ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ PHÒNG BUỒN NÔN VÀ NÔN CỦA DEXAMETHASONE Ở BỆNH NHÂN MỔ CẮT TÚI MẬT NỘI SOI

Đăng lúc: Thứ tư - 03/05/2017 07:48 - Người đăng bài viết: admin
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ PHÒNG BUỒN NÔN VÀ NÔN CỦA DEXAMETHASONE Ở BỆNH NHÂN MỔ CẮT TÚI MẬT NỘI SOI

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ PHÒNG BUỒN NÔN VÀ NÔN CỦA DEXAMETHASONE Ở BỆNH NHÂN MỔ CẮT TÚI MẬT NỘI SOI

Phẫu thuật nội soi có nhiều ưu điểm như hồi phục nhanh, rút ngắn thới gian nằm viện và sớm trở lại hoạt động bình thường. Tuy nhiên, tỉ lệ buồn nôn và nôn sau mổ (BNNSM) còn cao ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
TÓM TẮT
Mở đầu: Phẫu thuật nội soi có nhiều ưu điểm như hồi phục nhanh, rút ngắn thới gian nằm viện và sớm trở lại hoạt động bình thường. Tuy nhiên, tỉ lệ buồn nôn và nôn sau mổ (BNNSM) còn cao ảnh hưởng đến kết quả điều trị.
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả dự phòng buồn nôn và nôn của dexamethasone trong 24 giờ đầu sau mổ cắt túi mật nội soi.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng. 74 bệnh nhân cắt túi mật nội soi có ASA I, II, tuổi 18 – 65. Bệnh nhân được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm: nhóm D (35 bệnh nhân) tiêm tĩnh mạch dexamethasone 4 mg lúc khởi mê và nhóm C (39 bệnh nhân) không sử dụng thuốc chống nôn. Tất cả bệnh nhân được theo dõi buồn nôn – nôn và các tác dụng phụ trong 24 giờ đầu sau mổ.
Kết quả: Tỉ lệ BNNSM ở nhóm D 31,4% và nhóm chứng 66,7%. Tần suất BNNSM ở nhóm chứng cao hơn có ý nghĩa thống kê (p = 0,01) so với nhóm D. Ở nhóm D có 8,6% bệnh nhân ngứa tầng sinh môn. Tỉ lệ đau đầu là 8,6% và 7,7% tương ứng với nhóm D và C (p > 0,05).
Kết luận: Dexamethasone 4 mg có hiệu quả dự phòng BNNSM trong mổ cắt túi mật nội soi.
 
Từ khóa: Dexamethasone, cắt túi mật nội soi, buồn nôn và nôn sau mổ
 
THE EFFECT OF DEXAMETHASONE IN THE PREVENTION OF POSTOPERATIVE NAUSEA AND VOMITING IN THE PATIENTS LAPAROSCOPIC CHOLECYSTECTOMY.

 
ABSTRACT
Background: Laparoscopic surgery provides tremendous benefits to patients, including faster recovery, shorter hospital stay and prompt return to normal activities. Despite the minimally invasive nature of laparoscopy, high incidence of postoperative nausea and vomiting remains a major cause for morbidity.
Objectives: The effect of dexamethasone on preventing nausea and vomiting in the patients undergone laparoscopic cholecystectomy.
Patients and Methods: 74 patients with ASA class I and II aged between 18 - 65 years voluntarily participated in this randomized control trial. The patients were randomly divided into two groups: Group D (35 patients) received dexamethasone 4 mg at the induction and group C (39 patients) without using antiemetic. The incidence of PONV and side effects were recorded during the first 24 h postoperatively.
Results: The incidence of PONV was observed in 31.4 and 66.7 percent of D and C groups, respectively. The frequency of PONV was significantly higher in C-group (p = 0.01). There were 8.6% perineal itching in D-group. The frequency of headache was 8.6 and 7.7 of D and C groups, respectively (p > 0,05 ).
Conclusions: Dexamethasone 4 mg is effective in preventing PONV.
Key words: Dexamethasone, laparoscopic cholecystectomy, postoperative nausea and vomiting (PONV)

------------------------------------------------
 
ĐẶT VẤN ĐỀ
Buồn nôn và nôn sau mổ (BNNSM) là một vấn đề thường gặp trong 24 giờ đầu sau phẫu thuật(2).Tỉ lệ BNNSM chung khoảng 20 – 30% và lên đến 80% ở những bệnh nhân có nguy cơ rất cao về buồn nôn và nôn sau mổ(4).
Cắt túi mật bằng phương pháp nội soi là phương pháp điều trị ngoại khoa thường qui sỏi túi mật. Phương pháp nội soi ít xâm hại hơn phương pháp phẫu thuật mở, nhưng tỉ lệ buồn nôn và nôn sau mổ (BNNSM) cao hơn mổ mở, khoảng 40 – 70% (6). BNNSM làm bệnh nhân ra mồ hôi, nhịp tim nhanh, đau bụng, kéo dài thời gian nằm ở phòng hồi tỉnh cũng như thời gian nằm viện và tăng nguy cơ viêm phổi do hít phải chất nôn. BNNSM mức độ nặng có thể dẫn đến mất nước, rối loạn điện giải, bục vết mổ, chảy máu kéo dài ở vết thương, máu tụ và vở thực quản (11). Do vậy, dự phòng và điều trị buồn nôn và nôn sau phẫu thuật là vấn đề cần thiết và cần quan tâm nhằm giảm biến chứng sau gây mê và phẫu thuật.
Dexamethasone là thuốc thuộc nhóm corticoide có tác dụng kháng viêm mạnh và chống dị ứng, còn có tác dụng đối kháng với thụ thể dopaminergic tại vùng nhận cảm hoá học. Thuốc này đã được sử dụng để điều trị nôn cho bệnh nhân hóa trị liệu, sau đó được đưa vào nghiên cứu trong điều trị dự phòng buồn nôn và nôn sau phẫu thuật, nhiều nghiên cứu đã chứng minh nó có hiệu quả và an toàn (8,9). Dexamethasone là thuốc dễ kiếm và giá thành rẻ, nhưng chưa sử dụng rộng rãi trong dự phòng BNNSM. Do vậy, chúng tôi tiến hành đề tài này với mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả dự phòng buồn nôn và nôn của dexamethasone ở bệnh nhân mổ cắt túi mật nội soi.
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng.
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Bệnh nhân có chỉ định cắt túi mật nội soi, tuổi từ 18 – 65 tuổi, ASA I và II, BMI  < 30, không sử dụng thuốc chống nôn trước phẫu thuật và đồng ý tham gia nghiên cứu.
Phẫu thuật tại khoa Phẫu thuật-Gây mê hồi sức, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Lắk từ tháng 02 năm 2015 đến tháng 10 năm 2015.

Tiêu chuẩn loại trừ

Chống chỉ định sử dụng dexamethasone, phụ nữ cho con bú hoặc có thai, có triệu chứng nôn và buồn nôn trước mổ, dùng thuốc chống nôn trước mổ, đang sử dụng Steroid hoặc đang điều trị ung thư bằng hóa chất.
Chuyển qua mổ mở và không thực hiện đúng quy trình gây mê.

Cỡ mẫu

Bianchin đã tiến hành nghiên cứu hiệu quả dự phòng BNNSM của dexamethasone 8 mg trên 80 bệnh nhân cắt túi mật nội soi, với kết quả là 28% bệnh nhân BNNSM, ở nhóm không dự phòng BNNSM cắt túi mật nội soi thì có 65% bệnh nhân BNNSM (1).
Nghiên cứu của chúng tôi với giả thuyết hiệu quả dự phòng BNNSM với kết quả như trên. Áp dụng công thức tính cỡ mẫu so sánh hai tỉ lệ:

  
 
 Trong đó:
n : Cỡ mẫu cho mỗi nhóm để nghiên cứu có ý nghĩa thông kê
π: Tỉ lệ BNNSM nhóm sử dụng ondansetron, π1 = 0,28.
π: Tỉ lệ BNNSM nhóm sử dụng dexamethasone, π2 = 0,65.
π = (π1 + π2)/2 = (0,65 + 0,28)/2 = 0,465
α : Xác suất sai lầm loại I : 0,05
β: Xác suất sai lầm loại II : 0,2
Z: Trị số tới hạn của độ tin cậy, Z = (Z0,9 + Z1-α/2)­­­­2 = 7,8
Tính được n ≥ 28,3 bệnh nhân, vậy cần tối thiểu 29 bệnh nhân cho mỗi nhóm.

Định nghĩa biến số nghiên cứu

Thời gian gây mê: từ lúc bắt đầu tiêm thuốc ngủ để khởi mê cho đến lúc rút nội khí quản.
Thời gian phẫu thuật: từ lúc bắt đầu rạch da đến lúc kết thúc đóng da.
Nôn là sự tống các chất trong dạ dày ra ngoài liên quan đến sự co nhịp nhàng của các cơ hô hấp, bao gồm cơ hoành và các cơ thành bụng.
Buồn nôn là một cảm giác khó chịu ở vùng họng và thượng vị và muốn nôn. Buồn nôn thường đi kèm với nôn nhưng không nhất thiết hai triệu chứng này cùng xuất hiện cùng một lúc.
Các bước tiến hành
            Tất cả bệnh nhân được khám tiền mê thường qui. Phân nhóm ngẫu nhiên dựa vào bắt thăm: Nhóm D gồm 35 bệnh nhân: Tiêm tĩnh mạch 4 mg dexamethasone khi khởi mê và nhóm C gồm 39 bệnh nhân: Không sử dụng thuốc dự phòng nôn. Tiền mê midazolam 0,02 mg/kg. Khởi mê bằng propofol 2 – 3 mg/kg, fentanyl 2 – 3 μg/kg, rocuronium 0,6 mg/kg, đặt nội khí quản và duy trì mê isoflurane 2 – 3 %. Trước lúc kết thúc phẫu thuật 30 phút sử dụng thuốc giảm đau paracetamol 1 g truyền tĩnh mạch. Hóa giãi tồn dư thuốc dãn cơ với neostigmin 40 μg/kg và atropine 20 μg/kg.
Tất cả bệnh nhân được theo dõi 24 giờ sau mổ. Tất cả bệnh nhân được chăm sóc và điều trị sau mổ theo cùng một phác đồ. Bệnh nhân được đánh giá mức độ buồn nôn – nôn sau mổ trong giai đoạn nôn đầu tiên. Theo dõi các tác dụng phụ của thuốc phòng nôn như  nhức đầu, chóng mặt...
Xử lý số liệu
Sử dụng phần mềm thông kê SPSS 16.0. Nếu các biến số là biến định lượng sẽ được kiểm định bằng T-test nếu biếu số có phân phối chuẩn và phương sai không khác nhau. Nếu các biến số là biến định
tính sẽ được kiểm định bằng test chi bình phương χ2 hoặc Fisher’s exact test.
Bảng 1: Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu
Biến số Nhóm C Nhóm D p
Tuổi (năm) 44,94 ± 1,09 47,91 ± 1,13 0,256
Cân nặng (kg) 54,07 ± 8,52 58,28 ± 9,08 0,044
Chiều cao (cm) 1,52 ± 0,55 1,53 ± 0,56 0,55
BMI (kg/m2) 22,65 ± 5,17 24,88 ± 4,39 0.051
TG mổ (phút) 61,53 ± 9,67 60,28 ± 6,29 0,556
TG gây mê (phút) 76,15 ± 9,69 75 ± 10,43  0,623
Dịch truyền (ml) 495,26 ± 89,2 500,29 ± 95,01 0,815
Fentanyl (μg) 181,14 ± 30,19 174,29 ± 27,44 0,294
 
        TG: thời gian. Giá trị là trung bình ± độ lệch chuẩn
Nhận xét: Các đặc điểm chung của 2 nhóm nghiên cứu tương đồng nhau.
Bảng 2: So sánh tỉ lệ buồn nôn và nôn sau mổ
Giai đoạn Nhóm C Nhóm D p
0 - 6 giờ 19(48,7) 8(22,9)  
7 - 24 giờ 7(17,9) 3(8,6) 0,01
0 - 24 giờ 26 ( 66,7) 11 (31,4)  
 
                  Giá trị là n (%).
Nhận xét: Tỉ lệ buồn nôn – nôn sau mổ ở nhóm C cao hơn ở nhóm D ở mọi giai đoạn, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
Bảng 3: So sánh BNNSM trong 24 giờ sau mổ
Mức độ Nhóm C Nhóm D p
Buồn nôn-nôn 26 (66,7 ) 11 (31,4 ) 0,01
 Không Nôn 13 (33,3) 24 (68,6)
 
                        Giá trị là n (%)
Nhận xét: Tỉ lệ buồn nôn – nôn sau mổ ở nhóm C cao hơn nhóm D trong 24 giờ sau mổ có ý nghĩa thống kê.
Bảng 4: Tác dụng không mong muốn
Triệu chứng Nhóm C Nhóm D p
Đau đầu 3 (7,7) 3 (8,6) 0,609
Ngứa tầng sinh môn 6 (15,4) 3 (8,6) 0,297
 
Giá trị là n (%).
Nhận xét: Đau đầu và ngứa ở tầng sinh môn (ngứa hậu môn hoặc âm đạo), là triệu chứng gặp ở 2 nhóm và phân phối trong 2 nhóm tương tự nhau.
BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thể hiện các đặc điểm chung của 2 nhóm nghiên cứu tương đồng nhau. Tỉ lệ BNNSM của nhóm D là 22,9% so với 48,7% ở nhóm C trong giai đoạn 0 – 6 giờ sau mổ (bảng 2).
Trong giai đoạn 0 – 24 giờ sau mổ, có 31,4% ở nhóm D so với 66,7% ở nhóm C biểu hiện buồn nôn và nôn. Hiệu quả dự phòng BNNSM của dexamethasone có ý nghĩa ( p < 0,05) (bảng 3)
Năm 2006, Gupta và cộng sự (8) so sánh hiệu quả dự phòng BNNSM cắt túi mật nội soi, gồm 200 bệnh nhân được chia làm hai nhóm: nhóm 1 nhận 5 mg dexamethasone tĩnh mạch và nhóm 2 nhận 4 mg ondansetron, cả hai thuốc sử dụng trước mổ 90 phút. Tác giả kết luận sử dụng dexamethasone liều thấp 5 mg tĩnh mạch trước mổ có hiệu quả tương đương với ondansetron 4 mg tĩnh mạch.
Gautam (2008) và cộng sự (7) thực hiện một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên mù đôi. Nhóm 1 nhận 4 mg ondansetron, nhóm 2 nhận 8 mg dexamethasone và nhóm 3 nhận 4 mg ondansetron và 8 mg dexamethasone. Mỗi nhóm gồm 50 bệnh nhân cắt túi mật nội soi. Kết quả nghiên cứu thể hiện tác dụng dự phòng của hai thuốc trên là tương đương nhau và hiệu qủa dự phòng đơn trị kém hơn phối hợp.
Năm 2012, Eidy và cộng sự (5) nghiên cứu 150 bệnh nhân cắt túi mật nội soi với phác đồ nghiên cứu giống như Gautam. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy hiệu quả dự phòng BNNSM của hai thuốc này là tương đương nhau.
Tác dụng không mong muốn thường gặp là đau đầu ở nhóm C 7,7% và nhóm D 8,6%, khác biệt không ý nghĩa thống kê. Ngứa ở tầng sinh môn gặp ở nhóm dexamethasone khoảng 8,6%, ở nhóm C 15,4% (bảng 4). Tác dụng phụ của dexamethasone khi sử dụng với liều dự phòng buồn nôn – nôn sau mổ là rất hiếm. Phần lớn các nghiên cứu được tiến hành trên bệnh nhân được chọn lựa, loại trừ những bệnh nhân có tiền sử bệnh về dạ dày ruột, đái tháo đường, điều trị corticoide, ức chế miễn dịch, bệnh lao và hội chứng cushing. Một nghiên cứu đánh giá hiệu quả chống nôn của dexamethasone ở bệnh nhân hóa trị liệu, bệnh nhân nhận 20 mg dexamethasone mỗi ngày, trong 5 ngày liên tiếp. Kết quả nghiên cứu cho thấy không có biểu hiện ức chế miễn dịch cũng như rối loạn chức năng trục hạ đồi - tuyên yên - thượng thận (3). Dexamethasone gây đau vùng tầng sinh môn khi tiêm tĩnh mạch. Tỉ lệ chính xác không biết rõ, khoảng 25 – 100%, gặp ở nữ nhiều hơn ở nam. Liều và tốc độ tiêm cũng ảnh hưởng đến cường độ đau. Từ cảm giác ngứa đến cảm giác đau, kéo dài khoảng 25 – 30 giây. Cơ chế của tác dụng này không rõ, giả thuyết nguyên nhân giải thích triệu chứng này được tin tưởng nhất là do thành phần phosphate ester của steroid gây nên, tác dụng này biểu hiện rất rõ khi sử dụng ở bệnh nhân đang tỉnh (10).
KẾT LUẬN
Dexamethasone 4 mg có hiệu quả dự phòng BNNSM trong mổ cắt túi mật nội soi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bianchin A., De Luca A., Caminiti A. (2007), Postoperative vomiting reduction after laparoscopic     cholecystectomy with single dose of dexamethasone. Minerva Anestesiol, 73 (6), 343-6.
2. Becker D. E. (2010), Nausea, vomiting, and hiccups: a review of mechanisms and treatment. Anesth Prog, 57 (4), 150-6; quiz 157.
3.  Del Priore G., Gurski K. J., Warshal D. P., Angel C., Dubeshter B. (1995), Adrenal function following high-dose steroids in ovarian cancer patients. Gynecol Oncol,  59  (1),  102-4
4. Arslan M., Cicek R., Yilmaz H. (2011), Preventing postoperative nausea and vomiting after laparoscopic cholecystectomy: a prospective, randomized, double-blind study. Curr Ther Res Clin Exp, 72 (1), 1-12.
5.  Eidy M., Vafaei H. R., Rajabi M., Mohammadzadeh M. (2012), Effect of Ondansetron and Dexametasone on post-operative nausea and vomiting in patients undergoing laparoscopic cholecystectomy. Journal of Minimally Invasive Surgical Sciences,  1  (4),  138-143.
6.  Fujii Y. (2011), Management of postoperative nausea and vomiting in patients undergoing laparoscopic cholecystectomy. Surg Endosc,  25  (3),  691-5.
7.  Gautam B., Shrestha B. R., Lama P., Rai S. (2008), Antiemetic prophylaxis against postoperative nausea and vomiting with ondansetron-dexamethasone combination compared to ondansetron or dexamethasone alone for patients undergoing laparoscopic cholecystectomy. Kathmandu Univ Med J (KUMJ),  6  (23),  319-28.
8.  Gupta P., Khanna J., Mitramustafi A. K., Bhartia V. K. (2006), Role of pre-operative dexamethasone as prophylaxis for postoperative nausea and vomiting in laparoscopic surgery. J Minim Access Surg,  2  (1),  12-5.
9.  Lê Thanh Dương, Hồ Khả Cảnh (2010), Đánh giá tác dụng dự phòng nôn và buồn nôn của dexamethasone liều thấp trong phẫu thuật cắt túi mật nội soi. Tạp chí Y học thực hành (Bộ Y tế),  5  (716),  158-162.
10.        Perron G., Dolbec P., Germain J., Bechard P. (2003), Perineal pruritus after i.v. dexamethasone administration. Can J Anaesth,  50  (7),  749-50.
11.        Rusch D., Eberhart L. H., Wallenborn J., Kranke P. (2010), Nausea and vomiting after surgery under general anesthesia: an evidence-based review concerning risk assessment, prevention, and treatment. Dtsch Arztebl Int,  107  (42),  733-41.
 
Tác giả bài viết: Bs.Bùi Ngọc Đức,Bs.Đoàn Nghĩa Hưng-Khoa PT GMHS

Ý kiến bạn đọc

 
Điện thoại nóng
Phát hiện sớm Dị dạng hậu môn trực tràng
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP VIÊM MÀNG NÃO MỦ DO LIÊN CẦU LỢN (STREPTOCOCCUS SUIS)
Kết quả kiểm tra chất lượng bệnh viện 6 tháng đầu năm 2017
BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP NHIỄM TRÙNG HẬU SẢN NẶNG DO SANH THƯỜNG TẠI NHÀ
VIÊM MÀNG NÃO TĂNG BẠCH CẦU ÁI TOAN
Nhân một trường hợp bệnh nhân mắc bệnh Whitmore (Melioidosis) tại khoa Nội Tổng Hợp
Bóc tách động mạch chủ
UNG THƯ THỰC QUẢN
GÂY MÊ TRÊN BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯỜNG
Báo cáo trường hợp trẻ bỏ rơi
Thông báo kết quả kiểm tra vi sinh 6 tháng cuối năm 2016
LỊCH SỬ RA ĐỜI NGÀY RỬA TAY THẾ GIỚI 15/10 VÀ VAI TRÒ CỦA RỬA TAY THƯỜNG QUY TẠI BỆNH VIỆN
NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN
ĐẠI HỘI CHI HỘI ĐIỀU DƯỠNG
BỔ SUNG CÁC YẾU TỐ VI LƯỢNG TRONG THAI KỲ
Khoa Răng Hàm Mặt sánh bước cùng Operation Smile Việt Nam tại Bệnh viện tỉnh Đăk Lăk
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP BỆNH NHÂN ĐƯỢC VÁ SỌ TỰ THÂN TRÁN 2 BÊN TẠI KHOA NGOẠI THẦN KINH
VẤN ĐỀ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TĂNG SINH LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT
Hướng dẫn điều trị tăng Kali máu cấp ở người trưởng thành 2016
HO GÀ –BỆNH DỄ LÂY LAN Ở TRẺ EM

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 16
  • Hôm nay: 1792
  • Tháng hiện tại: 81557
  • Tổng lượt truy cập: 3138951
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang