bvvtn

DÒ BÀNG QUANG – ÂM ĐẠO NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP

Đăng lúc: Thứ năm - 12/09/2019 07:48 - Người đăng bài viết: admin
DÒ BÀNG QUANG – ÂM ĐẠO NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP

DÒ BÀNG QUANG – ÂM ĐẠO NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP

Dò bàng quang và âm đạo là sự hiện diện của một lỗ thông thương giữa bàng quang và âm đạo.
Dò bàng quang và âm đạo là sự hiện diện của một lỗ thông thương giữa bàng quang và âm đạo. Ở các quốc gia chậm phát triển, sang chấn lúc sinh do chuyển dạ kéo dài, hay do sinh là nguyên nhân thường gặp. Còn ở các quốc gia phát triển thì nguyên nhân thường do cắt tử cung điều này có thể do khâu vào bàng quang dẫn đến hoại tử mô. Hay do bàng quang bị tổn thương mà không phát hiện được, nước tiểu dò và thông với âm đạo. Những nguyên nhân thường gặp khác của dò bàng quang và âm đạo là xạ trị vùng chậu, phẫu thuật âm đạo, vật lạ, chấn thương và phẫu thuật cắt túi thừa của niệu đạo.
Triệu chứng
Triệu chứng của của dò bàng quang và âm đạo phụ thuộc vào kích thước và vị trí của đường dò. Rỉ nước tiểu liên tục, hoặc dịch nước ra từ âm đạo sau 7-14 ngày sau phẫu thuật là dấu hiệu lâm sàng thường gặp. Lượng nước tiểu rỉ ra rất dao động, có thể dò hết nước tiểu trong bàng quang, hay chỉ một phần nước tiểu rỉ ra khi bàng quang đầy hoặc trong vài vị trí tư thế của bệnh nhân mới có dò nưới tiểu ra. Vì vậy phải chú ý tính chất rỉ nước tiểu.
Chẩn đoán
Bước chủ yếu để chẩn đoán dò dò bàng quang và âm đạo là phải nghi ngờ. Chúng ta phải nghi ngờ có dò bàng quang và âm đạo đề truy tìm nó. Dò thường phải nghĩ tới nếu có rỉ nước qua âm đạo ở bệnh nhân đến khám vì tểu không kiểm soát.
Khám lâm sàng
Khám lâm sàng sẽ phát hiện dò trong đa số các trường hợp. Trong khi khám lâm sàng có
một số yếu tố phải chú ý để có kế hoạch điều trị. Kích thước và vị trí của lỗ dò là những
yếu tố quan trọng. Nếu lỗ dò có kích thước nhỏ có thể áp dụng phương phát điều trị bảo
tồn. Vị trí của lỗ dò trong âm đạo là bắt buộc phải xác định. Thông thường lỗ dò trong âm đạo có vị trí mỏm cắt của âm đạo âm đạo hẹp hay mặt cắt dính nhiều có thể làm cho ta không tiếp cận qua ngã âm đạo được.
  • Chụp x-quang có cản quang cho phép xác định kích thước và vị trí của đường dò.
  • Soi bàng quang là cận lâm sàng chính yếu chẩn đoán dò bàng quang và âm đạo. Vị trí của đường dò là những vị trí có niêm mạc bàng quang thay đổi hình dạng. Đặt một thông niệu quản nhỏ vào đường dò có thể sờ được thông trong âm đạo. Vị trí của lỗ dò có gần miệng niệu quản không, và hiện diện của những lỗ dò khác. Đánh giá chất lượng mô xung quanh lỗ dò để xem lựa chọn phương pháp phẫu thuật.
  • Xét nghiệm với chất màu
Chẩn đoán dò bàng quang và âm đạo vẫn chưa chắc chắn sau khám lâm sàng và xét nghiệm, có rất nhiều test để truy tìm lỗ dò nếu có bao gồm. "Double dye" test thực hiện tại giường. 4 cục bông sẽ được đặt các vị trí sau, 1 cùng đồ phải, 1 cùng đồ trái, 1 ở giữa âm đạo, 1 ở vị trí miệng âm đạo. Bàng quang sẽ được bơm vào dung dịch carmine 1% (màu đỏ), và 10 ml indigo carmine vào tĩnh mạch. Những cục bông này sẽ lấy ra sau 15 phút sau khi tiêm. Thấy dính màu đỏ vào cục bông giữa âm đạo hay cục bông đặt ở cùng đồ có nghĩa là có dò bàng quang âm đạo. Còn nếu chỉ có cục bông ở miệng âm đạo thấm có nghĩa là do nước tiểu rỉ ra từ niệu đạo.
 
Điều trị
  • Điều trị bảo tồn
Nếu dò bàng quang và âm đạo xảy ra sau vài ngày sau phẫu thuật, thì có thể thừ mở bàng quang ra da hay đặt thông tiểu thử duy trì trong 30 ngày. Lỗ dò nhỏ hơn 1 cm, có thể tự hết và giảm trong thời gian này nếu dẫn lưu tích cực, tỷ lệ thành công phụ thuộc vào
những tiêu chuẩn sau đây: dẫn lưu liên tục trong 4 tuần, dò bàng quang và âm đạo được chẩn đoán trong vòng 7 ngày sau mổ, lỗ dò nhỏ hơn 1 cm, và không có bị xạ trị vùng chậu.
  • Điều trị phẫu thuật
Cơ hội tốt nhất cho bác sĩ phẫu thuật thành công sau mổ là sử dụng phương pháp nào phẫu thuật viên rành nhất. Có những kỹ thuật mỗ bao gồm (1) qua ngã âm đạo, (2) qua ngã bụng, (3) đốt điện, (4) sử dụng keo fibrin, (5) sử dụng keo fibrin qua nội soi kèm hay không collagencủa bò, (6) qua ngã nội soi ổ bụng, (7) sử dụng mảnh ghép hay flap của mô cơ thể.
Trong y văn thống kê kết quả thành công mỹ mãn cho cả 2 đường tiếp cận qua ngã bụng
hay qua ngã âm đạo nếu tuân thủ một số nguyên tắc sau (1) chẩn đoán trước mổ hoàn hảo, (2) bộc lộ tốt, (3) cầm máu tốt, (4) di động các mô tốt, (5) diện khâu đóng lại không
căng, (6) diện khâu khâu bàng quang phải kín, (7) thời gian phòng ngừa nhiễm
trùng hay viêm, (8) đủ cung cấp máu ở vùng diện khâu, (9) hậu phẫu phải dẫn lưu liên
tục.
Kết luận
Chẩn đoán chính xác lỗ dò bàng quang và âm đạo là chủ yếu. Quyết định mổ khi nào tùy thuộc vào từng bệnh nhân, dựa trên chất lượng của mô. Đường qua âm đạo là đường mổ thường sử dụng nhất với tỷ lệ thành công cao, nhưng mổ qua ngã bụng cũng có kết quả tương tự. Mổ qua ngả bụng khi có lỗ dò cao, không tiếp cận qua đường âm đạo được. Tuy nhiên đường mổ cũng phụ thuộc vào từng phẫu thuật viên, để có kết quả tốt nhất.
 
CASE LÂM SÀNG
Bệnh nhân Võ Thị H… nữ 51 tuổi
            Địa chỉ: Xã Cư Pui, Huyện Krông Bông, Tỉnh Đăk Lăk
            Ngày  nhập viện:26/08/2019
Ngày xuất viện 09/09/2019
Lý do nhập viện: Rỉ nước tiểu qua âm đạo sau phẫu thuật cắt tử cung toàn phần 1 năm.
Khám: Bệnh nhân có tổng trạng chung khá. Sinh hiệu: Mạch 80l/ph, huyết áp 120/80 mmHg. Bụng mềm không đau, không ho, không đau ngực, không có u, gan, lách không sờ chạm. Hạch ngoại biên không sờ chạm.
Cận lâm sàng:   Nội soi thấy lỗ dò bàng quang – âm đạo cách miệng niệu quản trái 3 cm
                         Chụp bàng quang có cản quang ngược dòng thấy  rõ lỗ dò bàng quang – âm đạo
Các xét nghiệm tiền phẫu bao gồm: Công thức máu, sinh hoá máu, chức năng đông máu, điện tim, siêu âm tim, siêu âm bụng, chức năng hô hấp, X-quang phổi, và các xét nghiệm khác trong giới hạn bình thường.
 Chẩn đoán sơ bộ: Dò bàng quang – âm đạo sau phẫu thuật cắt tử cung toàn phần.
 


 
 
Bệnh nhân được lên lịch mổ chương trình ngày 28.8.2019. Ekip quyết định mổ đường bụng theo sẹo mổ cũ ngang eo tử cung, bóc tách vào thấy lỗ dò ở mặt sau bàng quang dính vào trực tràng và mỏm cắt tử cung, kết hợp mở bàng quang, cắt hết mô xơ, khâu vá lỗ dò, khâu lại bàng quang 2 lớp, đặt lưu sonde tiểu.
Diễn tiến hậu phẫu ổn định bệnh nhân được rút sonde tiểu ngày thứ 10, xuất viện ngày thứ 12.

Tác giả bài viết: Bs Ngô Xuân Lộc -Khoa Ngoại Tổng Hợp
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Tin mới

Điện thoại nóng
Kiểm tra kỹ năng thực hành máy tính trước khi ký hợp đồng Bệnh viện
Thông báo đấu giá tài sản: Quyền thuê mặt bằng kinh doanh dịch vụ Nhà để xe tại Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên
Thông báo Chương trình khám sàng lọc tim bẩm sinh
Thư khen cảm ơn y bác sỹ hai khoa
THỦNG MÀNG NHĨ DO CHẤN THƯƠNG
NGƯNG HÔ HẤP TUẦN HOÀN DO ĐỢT CẤP BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
BÁO CÁO CA BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE NẶNG THÀNH CÔNG
CHĂM SÓC BỆNH NHÂN TẠI PHÒNG HỒI TỈNH, HỒI SỨC SAU PHẪU THUẬT
“ BỔ DƯƠNG HOÀN NGŨ THANG” BÀI THUỐC QUÝ TRONG ĐIỀU TRỊ DI CHỨNG VẬN ĐỘNG SAU ĐỘT QUỴ
BỆNH NHÂN THÔNG THÁI
THUẬT NGỮ, ĐỊNH NGHĨA, CÁCH ĐO ĐẠC ĐỂ MÔ TẢ CÁC ĐẶC ĐIỂM SIÊU ÂM CỦA NỘI MẠC TỬ CUNG VÀ CÁC TỔN THƯƠNG TRONG LÒNG TỬ CUNG
VẤN ĐỀ CHẨN ĐOÁN VÀ TẦM SOÁT UNG THƯ TUYẾN TIỀN LIỆT
PHÁT ĐỘNG CHIẾN DỊCH NHẮN TIN ỦNG HỘ BỆNH NHÂN UNG THƯ
KHOA CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN TRIỂN KHAI PHẪU THUẬT NỘI SOI KHỚP VAI
MỘT SỐ DẤU ẤN SINH HỌC TRONG ĐÁNH GIÁ KHỐI U BUỒNG TRỨNG
TÌNH HÌNH THU DUNG ĐIỀU TRỊ BỆNH SXHD TẠI KHOA TRUYỀN NHIỄM BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN
VIÊM TRONG BỆNH PHỔI TẮC NGHẼN MẠN TÍNH
Thư cảm ơn BN Nguyễn Khắc Trung
CẬP NHẬT ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TUÝP 2 THEO HƯỚNG DẪN ĐIỀU TRỊ MỚI ADA 2019, ESC 2019
Viêm màng não tăng bạch cầu ái toan

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 77
  • Khách viếng thăm: 33
  • Máy chủ tìm kiếm: 44
  • Hôm nay: 5460
  • Tháng hiện tại: 126099
  • Tổng lượt truy cập: 7261979
Cuộc thi trắc nghiệm Tìm hiểu 90 năm lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang