bvvtn

CÁC BIỂU HIỆN VÀ CHỈ ĐỊNH CỦA CT NGỰC TRONG COVID-19

Đăng lúc: Thứ năm - 16/04/2020 15:50 - Người đăng bài viết: admin
CÁC BIỂU HIỆN VÀ CHỈ ĐỊNH CỦA CT NGỰC TRONG COVID-19

CÁC BIỂU HIỆN VÀ CHỈ ĐỊNH CỦA CT NGỰC TRONG COVID-19

CÁC BIỂU HIỆN VÀ CHỈ ĐỊNH CỦA CT NGỰC TRONG COVID-19
Hiện tại, trong thực hành lâm sàng, xét nghiệm RT-PCR được xem là phương pháp chuẩn để khẳng định một bệnh nhân có nhiễm SARS-CoV-2 hay không. Tuy nhiên, thời gian chờ đợi kết quả RT-PCR thường kéo dài và việc cung cấp đủ bộ kit xét nghiệm đảm bảo chất lượng có thể là vấn đề, ngay cả đối với những quốc gia phát triển như Hoa Kỳ. Quan trọng hơn, RT-PCR tuy có độ đặc hiệu cao nhưng độ nhạy chỉ dao động từ 60%-70% [1], [2]. Đây là những hạn chế đáng kể trong tình hình dịch bùng phát trong cộng đồng, khi cần phải làm xét nghiệm cho nhiều người và cần có kết luận sớm về khả năng mắc bệnh của bệnh nhân để quyết định các hình thức cách ly hoặc kiểm dịch.
Các báo cáo cho thấy, một số bệnh nhân dù mắc COVID-19 nhưng RT-PCR ban đầu có thể cho kết quả âm tính trong khi những dấu hiệu nghi ngờ đã xuất hiện trên CT ngực [2], [3]. Nghiên cứu hình ảnh CT ngực trước và sau điều trị COVID-19, Duan YN và Qin J [4] đã phát hiện dù RT-PCR đã cho kết quả âm tính vào ngày thứ 7 của bệnh nhưng các tổn thương phổi vẫn tồn tại trên CT ngực đến 5 ngày sau đó mới biến mất. Nghiên cứu sự thay đổi của CT ngực ở các thời điểm khác nhau trong quá trình nhiễm SARS-CoV-2, Pan F và cs. [5] đã phát hiện các bất thường trên CT ngực vẫn có thể quan sát được trong vòng 10 ngày đầu và chỉ biến mất sau 14 ngày kể từ khi khởi phát triệu chứng.
Mặt khác, các nghiên cứu cũng đề xuất có thể sử dụng CT ngực để theo dõi diễn biến tổn thương phổi của bệnh nhân COVID-19 trong quá trình điều trị. Những kết quả trên cho thấy tiềm năng của CT ngực trong gợi ý chẩn đoán, theo dõi và đánh giá hiệu quả điều trị COVID-19.
1. Các biểu hiện của COVID-19 trên CT ngực
Nhận biết sớm và cách ly bệnh nhân COVID-19 là vấn đề mấu chốt trong việc kiểm soát các ổ dịch, đặc biệt ở những người chưa có kết quả RT-PCR, RT-PCR âm tính giả hoặc không có triệu chứng. Các biểu hiện của COVID-19 trên CT ngực tuy không đặc hiệu nhưng có thể giúp gợi ý đến bệnh. Ye Z và cs. [6] đã tổng hợp các biểu hiện CT ngực của bệnh nhân COVID-19, gồm:
Hình kính mờ (Ground glass opacity: GGO)
GGO là các đám mờ do tăng mật độ nhu mô phổi nhưng chưa đến mức che khuất hình ảnh phế quản và mạch máu ở ngoại vi phổi. GGO xuất hiện do mô kẽ bị dày lên hoặc một phần phế nang bị lấp đầy bởi chất lỏng, tế bào hoặc bị xơ hóa, do xẹp một phần phế nang, do tăng thể tích mao mạch hoặc kết hợp các yếu tố kể trên [7].
Đối với COVID-19, GGO thường xuất hiện ở ngoại vi hoặc ngay dưới màng phổi tạng của 1 hoặc cả 2 phổi. GGO được quan sát thấy ở 57-98% bệnh nhân và là dấu hiệu sớm nhất trên CT ngực của COVID-19 [8], [9]. Nghiên cứu mô bệnh học bệnh nhân tử vong do COVID-19 cho thấy có tình trạng phù và hình thành màng hyaline ở cả 2 phổi [10] giúp suy đoán đó có thể là nguồn gốc của dấu hiệu GGO. GGO cũng thường đi kèm với các tổn thương khác như tổn thương dạng lưới (Reticular pattern), dày vách gian tiểu thùy hoặc đông đặc phổi [11]. Nếu GGO đi kèm với những đốm đông đặc nhỏ có thể nghĩ đến một thương tổn viêm phổi tổ chức hóa (organizing pneumonia).

Hình đông đặc (Consolidation)
Đông đặc là tình trạng phế nang bị lấp đầy hoàn toàn bởi chất lỏng, tế bào hoặc mô bệnh lý, biểu hiện bằng mật độ nhu mô phổi tăng đến mức che khuất hoàn toàn các mạch và thành phế quản bên dưới [7].
Ở bệnh nhân COVID-19, hình ảnh đốm đông đặc, đa ổ hoặc cả một phân thùy phổi thường xuất hiện sát màng phổi tạng hoặc dọc theo các bó mạch-phế quản với tỷ lệ 63% [9], [12]. Đông đặc phổi có liên quan đến các xuất tiết niêm dịch sợi tế bào (cellular fibromyxoid exudate) vào trong phế nang [10] và được coi là một dấu hiệu tiến triển của bệnh. Một nghiên cứu gần đây cho thấy mức độ đông đặc của phổi tăng dần và kéo dài đến 2 tuần sau khi khởi phát bệnh [5], tương tự với một kết luận khác rằng GGO có thể tiến triển hoặc cùng tồn tại với đông đặc trong vòng 1-3 tuần [13]. Nghiên cứu của Song và cs. [11] đã phát hiện bệnh nhân có nhiều tổn thương đông đặc hơn nếu khoảng thời gian từ lúc khởi phát triệu chứng hoặc đến khi chụp CT scan dài hơn hoặc trên 50 tuổi, cho thấy biểu hiện này có thể đóng vai trò cảnh báo trong quá trình điều trị.
 

Tổn thương dạng lưới (Reticular pattern)

Tổn thương dạng lưới được định nghĩa là các cấu trúc kẽ của phổi, như vách gian tiểu thùy và ranh giới bên trong tiểu thùy, bị dày lên [7]. Hình thái này biểu hiện bằng vô số hình mờ nhỏ, thẳng trên CT. Sự hình thành của tổn thương dạng lưới liên quan đến thâm nhiễm tế bào lympho ở mô kẽ làm vách gian tiểu thùy dày lên [10]. Các nghiên cứu cho rằng tổn thương dạng lưới kèm sự dày lên của các vách gian tiểu thùy là biểu hiện phổ biến của COVID-19 trên CT ngực, chỉ đứng thứ hai sau GGO và đông đặc [11], [12], [13]. Bệnh càng kéo dài, tỷ lệ xuất hiện tổn thương dạng lưới càng cao [13].
Hình đá lát vỉa hè (Crazy paving pattern)
Hình đá lát vỉa hè hiển thị sự dày lên của các vách gian tiểu thùy và ranh giới bên trong tiểu thùy trên nền GGO, giống như các viên đá lát xếp lộn xộn. Hình đá lát vỉa hè ít gặp hơn GGO và đông đặc [5], [7]. Dựa trên hiểu biết bệnh lý trước đây về SARS, dấu hiệu này có thể xuất phát từ phù phế nang và viêm mô kẽ do tổn thương phổi cấp tính [12]. Các nghiên cứu gần đây đã báo cáo tỷ lệ xuất hiện hình lát đá vỉa hè ở COVID-19 là 36% [9]. Nếu xuất hiện cùng với GGO lan tỏa và đông đặc, hình đá lát vỉa hè có thể là tín hiệu của COVID-19 bước vào giai đoạn tiến triển hoặc đỉnh điểm [5].

Khí trong phế quản (Air bronchogram)
Khí trong phế quản, được báo cáo là một biểu hiện CT khác của COVID-19 [11], [14], là hình phế quản chứa đầy không khí trên nền nhu mô phổi không chứa khí [7]. Tuy nhiên, khám nghiệm tử thi bệnh nhân COVID-19 người ta đã phát hiện có chất nhầy dính ở mặt trong phế quản phổi. Do đó, có thể suy đoán phế quản trong hình ảnh CT có thể được lấp đầy bằng chất nhầy gelatin thay vì không khí. Hơn nữa, dấu hiệu này thường đi kèm với sự giãn nở nhẹ của phế quản, do đó có thể xem hình phế quản khí là do là giãn phế quản. Bệnh nhân COVID-19 thường chỉ ho khan. Điều này có thể được giải thích bởi độ nhớt cao của chất nhầy và phế quản bị giãn, dẫn đến đờm không thể lưu thông ra ngoài.

Các thay đổi ở đường thở (Airway changes)
 

Thay đổi đường thở bao gồm giãn phế quản và dày thành phế quản. Giãn phế quản được báo cáo trong một số trường hợp COVID-19 [3], [15], trong khi dày thành phế quản gặp ở 10-20% bệnh nhân COVID-19 [9], [12]. Sinh bệnh học có thể là tổn thương viêm của thành phế quản và tắc nghẽn phế quản, dẫn đến phá hủy cấu trúc thành phế quản, tăng sinh mô xơ, xơ hóa và giãn phế quản [7]. Li và cs. nghiên cứu 83 bệnh nhân COVID-19 thấy tỷ lệ dày thành phế quản ở bệnh nhân nặng/nguy kịch cao hơn đáng kể so với bệnh nhân bình thường [9].
Các thay đổi ở màng phổi (Pleural changes)
Những thay đổi ở màng phổi trong COVID-19 bao gồm dày hoặc tràn dịch màng phổi. Các báo cho thấy 32% bệnh nhân COVID-19 có dày màng phổi và 5% có tràn dịch màng phổi [13], [16]. Dựa trên kinh nghiệm từ vụ dịch MERS-CoV và các phát hiện gần đây, sự hiện diện của tràn dịch màng phổi có thể gợi ý tiên lượng xấu ở COVID-19 [9], [13]. Hơn nữa, báo cáo khám nghiệm tử thi cũng phát hiện tình trạng dày dính màng phổi rộng ở bệnh nhân COVID-19, cho thấy sự thống nhất giữa hình ảnh CT và kết quả khám nghiệm tử thi.

Đường cong dưới màng phổi (Subpleural curvilinear line)
Biểu hiện này được định nghĩa là một đường cong mờ, mỏng khoảng 1-3 mm, nằm song song và cách 1 cm dưới màng phổi tạng [7]. Khoảng 20% bệnh nhân COVID-19 có dấu hiệu này [9], [12], có thể liên quan đến phù phổi hoặc xơ hóa.

Xơ hóa phổi (Fibrosis)
 

Biểu hiện xơ hóa hoặc những dải xơ cũng được quan sát thấy trên CT của COVID-19. Pan và cs. [17] báo cáo 17% bệnh nhân COVID-19 có những dải xơ trên CT ngực. Các tổn thương xơ có thể hình thành trong quá trình hồi phục từ tình trạng viêm mạn tính của phổi hoặc các bệnh tăng sinh, với sự thay thế dần dần thành phần tế bào bằng mô sẹo. Hiện tại, mối quan hệ giữa xơ hóa và tiên lượng bệnh nhân vẫn đang còn tranh cãi. Một số nhà nghiên cứu cho rằng sự hiện diện của xơ hóa cho thấy tiên lượng tốt của bệnh nhân COVID-19 với tình trạng bệnh ổn định [17]. Tuy nhiên, những người khác lập luận rằng xơ hóa cho thấy kết quả kém của COVID-19 vì sau đó nó có thể tiến triển đến giai đoạn đỉnh điểm của bệnh hoặc dẫn đến xơ hóa mô kẽ phổi [5], [18].
Giãn mạch máu phổi (Vascular enlargement)
Dấu hiệu này biểu hiện sự giãn nở của các mạch phổi xung quanh và bên trong các tổn thương quan sát thấy trên hình ảnh CT. Một nghiên cứu báo cáo dấu hiệu CT đặc biệt này ở một bệnh nhân COVID-19 âm tính với RT-PCR được nhập viện 6 ngày sau khi khởi phát triệu chứng [3]. Người ta cũng tìm thấy biểu hiện này trong nhiều trường hợp [6]. Biểu hiện này được quy cho các tổn thương và phồng lên của thành mao mạch do các yếu tố gây viêm.

Dấu hiệu bong bóng khí (Air bubble sign)
Dấu hiệu bong bóng khí là hiểu hiện của một khoang nhỏ chứa khí trong phổi, có thể là sự giãn nở bệnh lý của một cấu trúc sinh lý hoặc là mặt cắt ngang của giãn phế quản, hoặc liên quan đến quá trình tiêu giải các tổn thương đông đặc. Shi và cs. gọi dấu hiệu này là thay đổi nang tròn [13], trong khi Kong và cs. gọi đây là dấu hiệu khoang [18]. Tuy nhiên, các cách gọi này không phù hợp với định nghĩa về nang và khoang [7]. 

Tổn thương dạng nốt (Nodule)
 

Là các nốt mờ tròn hoặc không đều, ranh giới có thể rõ hoặc không, đường kính dưới 3 cm [7]. Các viêm phổi do virus thường có dấu hiệu này. Khoảng 13% bệnh nhân COVID-19 có các nốt đặc không đều đa ổ trên CT ngực [2], [17] hoặc các nốt có hào quang [19].
Dấu hào quang (Halo sign)
Dấu hiệu Halo được định nghĩa là các nốt hoặc khối được bao quanh bởi một quầng GGO [7]. Hiện chỉ có Li và cs. [19] báo cáo một trường hợp có dấu hiệu hào quang ở một bệnh nhân nữ 27 tuổi mắc COVID-19. Trước đây, dấu hiệu hào quang được cho là có liên quan đến xuất huyết quanh tổn thương trong những trường hợp nhiễm nấm xâm lấn qua đường mạch máu (angioinvasive fungal infection) hoặc các di căn có tăng sinh mạch, cũng như nhiễm virus và viêm phổi tổ chức hóa. Tuy nhiên, cho đến hiện tại, quá trình bệnh lý của biểu hiện này vẫn chưa được biết.

Dấu hào quang ngược hay dấu san hô vòng (Reversed halo sign or atoll sign)
Dấu hào quang ngược, còn gọi là dấu san hô vòng, là một GGO tròn được bao quanh bởi một vòng đông đặc hoàn chỉnh hoặc không [7]. Ban đầu dấu hào quang ngược được xem là đặc hiệu cho viêm phổi tổ chức hóa không rõ nguyên nhân (cryptogenic organizing pneumonia) nhưng sau đó cũng thấy ở những bệnh khác. Gần đây, dấu hiệu này đã được báo cáo trong một số trường hợp COVID-19 và được cho là do tiến triển của bệnh nên dấu đông đặc phát triển xung quanh GGO hoặc do tiêu giải tổn thương nên cường độ đông đặc giảm ở trung tâm [14], [16], [20].

Hạch bạch huyết (Lymphadenopathy)


Các hạch bạch huyết bình thường ở trung thất và rốn phổi có kích thước rất khác nhau, từ dưới ngưỡng phát hiện của CT đến 12 mm. Đường kính trục ngắn của hạch trung thất tối đa là 1 cm và 3 mm đối với các hạch rốn phổi [7] nhưng không có tiêu chuẩn phân biệt giữa hạch bình thường và hạch bệnh lý. Hạch bạch huyết được báo cáo ở có 4-8% bệnh nhân COVID-19 [12], [13]. Hơn nữa, hạch bạch huyết được coi là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng của viêm phổi nặng/nguy cấp do COVID-19 [9]. Trên CT, nếu có tràn dịch màng phổi và quan sát thấy hạch phổi có thể gợi ý bội nhiễm vi khuẩn.
Tràn dịch màng ngoài tim (Pericardial effusion)
Ở bệnh nhân COVID-19, rất hiếm thấy có tràn dịch màng ngoài tim trên CT, tỷ lệ chỉ xấp xỉ 5% và là chỉ dấu của tình trạng viêm nặng/nguy kịch [9], [12].
2. Chỉ định CT ngực trong COVID-19
Mới đây, một tuyên bố đồng thuận đa quốc gia [21], được Hiệp hội X quang Bắc Mỹ và Hội Lồng ngực Hoa Kỳ chứng thực, về vai trò của CT ngực trong xử lý bệnh nhân COVID-19 đã được công bố.
Tuyên bố này thể hiện ý kiến tập thể và quan điểm của các chuyên gia thuộc các chuyên ngành khác nhau: X quang lồng ngực, bệnh phổi, hồi sức tích cực, cấp cứu, xét nghiệm và kiểm soát nhiễm khuẩn từ 10 quốc gia bùng phát dịch COVID-19 nặng nề nhất trên toàn thế giới. Theo đó, CT ngực được khuyến cáo chỉ định như sau:
- CT ngực không nên chỉ định cho những bệnh nhân nghi ngờ mắc COVID-19 chỉ có các biểu hiện lâm sàng nhẹ, trừ khi họ có nguy cơ tiến triển bệnh nặng hơn.
- Đối với bệnh nhân mắc COVID-19, CT ngực được chỉ định khi tình trạng hô hấp xấu đi.
- Ở các cơ sở y tế hạn chế về nguồn lực, CT ngực được chỉ định để sàng lọc những bệnh nhân nghi ngờ mắc COVID-19 nhưng có các biểu hiện lâm sàng vừa hoặc nặng và xác suất mắc bệnh cao.
3. Các chẩn đoán phân biệt của COVID-19
Nếu chỉ sử dụng hình ảnh học, rất khó phân biệt COVID-19 với viêm phổi do virus cúm A, cúm B, cytomegalovirus, adenovirus, virus hợp bào hô hấp, SARS-CoV, MERS-CoV và các viêm phổi do virus khác [22].
Cũng như các viêm phổi do virus khác, COVID-19 cần được phân biệt với viêm phổi do vi khuẩn, viêm phổi do mycoplasma và viêm phổi do chlamydia [23].
Ngoài ra, COVID-19 cũng cần được phân biệt với bệnh phổi do các nguyên nhân khác [24].
Dựa vào triệu chứng khởi phát, dịch tễ, xét nghiệm và CT ngực, Dai WC và cs. [25] đã phân biệt COVID-19 với viêm phổi do các nguyên nhân khác như sau:

Kết luận
Đặc điểm hình ảnh CT ngực của COVID-19 chủ yếu là GGO và đông đặc, phân bố ở phần sau và phần ngoại vi phổi. Các dấu hiệu CT bất thường có thể xuất hiện ngay cả ở những bệnh nhân không có triệu chứng, vì thế CT ngực có thể gợi ý đến COVID-19 ngay cả khi RT-PCR âm tính. Các tổn thương phổi của COVID-19 có thể nhanh chóng phát triển thành GGO lan tỏa hoặc đông đặc trong vòng 1-3 tuần sau khi xuất hiện triệu chứng, đạt đỉnh vào khoảng 2 tuần sau khi khởi phát. Do đó CT có thể được sự dụng như là một phương tiện theo dõi, đánh giá và tiên lượng trong quá trình điều trị bệnh nhân COVID-19. Khi sử dụng CT cho bệnh nhân nghi ngờ hoặc đã xác định mắc COVID-19, phải tuân thủ và tiến hành đúng, đủ các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm.
Tài liệu tham khảo
  1. Fang Y, Zhang H, Xie J, et al. Sensitivity of chest CT for COVID-19: Comparison to RT-PCR. Radiology. 2020 Feb 19:200432.
  2. Ai T, Yang Z, Hou H, et al. Correlation of Chest CT and RT-PCR Testing in Coronavirus Disease 2019 (COVID-19) in China: A Report of 1014 Cases. Radiology. 2020 Feb 26:200642.
  3. Xie X, Zhong Z, Zhao W, et al. Chest CT for Typical 2019-nCoV Pneumonia: Relationship to Negative RT-PCR Testing. Radiology. 2020 Feb 12:200343.
  4. Duan YN, Qin J. Pre- and Posttreatment Chest CT Findings: 2019 Novel Coronavirus (2019-nCoV) Pneumonia. Radiology. 2020 Apr;295(1):21.
  5. Pan F, Ye T, Sun P, et al. Time Course of Lung Changes On Chest CT During Recovery From 2019 Novel Coronavirus (COVID-19) Pneumonia. Radiology. 2020 Feb 13:200370.
  6. Ye Z, Zhang Y, Wang Y, et al. Chest CT manifestations of new coronavirus disease 2019 (COVID-19): a pictorial review. Eur Radiol. 2020 Mar 19.
  7. Hansell DM, Bankier AA, MacMahon H, et al. Fleischner Society: glossary of terms for thoracic imaging. Radiology. 2008 Mar;246(3):697-722.
  8. Chung M, Bernheim A, Mei X, et al. CT Imaging Features of 2019 Novel Coronavirus (2019-nCoV). Radiology. 2020 Apr;295(1):202-207.
  9. Li K, Wu J, Wu F, et al. The Clinical and Chest CT Features Associated with Severe and Critical COVID-19 Pneumonia. Invest Radiol. 2020 Feb 29.
  10. Xu Z, Shi L, Wang Y, et al. Pathological findings of COVID-19 associated with acute respiratory distress syndrome. Lancet Respir Med. 2020 Apr;8(4):420-422.
  11. Song F, Shi N, Shan F, et al. Emerging 2019 Novel Coronavirus (2019-nCoV) Pneumonia. Radiology. 2020 Apr;295(1):210-217.
  12. Wu J, Wu X, Zeng W, et al. Chest CT Findings in Patients With Coronavirus Disease 2019 and Its Relationship With Clinical Features. Invest Radiol. 2020 May;55(5):257-261.
  13. Shi H, Han X, Jiang N, et al. Radiological findings from 81 patients with COVID-19 pneumonia in Wuhan, China: a descriptive study. Lancet Infect Dis. 2020 Apr;20(4):425-434.
  14. Yoon SH, Lee KH, Kim JY, et al. Chest Radiographic and CT Findings of the 2019 Novel Coronavirus Disease (COVID-19): Analysis of Nine Patients Treated in Korea. Korean J Radiol. 2020 Apr;21(4):494-500.
  15. Fang Y, Zhang H, Xu Y, et al. CT Manifestations of Two Cases of 2019 Novel Coronavirus (2019-nCoV) Pneumonia. Radiology. 2020 Apr;295(1):208-209.
  16. Bernheim A, Mei X, Huang M, et al. Chest CT Findings in Coronavirus Disease-19 (COVID-19): Relationship to Duration of Infection. Radiology. 2020 Feb 20:200463.
  17. Pan Y, Guan H, Zhou S, et al. Initial CT findings and temporal changes in patients with the novel coronavirus pneumonia (2019-nCoV): a study of 63 patients in Wuhan, China. Eur Radiol. 2020 Feb 13.
  18. Kong W, Agarwal PP. Chest imaging appearance of COVID-19 infection. Radiology: Cardiothoracic Imaging. 2020 Feb 13.
  19. Li X, Zeng X, Liu B, Yu Y. COVID-19 infection presenting with CT halo sign. Radiology: Cardiothoracic Imaging. 2020 Feb 12.
  20. Huang P, Liu T, Huang L et al. Use of Chest CT in Combination with Negative RT-PCR Assay for the 2019 Novel Coronavirus but High Clinical Suspicion. Radiology. 2020 Apr;295(1):22-23.
  21. Rubin GD, Ryerson CJ, Haramati LB, et al. The Role of Chest Imaging in Patient Management during the COVID-19 Pandemic: A Multinational Consensus Statement from the Fleischner Society. Chest. 2020 Apr 7. pii: S0012-3692(20)30673-5.
  22. Corman VM, Landt O, Kaiser M, et al. Detection of 2019 novel coronavirus (2019-nCoV) by real-time RT-PCR. Euro Surveill. 2020;25(3).
  23. Ishiguro T, Kobayashi Y, Uozumi R, et al. Viral pneumonia requiring differentiation from acute and progressive diffuse interstitial lung diseases. Intern Med. 2019;58(24):3509-3519.
  24. Yoo JH. The fight against the 2019-nCoV outbreak: an arduous march has just begun. J Korean Med Sci. 2020;35(4):e56.
  25. Dai WC, Zhang HW, Yu J, et al. CT Imaging and Differential Diagnosis of COVID-19. Can Assoc Radiol J. 2020 May;71(2):195-200.

Tác giả bài viết: BS CKII Võ Minh Thành- Phó Giám đốc
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Tin mới

Số ĐT đặt lịch khám bệnh
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN, Địa chỉ: 184 Trần Quý Cáp- Phường Tự An- TP Buôn Ma Thuột- tỉnh Đắk Lắk, Điện thoại nóng: 0262. 3919009 - 0262. 3852654
Điện thoại phòng KHTH
CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT KHOANG DƯỚI NHỆN
BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU LÀ GÌ? BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI VIỆT NAM
Phòng, chống thiên tai và chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN TẶNG QUÀ TẾT TRUNG THU CHO CÁC CHÁU THIẾU NHI TẠI BUÔN KẾT NGHĨA
Phục hồi chức năng sau mổ tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SINH HOẠT CHI BỘ
CẬP NHẬT MỚI BẢO VỆ THẦN KINH KHI SỬ DỤNG MAGNESIUM SULFATE TRONG THAI KỲ
KẾT NỐI YÊU THƯƠNG - PHÒNG CHỐNG DỊCH COVID-19 - KHÔNG ĐỂ AI BỊ BỎ LẠI PHÍA SAU
Thông báo về việc lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản
CHẨN ĐOÁN VÀ XỬ TRÍ TRẠNG THÁI ĐỘNG KINH
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN TỔ CHỨC CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGƯỜI HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH LÂM SÀNG CHO ĐIỀU DƯỠNG VIÊN MỚI
VIÊM HỌNG CẤP TÍNH
ĐIỀU TRỊ LIỆT MẶT NGOẠI BIÊN BẰNG PHƯƠNG PHÁP Y HỌC CỔ TRUYỀN
GÂY MÊ HỒI SỨC TRONG PHẪU THUẬT NIỆU KHOA
TRẠNG THÁI ĐỘNG KINH
Bạch hầu: Tiêm chủng là biện pháp phòng bệnh chủ động, hiệu quả
Chín đối tượng dễ bị COVID -19 tấn công
PHÒNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CHUNG TAY HỖ TRỢ TUYẾN ĐẦU PHÒNG CHỐNG COVID-19
CẤP CỨU PHÙ PHỔI CẤP HUYẾT ĐỘNG
MỘT SỐ TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG BỆNH COVID-19

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 16
  • Khách viếng thăm: 12
  • Máy chủ tìm kiếm: 4
  • Hôm nay: 2249
  • Tháng hiện tại: 2249
  • Tổng lượt truy cập: 10961871
Cổng dịch vụ công quốc gia
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang