BƯỚU TUYẾN MANG TAI

Đăng lúc: Thứ năm - 13/04/2017 14:08 - Người đăng bài viết: admin
BƯỚU TUYẾN MANG TAI

BƯỚU TUYẾN MANG TAI

Tuyến mang tai là tuyến nước bọt lớn nhất, nó là một tuyến đôi có trọng lượng thay đổi từ 14 - 28g.
  1. Giải phẫu và sinh lý của tuyến mang tai
    1. Giải phẫu
Tuyến mang tai là tuyến nước bọt lớn nhất, nó là một tuyến đôi có trọng lượng thay đổi từ 14 - 28g.

Hình 1. Giải phẫu học tuyến mang tai
(Nguồn: Neter – MD Interactive atlas of clinical anatomy)
Tuyến mang tai được phân thành thùy nông và thuỳ sâu, phân cách với nhau bằng các eo tuyến, là nơi bao quanh các nhánh của dây thần kinh VII.  Thuỳ nông được bao phủ bởi mạc cổ nông và da, còn thuỳ sâu nằm cạnh động mạch cảnh ngoài và tựa lên thành ngoài của hầu.
Thần kinh VII đi vào tuyến ở mặt sâu của tuyến, xuyên qua phần sau ngoài đến mỏm trâm chũm, trong tuyến thần kinh VII chia thành nhiều nhánh nhỏ và thường ra khỏi tuyến với 5 nhánh, chạy theo các nhánh mạch máu chính đi qua tuyến.

Hình 2. Mối liên quan giữa tuyến mang tai và các nhánh thần kinh mặt
(Nguồn: Neter – MD Interactive atlas of clinical anatomy)
  1. Sinh lý tuyến nước bọt
Tuyến nước bọt bài tiết khoảng 800 – 1500 ml nước  bọt mỗi ngày, trung bình khoảng 1000ml.
Thành phần tuyến nước bọt gồm 2 loại chính là dịch thanh chứa ptyalin (alpha-amylase) và dịch nhầy chứa mucin. Tuyến mang tai tiết toàn bộ là thanh dịch, tuyến dưới hàm tiết dịch thanh lẫn dịch nhầy còn tuyến dưới lưỡi chỉ tiết dịch.
  1. Dịch tễ và nguyên nhân bướu tuyến mang tai
Cho đến nay người ta chưa biết chính xác nguyên nhân của bướu tuyến mang tai, có người cho rằng tia phóng xạ là nguyên nhân của bướu hỗn hợp sau khi tiếp xúc phóng xạ 15-20 năm.
Khoảng 75% - 85% bướu tuyến nước bọt ở người lớn là bướu tuyến mang tai, bướu hỗn hợp chiếm 60% các trường hợp, nữ bị nhiều hơn nam và thường thấy ở lứa tuổi từ 30 – 50 tuổi.
Nguyên nhân gây nên bướu Warthin cũng chưa được xác định rõ, tuy nhiên người ta nhận thấy bướu có liên quan chặt chẽ với tình trạng hút thuốc lá, nguy cơ mắc bệnh tăng gấp 8 lần ở nam và 17 lần ở nữ có hút thuốc lá. Đối với những người hút thuốc bị bướu tuyến mang tai thì những người bị bướu Warthin cũng sử dụng thuốc lá nhiều hơn, tỉ lệ hút thuốc ở nhóm bướu Warthin là 84% so với 46% ở các nhóm bướu tuyến mang tai khác. Nam giới có nguy cơ mắc bệnh gấp nhiều lần ở nữ giới, tỉ lệ thay đổi từ 1:10 đến 1:26, tuy nhiên những năm gần đây người ta thấy tỉ lệ mắc bệnh ở nữ giới cũng tăng lên. Điều này có thể lý giải do tỉ lệ nữ giới hút thuốc lá ngày càng tăng.
Bướu ác tính của các tuyến nước bọt chính nói chung chỉ chiếm khoảng 0,4% tất cả các ung thư và chỉ chiếm 3 – 4% các ung thư vùng đầu cổ.  Một số tác giả khác cho rằng các bướu ác tính tuyến nước bọt chiếm dưới 3% tất cả các bệnh ung thư và khoảng 7 % tất cả các ung thư vùng đầu cổ. Tần suất khoảng 1,5 – 4 ca mới trên 100000 dân mỗi năm với độ tuổi trung bình khoảng 50 – 55 tuổi.
  1. Chẩn đoán bướu tuyến mang tai:
    1. Lâm sàng:
Dù là bướu loại nào đi nữa thì phần lớn bệnh nhân đến khám vì một khối bướu vùng mang tai, khối bướu lớn chậm và ít khi gây đau.
Thời gian trung bình từ khi phát hiện đến khi đến với thầy thuốc trung bình 2 – 5 năm.
Đối với bướu lành tuyến mang tai thì thường biểu hiện lâm sàng bằng khối bướu vùng mang tai có kích thước từ 2-4cm, mật độ có thể là căng chắc hoặc là mềm tùy theo bản chất của từng loại bướu thường không kèm theo liệt thần kinh mặt.
Do vị trí của tuyến mang tai, nhất là phần cực dưới rất dễ nhầm lẫn với hạch của vùng cổ hay các bướu của vùng cổ bên như là bướu bạch mạch, bướu mạch máu… Trường hợp bướu ở thùy sâu thì khó phát hiện hơn ở thùy nông, bướu thường có kích thước lớn hơn khi được phát hiện trên lâm sàng, bướu ở thùy sâu nếu kích thước lớn có thể chèn ép vào khoang cạnh hầu, do đó khi khám trong miệng sẽ thấy vùng hầu tương ứng bị hẹp lại.
Biểu hiện lâm sàng của ung thư tuyến mang tai thường là một khối không đau, lớn chậm . Chỉ biểu hiện đau khi nào có xâm lấn thần kinh  mặt hoặc xâm lấn các cấu trúc sâu. Bướu  xâm lấn các nhánh thần kinh mặt chỉ chiếm 2 – 14 % , tỉ lệ này có thể lên đến 1/3 số trường hợp nhưng chỉ có 10% có liệt mặt hay đau .
Đau còn có thể là do bướu lớn xâm lấn da, xuất huyết hoặc khi bướu ở thùy sâu gây xâm lấn nội sọ. Bướu ở thùy sâu còn có thể xuất hiện như một khối bướu ở dưới niêm mạc của khẩu cái mềm hoặc ở thành ngoài hầu khi phần sau hầu của thuỳ sâu đi vào khoang cạnh hầu. Bướu ở thuỳ sâu có thể gây khó thở, đau họng, đau tai, giảm thính lực, khít hàm, nhức đầu, hoặc liệt các dây thần kinh sọ khác ngoài dây thần kinh VII.
Triệu chứng vùng cổ: khi có di căn hạch cổ sẽ có hạch vùng mang tai, hạch cổ nhóm cao.                       
  1. Chẩn đoán hình ảnh:
Siêu âm:
Vai trò của siêu âm là:
- Giúp phân biệt các sang thương tại vùng mang tai là trong hay ngoài tuyến mang tai.
- Gợi ý bản chất bướu giúp người siêu âm  nghĩ đến đó là bướu lành hay bướu ác.
Việc xác định bướu tuyến mang tai bằng siêu âm được chứng minh là rất chính xác với độ nhạy là 100%, nhạy hơn việc khám bằng tay bởi vì siêu âm có thể xác định những sang thương trong tuyến mang tai mà tay chúng ta không sờ thấy.
Siêu âm chỉ cho chúng ta gợi ý chẩn đoán chứ không thể chẩn đoán chính xác được là bướu  lành hay bướu ác.
Chụp điện toán cắt lớp (CT scan) :
Đối với các trường hợp sang thương tại thùy nông, chụp cắt lớp điện toán không có lợi thế hơn so với siêu âm. Tuy nhiên, khi bướu nằm ở thùy sâu hoặc xâm lấn vào các mô lân cận như xương, khoang cạnh hầu thì chụp cắt lớp điện toán giúp đánh giá độ lan rộng chính xác hơn.
Hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) :
Nhìn chung, chụp cộng hưởng từ không có giá trị chẩn đoán vượt trội so với siêu âm hoặc chụp cắt lớp điện toán.
1.3.3. Tế bào học:
Đối với bướu tuyến mang tai do tính đa dạng về mặt tế bào nên chọc hút tế bào bằng kim nhỏ (FNA) có độ nhạy rất thay đổi từ 54%-95% và độ đặc hiệu từ 86%-95%. Do đó tất cả các trường hợp khi lâm sàng nghi ngờ bướu ác tính cần được chọc hút tế bào lại hoặc cắt lạnh ngay trong mổ nếu kết quả chọc hút lần đầu không phù hợp
1.3.4. Cắt lạnh:
Do phần lớn các trường hợp không thể xác định chính xác bản chất bướu trước khi phẫu thuật nên cắt lạnh trong lúc mổ là phương pháp được nhiều tác giả nghiên cứu, tuy nhiên kết quả có sự khác biệt lớn giữa các tác giả. Nguyên nhân độ nhạy thấp là khi bác sĩ giải phẩu bệnh cảm thấy không chắc về chẩn đoán của mình người ta thường đưa ra một kết luận không xác định hoặc lành tính, do lo ngại những biến chứng khi phẫu thuật rộng rãi đối với bệnh lý ác tính.
Do đó không thể dựa đơn thuần một kết quả cắt lạnh để giải quyết triệt để vấn đề mà cần phải phối hợp với các yếu tố khác như lâm sàng, kết quả FNA, đánh giá trong lúc mổ. Để tăng độ nhạy thì cần phải có sự phối hợp giữa phẫu thuật viên và bác sĩ giải phẩu bệnh lý.
Vì vậy, đối với bướu tuyến mang tai, việc khám lâm sàng và hỏi bệnh sử cẩn thận có thể giúp bác sĩ quyết định hướng xử trí phù hợp đến 90% các trường hợp mà không cần phụ thuộc vào các phương tiện cận lâm sàng.
  1. Giải phẩu bệnh lý của bướu tuyến mang tai:
1.4.1. Bướu lành
  • Bướu hỗn hợp
  • Bướu Warthin
  • Bướu tế bào ưa acid (bướu phồng bào)
  • Bướu tuyến tế bào đáy
  • Bướu tuyến bọc dạng nhú
  • Bướu cơ biểu mô
  • Bướu tuyến lymphô của tuyến bã
1.4.2. Bướu ác
  • Carcinôm nhầy bì
  • Carcinôm tế bào túi tuyến
  • Carcinôm bọc dạng tuyến
  • Carcinôm trong bướu tuyến đa dạng
  • Các carcinôm khác gồm:
Carcinôm tuyến.
Carcinôm dạng thượng bì.
Carcinôm không biệt hóa.
Các carcinôm ngoài tuyến nước bọt có thể di căn đến tuyến mang tai, đặc biệt là carcinôm tế bào gai của da và mêlanôm ác ở mặt.
  1. Điều trị:
1.5.1.  Các loại phẫu thuật bướu tuyến mang tai
1.5.1.1 Lấy bướu
1.5.1.2 Cắt thùy nông tuyến mang tai (Superficial parotidectomy)
1.5.1.3 Phẫu thuật cắt tuyến mang tai toàn phần có bảo tồn thần kinh mặt (Phẫu thuật Redon)
Chỉ định:
- Bướu hỗn hợp tuyến mang tai.
- Bướu nằm ở thùy sâu
- Viêm tuyến mang tai mãn tính hoặc tái phát.
- Trường hợp bệnh lý di căn đến tuyến mang tai.
- Bướu ác tính chưa xâm lấn thần kinh mặt
1.5.2. Xạ trị:
Xạ trị được dùng cho các ung thư còn sót lại, tái phát hoặc quá khả năng phẫu thuật. Tất cả ung thư có độ ác tính cao kể cả bướu trụ thì phải được xạ trị sau phẫu thuật.
Chỉ định xạ trị sau phẫu thuật vào nền bướu : 
Các trường hợp sau đây cần được xạ trị bổ túc sau phẫu thuật:
  • Đại thể không cắt hết bướu.
  • Bờ diện cắt dương tính hay sát bướu.
  • Bướu có độ ác tính cao.
  • Bướu dính vào thần kinh mặt.
  • Xâm lấn mô và cấu trúc lân cận.
  • Bướu ở thuỳ sâu.
  • Bướu tái phát.
  • Di căn hạch.
1.5.3. Hoá trị:
Ngày nay hoá trị không có vai trò trong điều trị hỗ trợ ung thư  tuyến mang tai. Trong trường hợp ung thư tuyến mang tai tái phát hoặc ở giai đoạn tiến triển cisplatin có vai trò nhưng không nhiều. Nhiều tác giả cho rằng hoá trị có thể làm tăng tỷ lệ đáp ứng của các bướu trong giai đoạn không có khả năng phẫu thuật được so với xạ trị đơn thuần khoảng 22-100%, tuy nhiên không có ảnh hưởng trên thời gian sống còn.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
  1. Trần Thanh Cường, Nguyễn Hồng Ri, Trần Văn Thiệp (1999). Bướu lành tuyến mang tai: Dịch tễ học- Chẩn đoán và điều trị. Tạp chí Y học thành phố HCM-phụ bản chuyên đề ung bướu học, 2(3), tr 63-66.
  2. Võ Đăng Hùng, Trần Tố Quyên (2008). Biến chứng phẫu thuật tuyến mang tai. Tạp chí Y Học thành phố HCM, 12(3), tr 313-318.
  3. Vũ Trung Lương (2001). U lành tính tuyến nước bọt mang tai và tình hình điều trị tại Viện tai Mũi Họng trung ương từ tháng 1/1999 đến tháng 6/2011. Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nôi trú bệnh viện.
  4. Alajmo E., et al. (1989). Total parotidectomy--a routine treatment for parotid gland swellings. J Laryngol Otol.103(2): 181-186.
  5. Bova R., et al. (2004). Parotidectomy: review of treatment and outcomes. ANZ J Surg.74(7): 563-568.
  6. Cross J.P (1983). Benign parotid tumors. Arch Otolaryngol. 109(3): 199.
Tác giả bài viết: BS. Nguyễn Đăng Giáp – Trưởng khoa Ung bướu
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Tin mới

Điện thoại nóng
Sử dụng nước súc miệng thường xuyên có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh tiểu đường
CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ LÍ NHỮNG BỆNH GAN THƯỜNG GẶP Ở THAI PHỤ BA THÁNG CUỐI.
PHÁT HIỆN VÀ ĐIỀU TRỊ NHỒI MÁU CƠ TIM SAU MỔ
MÒN CỔ RĂNG – NGUYÊN NHÂN, CÁCH ĐIỀU TRỊ VÀ PHÒNG NGỪA.
Mối quan hệ giữa bệnh loãng xương và gãy xẹp cột sống
Kháng sinh Vancomycin và hội chứng người đỏ
KHÁM THAI
Hướng dẫn chăm sóc bàn chân ở người bệnh đái tháo đường
TÓM TẮT CẬP NHẬT ĐIỀU TRỊ SUY TIM MẠN
CỨU SỐNG BỆNH NHÂN SUY HÔ HẤP NGUY KỊCH
BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP NHIỄM TRÙNG HẬU SẢN NẶNG DO SANH THƯỜNG TẠI NHÀ
TỔ CHỨC LỚP TẬP HUẤN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG – AN TOÀN NGƯỜI BỆNH VÀ TRIỂN KHAI NGÀY HỘI 5S TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH ĐẮK LẮK
KHÁM TIỀN MÊ - CHUẨN BỊ BỆNH NHÂN TRƯỚC MỔ
Những lưu ý đặc biệt khi sử dùng thuốc đái tháo đường
CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁM SÁT NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN
Ba điều cần làm để phòng ngừa thoái hóa khớp gối
Phát hiện sớm Dị dạng hậu môn trực tràng
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP VIÊM MÀNG NÃO MỦ DO LIÊN CẦU LỢN (STREPTOCOCCUS SUIS)
Kết quả kiểm tra chất lượng bệnh viện 6 tháng đầu năm 2017
BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP NHIỄM TRÙNG HẬU SẢN NẶNG DO SANH THƯỜNG TẠI NHÀ

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 27
  • Hôm nay: 3229
  • Tháng hiện tại: 54120
  • Tổng lượt truy cập: 3232507
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang