ cũng có 2 đợt phát thương tổn.
2.3. Viêm da mồ hôi mỡ
            Thường phân biệt với vảy nến ở mặt hay ở da đầu. Tổn thương giới hạn ít khi rõ ràng, có màu hồng, vảy mịn hơi bóng mỡ, hay gặp ở rãnh mũi má, lông mày, kẽ tai, da đầu.
2.4. Bệnh viêm kẽ do Candida
            Thường xuất hiện ở các kẽ lớn, đỏ da có bề mặt khô hay ẩm ướt, giới hạn ít rõ, bờ không đều, hiện tượng “tiểu đảo”: các tổn thương mụn mủ nằm cách xa bờ tổn thương 1 khoảng da lành. Xét nghiệm có nấm gây bệnh.
2.5. Viêm da lòng bàn tay - chân khô
            Thường gặp trong bối cảnh các bệnh viêm da tiếp xúc, viêm da do kích thích, bệnh da lòng bàn chân ở người trẻ, dày da lòng bàn tay - chân bẩm sinh.
2.6. Bệnh phong
            Các mảng thương tổn có giới hạn tương đối rõ, bờ hơi gờ cao, màu đỏ hồng, có thể sưng dây thần kinh ngoại vi đối xứng hoặc không, bao giờ cũng kèm theo các rối loạn cảm giác.
2.7. Các bệnh về móng
            Trong các tổn thương móng do nấm sợi (dermatophytes) và nấm men Candida, bệnh loạn dưỡng móng.
2.8. Chàm dạng tổ đỉa bội nhiễm
            Tổn thương mụn mủ lẫn mụn nước ở lòng bàn tay - chân, ngứa nhiều.
2.9. Đỏ da toàn thân
            Có liên quan đến các bệnh viêm da, nhiễm độc da hay U limphô da (u sùi dạng nấm, hội chứng Sézary). Hỏi tiền sử bệnh là cơ sở chẩn đoán nguyên nhân.
VII. ĐIỀU TRỊ
1. Nguyên tắc
            Vảy nến là một bệnh không chữa khỏi, cho nên cần thiết giải thích rõ cho bệnh nhân biết tình trạng của bệnh, để bệnh nhân hợp tác điều trị. Giải thích cho người nhà hiểu rõ đây là bệnh không lây ,cần tạo môi trường sống tốt cho bệnh nhân tránh các sang chấn (stress) về tình cảm có thể làm khởi phát và làm nặng bệnh, không sử dụng những thuốc không đúng để điều trị bệnh vì có thể gây nên tình trạng kích ứng  hay dị ứng da có thể gây nên tình trạng đỏ da toàn thân .
            Điều trị được phân thành 2 giai đoạn: Giai đoạn tấn công và giai đoạn duy trì.
2. Thuốc điều trị
2.1. Thuốc điều trị tại chỗ
2.1.1. Thuốc tiêu sừng
            Làm bong vảy da, rất cần trước khi sử dụng các thuốc tại chỗ khác.
            Mỡ Salicylé: 1 - 3% cho trẻ em và 5 - 15% cho người lớn.
2.1.2. Thuốc khử oxy
            - Hắc ín than đá (Coaltar): dung nạp tốt, ít kích thích da. Có thể kết hợp với tia cực tím B để tăng tác dụng điều trị.
            - Hắc ín thảo mộc (Caditar, Polytar): có thể sử dụng dưới dạng xà phòng, dung dịch hoặc thuốc gội đầu.
            - Anthralin hay Dioxyanthranol: là một trong những điều trị cơ bản của vảy nến. Hiện nay người ta điều trị với nồng độ cao 1 - 3% và thời gian bôi rút ngắn từ 10 phút đến 1 giờ. Sau đó rửa sạch vì thuốc rất kích thích. Có thể kết hợp với tia U.V.B. Chống chỉ định ở thể vảy nến mụn mủ.
2.1.3. Corticoide tại chỗ
            Rất có tác dụng đối với bệnh vảy nến nhưng hiệu quả lại giảm dần theo thời gian sử dụng. Thuốc Corticoide loại 3, 4( mạnh và rất mạnh ) thường dùng trong điều trị tấn công, thường bôi hàng ngày cho đến khi trắng da rồi giảm dần để tránh hiện tượng “dội”. Có thể kết hợp Corticoide với thuốc tiêu sừng để làm tăng hiệu quả điều trị.
2.1.4. Vitamin A acide (tazarotene)
            Thuốc được đưa vào sử dụng những năm gần đây và cho thấy có kết quả tốt.
2.1.5. Vitamine D3 và các dẫn xuất
            Calcipotriol (Daivonex) có tác dụng ức chế sự tăng sinh và sự biệt hoá của tế bào sừng. Thuốc được chỉ định ở vảy nến thể mảng hay các thể khác có thương tổn nhiều hơn 40% diện tích cơ thể. Bôi sáng và tối, liều lượng không vượt quá 100g/tuần vì sợ thuốc có thể hấp thu qua da gây tăng Calci máu.
2.1.6.Tia cực tím B: có thể sử dụng riêng lẻ để điều trị vảy nến hoặc kết hợp với các thuốc khác để tăng hiệu quả điều trị , khác với tia cực tím A chỉ có giá trị khi kết hợp với Psoralene
2.2. Điều trị toàn thân:
2.2.1. P.U.V.A (Psoralene Ultraviolet A) trị liệu:
            Phương pháp điều trị kết hợp Psoralène và chiếu tia cực tím A. Dưới tác dụng của tia cực tím A, Psoralene sẽ gắn với các base pyrimydine làm giảm hay làm ức chế sự phân chia của DNA và sự nhân lên của tế bào.Thường bôi hoặc uống 2 giờ trước khi chiếu tia cực tím.
            - 8 Methoxy psoralene (meladinine): liều 0,6mg/kg.
            - 5 Methoxy psoralene (psoraderme): liều 1,0mg/kg.
Uống thuốc 2 giờ trước khi chiếu tia cực tím
            - Giai đoạn tấn công: chiếu 3 lần/tuần x 2 tháng.
            - Giai đoạn duy trì: chiếu 1 lần/tuần, không kéo dài quá 8 tuần. Phương pháp này hạn chế sử dụng ở người trẻ vì sợ gây ung thư da, chống chỉ định ở phụ nữ có thai và người có bệnh về mắt. Cầìn bảo vệ mắt bằng kính đặc biệt khi chiếu tia.
2.2.2. Retinoid
            Cơ chế tác dụng chưa rõ, nhưng thuốc rất có tác dụng làm giảm viêm. Liều lượng: Etrétinate (Tigason)
- Giai đoạn tấn công : 1mg/kg x 1 tháng
            - Giai đoạn duy trì : 0,5mg/kg x 1 tháng - 2 tháng.
            Chỉ định:
            Vảy nến “viêm” : đỏ da toàn thân và thể mụn mủ, Vảy nến thông thường nhưng thất bại đối với các phương pháp điều trị khác Có thể phối hợp điều trị với P.U.V.A.
            Chống chỉ định :
            Phụ nữ ở giai đoạn hoạt động sinh dục, nếu cần thiết phải điều trị thì bắt buộc dùng các biện pháp ngừa thai có hiệu quả trong suốt thời gian điều trị và 1 năm sau khi ngừng thuốc vì thuốc có khả năng gây quái thai.
2.2.3. Methotrexate
            Là một trong những thuốc điều trị tốt nhất cho vảy nến thể nặng. Thuốc có tác dụng kháng viêm, chống gián phân và kháng acide folic. Liều lượng: 0, 2 - 0, 4mg/kg hoặc 15 - 25mg/ tuần, có 3 cách sử dụng thuốc:
       + Tiêm bắp 1 lần/tuần. Hay
            + Uống 1 lần/tuần. Hay
            + Uống liều trên nhưng chia thành 3 lần, cách nhau 12 giờ (1 lần/tuần).
            Chỉ định:
            Vảy nến đỏ toàn thân, Viêm khớp vảy nến,Vảy nến thể mụn mủ. Vảy nến có tổn thương > 50% diện tích cơ thể. Đặc biệt ở bệnh nhân lớn > 60 tuổi.
            Chống chỉ định:
            Trẻ em, phụ nữ không dùng biện pháp tránh thai, phụ nữ  đang cho con bú, HIV (+), Bệnh gan và thận, Bệnh loét dạ dày - tá tràng tiến triển.
            Trong thời gian điều trị phải thường xuyên theo dõi công thức máu, chức năng gan, nên cho thêm acide folic.
2.2.4. Ciclosporine A: Liều dùng: 3mg/kg/ngày x 2 tháng.
            Hay: 5mg/kg/ngày x 1 tháng.
            Chỉ định:
            Vảy nến lan rộng và nặng, Vảy nến kháng trị.
            Chống chỉ định:
            Phụ nữ có thai, suy gan và suy thận, nhiễm khuẩn mạn, ung thư, rối loạn miễn dịch và nghiện rượu mạn tính.
2.2.5. Corticoide
            Sử dụng corticoide đường toàn thân là chống chỉ định, ngoại trừ bệnh nhân mắc một bệnh khác đe dọa đến tính mạng cần điều trị thuốc này
VIII. DỰ PHÒNG
1. Tránh các chấn thương thể xác và tình cảm
2. Tránh các thuốc làm khởi phát hoặc làm tăng tổn thương vảy nến
3. Điều trị đúng phương pháp, bệnh nhân cần thực hiện đúng theo các y lệnh để tránh các nguy cơ gây biến chứng do dùng thuốc quá liều, chiếu tia UV quá mạnh...

Tác giả bài viết: BS ĐỖ THỊ HUẾ-Khoa Khám
Từ khóa:

nguyên nhân

Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Điện thoại nóng
Cùng chung tay để chấm dứt dịch AIDS
HƯỚNG DẪN BẮT ĐẦU VÀ CHỈNH LIỀU INSULIN Ở BỆNH NHÂN ĐTĐ TÍP 2
Những điều cần biết về chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau sanh EENC
Tiểu không tự chủ là bệnh gì?
Khoa Cấp cứu và Can thiệp tim mạch :Phát hiện và Điều trị bệnh lý cơ tim hiếm gặp
CỨU SỐNG BỆNH NHÂN BỊ BẮN VÀO ĐẦU
BỆNH WHITMORE
Chẩn Đoán Bệnh Parkinson năm 2019
THẾ NÀO LÀ RỐI LOẠN NHỊP CHẬM ???
CẬP NHẬT VỀ ĐIỀU TRỊ KAWASAKI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN TIẾP NHẬN GIƯỜNG BỆNH TÀI TRỢ
Biến chứng cấp tăng đường huyết ở bệnh nhân ĐTĐ
CHỮA BỆNH BẰNG PHƯƠNG PHÁP CỨU TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN
HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY
Gãy Jone một kiểu gãy hay gặp trên lâm sàng và quan điểm về điều trị
Bệnh Melioidosis (Whitmore)
Chảy máu mũi
ĐỘT QUỴ NÃO (STROKE) KHÔNG CHỈ LÀ CĂN BỆNH CỦA NGƯỜI CAO TUỔI
Thông báo mời thầu: Gói thầu thiết bi(bao gồm phần mềm, triển khai, đào tạo)
VIÊM GÂN ACHILLES

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 26
  • Khách viếng thăm: 24
  • Máy chủ tìm kiếm: 2
  • Hôm nay: 5533
  • Tháng hiện tại: 100931
  • Tổng lượt truy cập: 7763930
Cuộc thi trắc nghiệm Tìm hiểu 90 năm lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang