bvvtn

CƠ SỞ MIỄN DỊCH UNG THƯ (Phần 2)

Đăng lúc: Thứ năm - 16/01/2020 10:48 - Người đăng bài viết: admin
Tất cả các tế bào của hệ thống miễn dịch đều bắt nguồn từ các tế bào gốc tạo máu đa năng (HSC) ở tủy xương. HSC phân chia tạo ra các tế bào tiền thân tủy chung (CMP) và tế bào tiền thân bạch huyết (CLP).
3. HỆ THỐNG MIỄN DỊCH
Tất cả các tế bào của hệ thống miễn dịch đều bắt nguồn từ các tế bào gốc tạo máu đa năng (HSC) ở tủy xương. HSC phân chia tạo ra các tế bào tiền thân tủy chung (CMP) và tế bào tiền thân bạch huyết (CLP). CMP tạo ra các bạch cầu (bạch cầu trung tính, bạch cầu đơn nhân, bạch cầu ái kiềm, bạch cầu ái toan), dưỡng bào, tế bào đuôi gai (dendritic cell -  DC) chịu trách nhiệm miễn dịch bẩm sinh, hồng cầu và mẫu tiểu cầu (megakaryocyte). Còn CLP phát sinh ra các tế bào lympho T, tế bào lympho B chịu trách nhiệm miễn dịch thích ứng và các tế bào sát thủ tự nhiên (natural killer - NK).
Miễn dịch tự nhiên còn gọi là miễn dịch bẩm sinh hay miễn dịch không đặc hiệu. Tác nhân kích hoạt hệ thống miễn dịch tự nhiên là các protein từ thành tế bào vi khuẩn, nội độc tố và acid nucleic gây bệnh. Các tế bào miễn dịch bẩm sinh hoạt động không cần kháng nguyên kích hoạt trước và là tuyến phòng thủ đầu tiên chống lại các tín hiệu nguy hiểm từ mầm bệnh hoặc tế bào khối u. 
Miễn dịch thích ứng còn gọi là miễn dịch thu được hay miễn dịch đặc hiệu. Để hoạt động, các tế bào miễn dịch thích ứng cần được kích hoạt trước bởi các tế bào trình diện kháng nguyên (antigen presenting cell - APC). Các tế bào T và B của hệ thống miễn dịch thích ứng còn có chức năng như một bộ nhớ miễn dịch đối với các mầm bệnh đặc hiệu. Bộ nhớ miễn dịch cho phép tăng cường sự đáp ứng miễn dịch khi cơ thể tái tiếp xúc với các kháng nguyên hoặc mầm bệnh. Nó là cơ sở của chức năng giám sát miễn dịch.
Phân chia hệ thống miễn dịch thành hai bộ phận như trên là sự đơn giản hóa vì chúng có chức năng chồng chéo và liên quan mật thiết với nhau. Ví dụ, kích hoạt các tế bào miễn dịch tự nhiên có thể dẫn đến kích hoạt các tế bào T và B thuộc hệ thống miễn dịch thích ứng thông qua sự bài tiết cytokine và hoạt động trình diện kháng nguyên.
3.1. Các tề bào của hệ thống miễn dịch tự nhiên
Kinh điển, thành phần tế bào của hệ thống miễn dịch tự nhiên bao gồm bạch cầu (bạch cầu trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm, bạch cầu đơn nhân và đại thực bào), dưỡng bào, tế bào sát thủ tự nhiên (natural killer - NK) và tế bào đuôi gai (dendritic celler - DC) chịu trách nhiệm đầu tiên loại bỏ các tác nhân vi sinh vật và kích hoạt đáp ứng miễn dịch thích ứng đặc hiệu với kháng nguyên trong trường hợp thất bại.
Chức năng chính của bạch cầu là bảo vệ cơ thể chống lại các vi sinh vật xâm nhập. Tuy nhiên, các yếu tố môi trường vi mô tại vị trí viêm của khối u có thể tạo ra những thay đổi đáng kể về kiểu hình và trạng thái chức năng của các tế bào bạch cầu góp phần khởi phát và tiến triển khối u.
3.1.1. Bạch cầu trung tính
Bạch cầu trung tính chiếm 50-70% tổng số bạch cầu lưu hành, tạo thành tuyến phòng thủ đầu tiên, không thể thiếu chống lại các vi sinh vật gây bệnh. Chúng lưu thông trong máu và được huy động vào các vị trí nhiễm trùng bởi các chemokine, cytokine và các phân tử kết dính tế bào. Tại đó chúng bắt giữ và phá hủy các vi khuẩn. Ngoài ra, bạch cầu trung tính còn kích thích quá trình sản xuất các cytokine bao gồm yếu tố hoại tử khối u α (TNF-α), interleukin 1β (IL-1β), IL-1Rα, IL-12, yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (vascular endothelial growth factor  - VEGF) và chemokine (IL- 8) giúp huy động thêm bạch cầu trung tính, đại thực bào và tế bào T đến vị trí viêm.
Bạch cầu trung tính còn đóng vai trò quan trọng trong sinh học khối u [6]. Chúng được huy động vào vi môi trường khối u (TME) thông qua việc sản xuất các chemokine. Các bạch cầu trung tính liên quan đến khối u (TAN) này khác biệt rõ rệt với bạch cầu trung tính non. TAN thể hiện vai trò hai mặt [7]. Chúng vừa có thể có kiểu hình chống sinh u (N1) đồng thời cũng có thể có kiểu hình tiền sinh u (N2). Trong các khối u không được điều trị, TGF-β của tế bào khối u thúc đẩy TAN biệt hóa theo kiểu hình N2 giúp tế bào khối u tăng sinh, sống sót, di căn và đề kháng với hóa trị. Ngoài ra, N2 TAN còn ức chế miễn dịch và thúc đẩy tiến triển khối u bằng cách giải phóng các tín hiệu kích thích tăng trưởng, các yếu tố tạo mạch và các enzyme làm suy giảm chất nền ngoại bào. Vì vậy, có thể nói, bạch cầu trung tính đảm nhận nhiều vai trò trong sự phát triển và tiến triển của khối u. Tuy nhiên, trong một số điều kiện nhất định như phong tỏa TGF-β, TAN có thể chuyển sang kiểu hình N1, có chức năng gây độc tế bào do tăng biểu hiện các cytokine và chemokine kích hoạt miễn dịch. N1 TAN cũng tương tác với các DC để kích hoạt phản ứng miễn dịch thích ứng. Ngoài ra, chúng còn tạo điều kiện cho sự xâm nhập và kích hoạt tế bào T CD8 thông qua việc sản xuất các chemokine và các cytokine gây viêm. Kiểu hình N1 này có khả năng ức chế sự tiến triển của khối u, cho thấy khả năng kích thích miễn dịch chống u bằng cách phong tỏa TGF-β.
3.1.2. Bạch cầu đơn nhân và đại thực bào
Bạch cầu đơn nhân chiếm 5-7% số lượng bạch cầu lưu hành. Chúng di chuyển vào các mô, biệt hóa và trưởng thành thành các đại thực bào khác nhau tùy thuộc vào mô hoạt hóa, như tế bào Langerhans ở lớp biểu bì, tế bào Kupffer ở gan và tế bào thần kinh đệm ở hệ thần kinh. Đại thực bào thực hiện nhiều chức năng nhưng chủ yếu là bắt giữ và tiêu diệt các vi sinh vật xâm nhập. Chúng cũng giải phóng các cytokine và chemokine để huy động các tế bào khác của hệ thống miễn dịch đến vị trí viêm. Các đại thực bào cũng tạo ra sự biểu hiện của các phân tử đồng kích thích trên các tế bào trình diện kháng nguyên (APC) để bắt đầu phản ứng miễn dịch thích ứng và loại bỏ mầm bệnh.
Tương tự như TAN, bạch cầu đơn nhân bị thu hút vào TME bởi các chemokine có nguồn gốc từ khối u như hoặc các cytokine như VEGF, yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc tiểu cầu (PDGF), TGF-β, GM-CSF và M-CSF. Tại đó chúng biệt hóa thành các đại thực bào cư trú mô (tissue-resident macrophages) và được gọi là đại thực bào liên quan khối u (tumor-associated macrophages: TAM) [8]. TAM có thể có kiểu hình M1 chống sinh u (nếu hoạt hóa điển hình) hoặc kiểu hình M2 tiền sinh u (nếu hoạt hóa không điển hình). Cytokine của TME đóng vai trò chính trong định hướng kiểu hình của các đại thực bào đang biệt hóa. Các cytokine chính có trong TME như M-CSF, TGF-β và IL-10, ức chế mạnh việc sản xuất IL-12 trong TAM. Điều này hướng sự biệt hóa về kiểu hình đại thực bào M2 vốn cần IL-12 thấp và IL-10 cao. Các đại thực bào M2 di chuyển đến các khu vực thiếu oxy trong khối u và thúc đẩy sự phát triển của khối u bằng cách: (i) gây sinh mạch; (ii) thay đổi khung nền cơ chất tại chỗ bằng cách tạo ra nhiều loại men tiêu hủy cấu trúc nền; (iii) ức chế miễn dịch thích ứng và tạo ra các tế bào T điều tiết (regulatory T - Treg). Điều này cho phép các tế bào khối u thoát ra khỏi khung nền cơ chất bao quanh và di căn đến các vị trí xa [9].
Hoạt hóa đại thực bào điển hình để có kiểu hình M1 chỉ xảy ra trong một số điều kiện nhất định, nồng độ IL-12 cao và IL-10 thấp với sự hiện diện của GM-CSF, các sản phẩm vi sinh vật, lipopolysacarit hoặc interferon-γ (IFN-γ), trong đó TAM được huấn luyện để đảm nhiệm chức năng gây độc tế bào và trình diện kháng nguyên. Chúng tiêu diệt vi khuẩn và tế bào khối u bằng cách sản xuất một lượng lớn các cytokine gây viêm, các chất trung gian gây độc, các gốc tự do có oxy và TNF. Các cytokine này cũng khởi động miễn dịch thích ứng bằng cách hoạt hóa tế bào Th1.
3.1.3. Bạch cầu ái toan
Bạch cầu ái toan chiếm chưa đến 5% bạch cầu lưu hành. Chúng có liên quan đến phản ứng bảo vệ vật chủ chống lại giun sán ký sinh, sinh vật đa bào và nấm. Bạch cầu ái toan biểu hiện một số thụ thể chemokine, thụ thể cytokine, thụ thể immunoglobulin (Ig), thụ thể nhận diện khuôn mẫu giống Toll (Toll-like pattern recognition receptor - TLR) và thụ thể histamine. Sự tham gia của các thụ thể này làm giải phóng các protein gây độc tế bào mạnh, các cytokine tiền viêm, các yếu tố tăng trưởng, chemokine và các chất trung gian lipid (yếu tố kích hoạt tiểu cầu và leukotriene C4).
Bạch cầu ái toan cũng được tìm thấy trong khu vực khối u xâm lấn. Mặc dù sự hiểu biết về chức năng của bạch cầu ái toan trong ung thư vẫn còn ít ỏi, nhưng chúng biểu hiện phức hợp tương hợp mô học chính (Major Histocompatibility Complex - MHC) lớp II, các phân tử đồng kích thích CD40, CD28/86, protein 4 liên kết với tế bào T gây độc tế bào (cytotoxic T lymphocyte-associated protein 4: CTLA-4). Do đó chúng hoạt động như các APC và khởi động các đáp ứng miễn dịch đặc hiệu của các tế bào T. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng các yếu tố hóa ứng động như eotaxin và các mẩu phân tử liên quan đến tổn thương (damage-associated molecular pattern: DAMP) phóng thích từ các tế bào khối u hoại tử gây ra sự di chuyển bạch cầu ái toan đến khối u trước cả sự xâm nhập của tế bào T CD8. Bạch cầu ái toan tại khối u khi hoạt hóa sẽ phóng thích các chemokine thu hút các tế bào T CD8. Tăng bạch cầu ái toan tại khối u cùng với sự hiện diện của các tế bào T CD8 tạo ra những thay đổi đáng kể trong TME như phân cực kiểu hình TAM thành M1, bình thường hóa hệ mạch của khối u, dẫn đến tăng xâm nhập tế bào T, tăng cường đào thải khối u và cải thiện thời gian sống của bệnh nhân [10].
3.1.4. Bạch cầu ái kiềm
Bạch cầu ái kiềm lưu hành trong máu dưới dạng tế bào trưởng thành và chỉ chiếm dưới 1% tổng số lượng bạch cầu. Bạch cầu ái kiềm di chuyển đến các vị trí viêm dị ứng hoặc nơi có vi sinh vật xâm nhập để đáp ứng với các cytokine và chemokine được phóng thích tại chỗ. Bạch cầu ái kiềm hoạt hóa làm giải phóng nhanh chóng một số chất trung gian gây viêm như histamine, leukotriene C4, prostaglandin và một lượng đáng kể các interleukine, đóng vai trò là chất hóa ứng động (chemoattractant) cho các tế bào miễn dịch khác và hướng sự biệt hóa của các tế bào T non về kiểu hình Th2 dẫn đến đáp ứng miễn dịch kiểu dị ứng. Hơn nữa, bạch cầu ái kiềm còn biểu hiện phối tử CD40, phối tử này sẽ gắn với CD40 trên tế bào B, làm biến đổi tế bào B thành tương bào và thúc đẩy sản xuất kháng thể IgE.
Mặc dù vai trò của bạch cầu ái kiềm trong khối u chưa được hiểu rõ ràng, nhưng người ta tin rằng chúng thúc đẩy sự hình thành các mạch tân sinh [11]. Bạch cầu ái kiềm biểu hiện RNA thông tin Angiopoietin-1, Angiopoietin-2, các thụ thể VEGFR-2 và Tie-1 trên bề mặt tế bào. Do đó, kích hoạt bạch cầu ái kiềm sẽ giải phóng các yếu tố tiền sinh mạch VEGF-A và VEGF-B góp phần vào sự hình thành mạch tân sinh.
 
 
 
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
 
  1. Dunn G, Bruce A, Ikeda H, Old L, Schreiber R. Cancer immunoediting: from immunosurveillance to tumor escape. Nat Immunol. 2002;3(11):991–998.
  2. Leibovici J, Itzhaki O, Huszar M, Sinai J. The tumor microenvironment: part 1. Immunotherapy. 2011:1367-84.
  3. Hanahan D, Weinberg RA. The hallmarks of cancer. Cell. 2000;100(1):57-70.
  4. Hanahan D and Weinberg RA. Hallmarks of cancer: the next generation. Cell. 2011; 144: 646-674.
  5. Turley SJ, Cremasco V, Astarita JL. Immunological hallmarks of stromal cells in the tumour microenvironment. Nat Rev Immunol. 2015;15(11):669-82.
  6. Fridlender ZG, Albelda SM. Tumor-associated neutrophils: friend or foe? Carcinogenesis. 2012;33:949–55.
  7. Piccard H, Muschel RJ, Opdenakker G. On the dual roles and polarized phenotypes of neutrophils in tumor development and progression. Crit Rev Oncol Hematol. 2012;82:296–309.
  8. Solinas G, Germano G, Mantovani A, Allavena P. Tumor-associated macrophages (TAM) as major players of the cancer-related inflammation. J Leukoc Biol. 2009;86:1065–73.
  9. Goswami KK, Ghosh T, Ghosh S, et al. Tumor promoting role of anti-tumor macrophages in tumor microenvironment. Cell Immunol. 2017;316:1-10.
  10. Minton K. Granulocytes: eosinophils enable the antitumour T cell response. Nat Rev Immunol. 2015;15:333.
  11. Prevete N, Staiano RI, Granata F, et al. Expression and function of angiopoietins and their tie receptors in human basophils and mast cells. J Biol Regul Homeost Agents. 2013;27:827–39.

Tác giả bài viết: BS CKII Võ Minh Thành- Phó Giám đốc

Ý kiến bạn đọc

 
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN, Địa chỉ: 184 Trần Quý Cáp- Phường Tự An- TP Buôn Ma Thuột- tỉnh Đắk Lắk, Điện thoại nóng: 0262. 3919009 - 0262. 3852654
Điện thoại phòng KHTH
SIADH (Hội chứng tiết Hormon chống bài niệu không thích hợp)
CHƯƠNG TRÌNH MỔ MẮT TỪ THIỆN KẾT NỐI YÊU THƯƠNG – ĐEM ÁNH SÁNG CHO NGƯỜI NGHÈO 2020
ĐIỀU TRỊ THÀNH CÔNG CA BỆNH CHUYỂN DẠ SINH NON VỚI TRACTOCILE
BÁO CÁO KẾT QUẢ ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN LẦN THỨ XV, NHIỆM KỲ 2020-2025
Màu Blouse trắng tôi yêu
BỆNH LÝ AMYDAL
Tác hại của thuốc lá trên cơ thể con người
BIỆN PHÁP TRÁNH THAI SAU SANH!
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU CỦA LEVOBUPIVACAINE PHỐI HỢP VỚI FENTANYL QUA CATHETER NGOÀI MÀNG CỨNG SAU PHẪU THUẬT THAY KHỚP HÁNG
NHỮNG ĐIỀU KHÔNG PHẢI AI CŨNG BIẾT
KHOA CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH NỐI THÀNH CÔNG 2 TRƯỜNG HỢP ĐỨT LÌA/GẦN LÌA CHI THỂ
Thông báo mời thầu: Goái thầu vệ sinh công nghiệp Bệnh viện ĐK Vùng Tây Nguyên
Thông báo tuyển dụng Bác sĩ, điều dưỡng
TÔI LÀ HẠT NẮNG
Quan tâm chăm sóc sức khỏe của nhân dân theo tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh
Nhận thức về tác hại của thuốc lá và tuổi trẻ học đường
MỘT THOÁNG BLOUSE TRẮNG
Cấp cứu bệnh nhi với vết thương ở ruột
KHI EM LÀ BÁC SỸ
BIẾN CHỨNG SỬ DỤNG GLUCOCORTICOID

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 162
  • Khách viếng thăm: 32
  • Máy chủ tìm kiếm: 130
  • Hôm nay: 2177
  • Tháng hiện tại: 108437
  • Tổng lượt truy cập: 10138878
Cổng dịch vụ công quốc gia
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang