bvvtn

HIỆU QUẢ GÂY TÊ TỦY SỐNG BẰNG LEVOBUPIVACAINE PHỐI HỢP MORPHINE TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI KHỚP GỐI

Đăng lúc: Thứ năm - 29/08/2019 16:08 - Người đăng bài viết: admin
HIỆU QUẢ GÂY TÊ TỦY SỐNG BẰNG LEVOBUPIVACAINE PHỐI HỢP MORPHINE TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI KHỚP GỐI

HIỆU QUẢ GÂY TÊ TỦY SỐNG BẰNG LEVOBUPIVACAINE PHỐI HỢP MORPHINE TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI KHỚP GỐI

Gây tê tủy sống là phương pháp vô cảm được áp dụng phổ biến trong phẫu thuật nội soi khớp gối. Sự phối hợp levobupivacaine và opioids có tác dụng kéo dài thời gian giảm đau, giảm liều thuốc tê mà không làm tăng các tác dụng không mong muốn

TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Gây tê tủy sống là phương pháp vô cảm được áp dụng phổ biến trong phẫu thuật nội soi khớp gối. Sự phối hợp levobupivacaine và opioids có tác dụng kéo dài thời gian giảm đau, giảm liều thuốc tê mà không làm tăng các tác dụng không mong muốn.

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của phương pháp gây tủy sống với Levobupivacaine phối hợp Morphine trong phẫu thuật nội soi khớp gối.
Phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng không mù trên 187 bệnh nhân phẫu thuật nội soi khớp gối với gây tê tủy sống. Bệnh nhân được chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm; nhóm LM: Levobupivacaine 0,5% 8 mg phối hợp Morphine 100 µg; nhóm LF: Levobupivacaine 0,5% 8 mg phối hợp Fentanyl 20 µg. Hiệu quả giảm đau trong và sau mổ, thời gian ức chế vận động, các tác dụng phụ của phương pháp được đánh giá trong mổ và 24 giờ đầu sau mổ.
Kết quả: Tất cả bệnh nhân đều đạt cảm tốt trong mổ. Không sự khác biệt về hiệu quả giảm đau và ức chế vận động sau mổ giữa hai nhóm. Thời gian giảm đau sau mổ của nhóm nghiên cứu dài hơn nhóm chứng ý nghĩa thống kê: 24.8 ± 2.22 giờ so với 18.1 ± 1.76 giờ. Không sự khác biệt về tác dụng phụ giữa 2 nhóm nghiên cứu.
Kết luận: Gây tê tủy sống phối hợp Levobupivacaine 0,5% 8 mg Morphine 100 µg trong phẫu thuật nội soi khớp gối đạt hiệu quả giảm đau tốt, kéo dài thời gian giảm đau sau mổ và không tăng tác dụng phụ.
Từ khóa: Gây tủy sống, Morphine tủy sống, giảm đau sau mổ, phẫu thuật nội soi khớp gối.

ABSTRACT

EFFICACY OF SPINAL ANESTHESIA USING LEVOBUPIVACAINE AND MORPHINE IN KNEE ARTHROSCOPIC SURGERY
Bui Ngoc Duc, Bui Duc Cuong, Ngô Đức Khởi
                                                    * Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Vol.23 – No 4 – 2019: 111 - 117
Background: Spinal anesthesia is commonly used in knee arthroscopic surgery. Using levobupivacaine and opioids have a long-lasting effect on pain relief, reducing the dose of anesthetic without increasing unwanted effects.
Objective: To evaluate the efficacy and safety of the spinal anesthesia using Levobupivacaine and Morphine in knee arthroscopic surgery.
 Methods: Randomized clinical trial studies with non-blind control groups in 187 patients undergoing knee arthroscopic surgeries under spinal anesthesia. Patients were randomly allocated to two groups; group LM: received levobupivacaine 0.5% 8 mg combined Morphine 100 µg; group LF: received levobupivacaine 0.5% 8 mg combined Fentanyl 20 µg. Effective analgesia during and after surgery, side effects of each method were recorded during operation and within the first 24 hours postoperation.     Results: All of patients got adequate anesthesia for surgery. There were no differences in effective analgesic and inhibiting motor post-surgery between two groups. The duration of completed analgesia was statistically different between 2 groups: 24.8 ± 2.22 hours compare to 18.1 ± 1.76 hours. There were no differences in side effects betweeen 2 groups.
 Conclusion: The spinal anesthesia using Levobupivacaine 0.5% 8 mg and Morphine 100 µg for knee arthroscopic surgery was good analgesic effect, prolonged duration of postoperative analgesia and postoperation without increasing side effects.
Key words: Spinal anesthesia, intrathecal Morphine, postoperative analgesia, knee arthroscopic surgery.

* Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên
Tác giả liên lạc: BsCKII. Bùi Ngọc Đức   
ĐT: 0914072762  Email: buingocduc2g@yahoo.com.vn
 
ĐẶT VẤN ĐỀ
Gây tê tủy sống là phương pháp vô cảm được áp dụng phổ biến trong phẫu thuật nội soi khớp gối.
Sự kết hợp thuốc tê và opioid làm tăng tác dụng giảm đau, kéo dài thời gian giảm đau sau mổ và giảm được liều, giảm tác dụng phụ của mỗi thuốc.
Morphine là thuốc ít tan trong mỡ, ít gắn protein, nên khi tiêm vào tủy sống sẽ chậm thải trừ và có tác dụng giảm đau kéo dài.
Vào những năm gần đây levobupivacaine, một hoạt chất đối phân S (-) thuần khiết của bupivacain, xuất hiện như một lựa chọn an toàn hơn các chất  đồng phân trong thực hành gây tê vùng(3).
Các nghiên cứu dược lực học cho thấy levobupivacaine có ái lực kém hơn cũng như mức độ ức chế các cơ quan trọng yếu như thần kinh trung ương và cơ tim yếu hơn bupivacain. Trong thực hành, levobupivacaine và bupivacain có tác dụng giảm đau như nhau(2). Tuy nhiên, sự phục hồi vận động sau gây tê tủy sống của levobupivacaine sớm hơn so với bupivacaine(1).
Ở Việt Nam, đã có nhiều nghiên cứu gây tê tủy sống phối hợp levobupivacaine và opioids. Tuy nhiên, không có nhiều nghiên cứu phối hợp levobupivacaine và morphine cho phẫu thuật nội soi khớp gối. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm trả lời câu hỏi liệu phối hợp levobupivacaine và morphine có kéo dài thời gian giảm đau sau mổ so với phối hợp levobupivacaine và fentanyl không?

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có nhóm chứng không mù
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật nội soi khớp gối tại khoa phẫu thuật - gây mê hồi sức, bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên từ tháng 01/2018 đến 8/2018.
Kỹ thuật chọn mẫu
Tiêu chuẩn chọn bệnh
ASA I, II
Tuổi 18-60
Phẫu thuật chương trình nội soi khớp gối.
Tiêu chuẩn loại trừ
Không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Bệnh nhân  có  chống chỉ định gây tê tủy sống.
Chúng tôi tiến hành trên 178 bệnh nhân được lựa chọn chia ngẫu nhiên thành 2 nhóm thực hiện gây tê tủy sống:
Nhóm LM: Levobupivacaine 0,5% 8 mg phối hợp Morphine 100 μg.
Nhóm LF: Levobupivacaine 0,5% 8 mg phối hợp Fentanyl 20 μg.
Phương Pháp tiến hành
Thăm khám tiền mê, kiểm tra các xét nghiệm tiền thường qui trước mổ.
Đặt đường truyền tĩnh mạch ngoại biên bằng kim 18G, truyền dung dịch Natri Cloride 0,9% 10 ml/kg trước khi vào phòng mổ.
Đặt các điện cực theo dõi ECG, đo huyết áp, SpO2 trước khi gây tê.
Thở oxy qua cannula mũi 2-3 l/phút.
Đặt BN tư thế nằm nghiêng bên chân cần mổ, mốc chọc dò là khoảng liên đốt L3-4.
Chọc dò tủy sống với kim tê tủy sống 27G.
Thuốc bơm vào tủy sống theo kết quả bóc thăm trên phiếu.
Theo dõi BN
Theo dõi trong mổ
Theo dõi liên tục: mạch, huyết áp, nhịp thở, SpO2 trước gây tê và sau gây tê ở phút thứ 5, 10, 15, 20, 25, 30, 35, 40 và khi kết thúc phẫu thuật theo trình tự được ký hiệu tương ứng là T0,T5, T10, T15, T20, T25, T30, T35, T40 và Tmx.
Các chỉ tiêu đánh giá:
 Thời gian ức chế cảm giác đến T10
Là thời gian tính từ khi bơm thuốc tê vào khoang dưới nhện đến khi bệnh nhân mất cảm giác đau đến T10, dựa theo sơ đồ phân phối của Scott – DB được tính bằng phút.
Thời gian giảm đau
Là thời gian từ khi mất cảm giác đau ngang mức T10 đến khi xuất hiện cảm giác đau trở lại khi châm kim ở mức này, tính bằng phút.
Mức độ giảm đau trong mổ
Đánh giá mức độ giảm đau cho cuộc mổ dựa vào thang điểm Abouleizh và được chia ra 3 mức độ:
Tốt: bệnh nhân hoàn toàn không đau.
Trung bình: bệnh nhân còn đau nhẹ nhưng chịu được, và phải dùng thêm thuốc giảm đau.
Kém: bệnh nhân dùng thuôc giảm đau nhưng không kết quả, phải chuyển sang phương pháp vô cảm khác như gây mê tĩnh mạch, gây mê NKQ.
Mức độ ức chế vận động
Là đánh giá ở các mức thời gian từ lúc bơm thuốc tê vào khoang dưới nhện đến khi liệt vận động chi dưới theo thang điểm của Bromage.
Chúng tôi chỉ đánh giá liệt vận động mức M1 (không nhấc chân duỗi thẳng lên khỏi mặt bàn), vì sau đó bệnh nhân đã được sát trùng và trải săng để mổ.
Thời gian giảm đau sau mổ
Là thời gian từ khi mổ xong đến thời điểm bệnh nhân bắt đầu có nhu cầu dùng thuốc giảm đau sau mổ (thời gian giảm đau toàn bộ) tương đương với thang điểm VAS ≥ 4 điểm được tính bằng giờ. Đánh giá mức độ đau bằng thước đo điểm đau VAS 2h/lần trong 24 giờ sau mổ.
Các tác dụng không mong muốn: Tụt huyết áp, buồn nôn-nôn, run, đau đầu, ngứa, bí tiểu;

KẾT QUẢ
Đặc điểm chung

Bảng 1: Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
ĐẶC ĐIỂM Nhóm LM (n = 91)
X  ± SD
Nhóm LF (n = 87)
X  ± SD
p
Giới (%) Nữ 53 (58.2) 44 (50.6) 0.3
Nam 38 (41.8) 43 (49.4)
Tuổi (năm) 37.6 ± 11.7 38.5 ± 11.0 0.58
Chiều cao (cm) 163 ± 0.07 161 ± 0.07 0.15
Cân Nặng (kg) 58.9 ± 8.3 57.8 ± 8.4 0.37
Lượng dịch truyền 1094.5 ± 118.66 1102.3 ± 121.02 0.66
Liều ephedrin 15.6 ± 1.29 16.7 ± 1.53 0.23
 
Không sự khác biệt về giới, tuổi, cân nặng, chiều cao, lượng dịch truyền và lượng ephedrine sử dụng (p > 0,05)
 Đặc điểm gây tê
Bảng 2: Thời gian ức chế cảm giác giữa 2 nhóm
 
Thời gian ( T) Nhóm LM
(n = 91)
X  ± SD
Nhóm LF
(n = 87)
X  ± SD
p
 
T từ lúc gây tê đến lúc có cảm giác tê (phút)
       
T12 2.4 ± 0.67 2.5 ± 0.69 0.72
T10 3.7 ± 0.60 3.8 ± 0.68 0.42
 
 
T vô cảm (phút)
T12 170.2 ± 10.68 169.7 ± 10.64 0.8
T10 127.8 ± 12.97 124.4 ± 14.68 0.1
Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p> 0,05) giữa 2 nhóm
Bảng 3: Thời gian ức chế vận động giữa 2 nhóm
Thời gian (T)
(phút)
Nhóm LM
(n = 91)
X  ± SD
Nhóm LF
(n = 87)
X  ± SD
p
T từ lúc tê đến lúc  ƯCVĐ mức M1 4.7 ± 1.06 4.5 ± 1.03 0.41
T ƯCVĐ mức M1 147.9 ± 12.80 148.5 ± 9.60 0.74
Thời gian ức chế vận động mức M1 ở hai nhóm khác nhau không có ý nghĩa thống kê
Bảng 4: Mức độ giảm đau trong mổ
Giảm đau trong mổ Nhóm LM (n = 91)
n (%)
Nhóm LF (n = 87)
n (%)
p
Tốt 85 (93.4) 76 (87.4)  
0.17
Trung bình 6 (6.6) 11 (12.6)
Kém 0 0
Giảm đau trong mổ mức độ tốt ở nhóm LM cao hơn ở nhóm LF nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê.

Hiệu quả giảm đau 24 giờ đầu sau mổ

Bảng 5: Thời gian giảm đau sau mổ
Thời gian (T)
(giờ)
 
Nhóm LM (n = 91)
X  ± SD
Nhóm LF (n = 87)
X  ± SD
p
TG Giảm đau SM 24.8 ± 2.22 18.1 ± 1.76 0.001
Nhóm LM có hiệu quả giảm đau sau mổ lâu hơn ở nhóm LF, có ý nghĩa thống kê (p = 0.001).
Bảng 6: Tác dụng phụ không mong muốn
Tác dụng phụ Nhóm LM (n = 91)
n (%)
Nhóm LF (n = 87)
n (%)
p
Tụt huyết áp 6 (6.6) 10 (11.5)  
 
0.88
Nôn, buồn nôn 8 (8.8) 5 (5.7)
Run 3 (3.3) 3 (3.4)
Đau đầu 1 (1.1) 2 (2.3)
Ngứa 4 (4.4) 2 (2.3)
Bí tiểu 4 (4.4) 3 (3.4)
Không có sự khác biệt về tác dụng phụ giữa 2 nhóm nghiên cứu.

BÀN LUẬN

Về đặc điểm vô cảm
Thời gian ức chế cảm giác đau ở mức T10
Do nghiên cứu phẫu thuật nội soi khớp gối thuộc vùng chi dưới nên chúng tôi lấy mức T10 (ngang rốn) làm mốc.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 2 cho thấy thời gian tiềm tàng ức chế cảm giác đau ở mức T10 của các bệnh nhân ở nhóm LM: là 3.7 ± 0.60 phút và ở nhóm LF là 3.8 ± 0.68 phút.
Thời gian tiềm tàng ức chế cảm giác đau tại mức T10 của nhóm LM ngắn hơn nhóm LF và sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. (p > 0,05)
Kết quả của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của Đỗ Văn Lợi từ 2 - 6 phút(8).
Như vậy, khi phối hợp levobupivacaine với morphin hoặc levobupivacaine kết hợp với fentanyl GTTS để mổ nội soi khớp gối, thời gian tiềm tàng ức chế cảm giác đau ngắn, sau gây tê 5 phút có thể tiến hành phẫu thuật, mức cho phép mà không ảnh hưởng tới bệnh nhân và phẫu thuật.
Trong nghiên cứu của chúng tôi thời gian vô cảm được tính từ khi mất cảm giác đau ở mức T10 đến khi xuất hiện cảm giác đau ở mức này (theo phương pháp Pink - prick).
Kết quả của chúng tôi ở bảng 2 cho thấy tại mức T10:
Nhóm LM: trung bình 127.8 ± 12.97 phút
Nhóm LF: trung bình 124.4 ± 14.68 phút
Sự khác nhau này không có ý nghĩa thống kê
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự với kết quả của Hoàng Xuân Quân(11), Đỗ Văn Lợi(8). Với thời gian vô cảm như trên hoàn toàn đủ cho phẫu thuật chi dưới.
Mức độ giảm đau trong mổ
Nghiên cứu của chúng tôi ở bảng 4 có kết quả mức độ vô cảm tốt: nhóm LM là 93.4%, nhóm LF là 87.4%
Kết quả của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả Đỗ Văn Lợi, Katsuyki Terajma(7), Hoàng Xuân Quân(11).
Thời gian giảm đau sau mổ
Kết quả ở bảng 5 thì thời gian giảm đau sau mổ của chúng tôi nhóm LM: trung bình 24.8 ± 2.22 giờ, nhóm LF: trung bình 18.1 ± 1.76 giờ. Sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê (p = 0,001)
Thời gian giảm đau sau mổ được tính bắt đầu từ khi mổ xong đến khi bệnh nhân có nhu cầu sử dụng thuốc giảm đau, khi (VAS > 4 điểm). Ở nghiên cứu này chúng tôi theo dõi sau mổ 24 giờ.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi giữa hai nhóm cũng tương tự với nghiên cứu của các tác giả Đỗ Văn Lợi là 24,80 ± 1,09 giờ(8), Hoàng Xuân Quân là 23,39 ± 14,45 giờ(11), Nguyễn Văn Minh, Hồ Khả Cảnh, Trần Văn Phùng, Ngô Dũng là 22,6 giờ(9), Katsuyki Terajima là 24,0 ± 0,2 giờ(7).
Như vậy, khi phối hợp levobupivacaine với morphin trong GTTS có thời gian giảm đau sau mổ kéo dài hơn rất nhiều so với levobupivacaine kết hợp với fentanyl. Morphin là thuốc tan trong mỡ ít nhất trong các thuốc họ morphin, ở trong dịch não tủy morphin phân ly chỉ có một lượng nhỏ thuốc gắn lên receptor phát huy tác dụng. Phần còn lại tồn tại trong dịch não tủy, nên nồng độ morphin trong dịch não tủy giảm rất chậm làm kéo dài thời gian tác dụng. Cowan C.M, Kendall và cộng sự cho thấy sử dụng các opioid kết hợp trong GTTS làm giảm những khó chịu trong mổ nhưng chỉ có diamorphin làm giảm đòi hỏi sử dụng thuốc giảm đau sau mổ(4). Vậy nên GTTS bằng levobupivacaine kết hợp với morphin có thời gian giảm đau sau mổ kéo dài.
Các tác dụng phụ không mong muốn
Tụt huyết áp
Kết quả ở bảng 6 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tụt huyết áp của nhóm LM là: 6.6% và của nhóm LF là: 11.5%.
Từ kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấy tỷ lệ bệnh nhân tụt huyết áp ở nhóm LF (levobupivacaine kết hợp với fentanyl) nhiều hơn so với nhóm LM (levobupivacaine kết hợp với morphin) có thể do fentanyl làm ức chế dây tiền hạch giao cảm và dây giao cảm sâu sắc hơn dẫn đến giãn tụt mạnh huyết áp, giảm lượng máu về tim. Song sự khác biệt về tỷ lệ tụt huyết áp giữa hai nhóm nghiên cứu không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Không có trường hợp nào tụt huyết áp trầm trọng phải hồi sức tích cực. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn kết quả của Trần Thị Hải, Tăng Trần Khôi, Nguyễn Văn Chừng là 30%(5).
Như vậy, nghiên cứu của chúng tôi thấy rằng GTTS phối hợp 0,1mg morphin với 8 mg levobupivacaine để mổ và giảm đau sau mổ nội soi khớp gối không có ảnh hưởng nhiều đến huyết động.
Nôn - buồn nôn
Theo kết quả ở bảng 6 thì tỷ lệ bệnh nhân nôn, buồn nôn của nhóm LM chiếm tỷ lệ 8.8% bệnh nhân và của nhóm LF chiếm tỷ lệ 5.7%.
Có rất nhiều nguyên nhân gây nôn, buồn nôn, việc sử dụng các opioid để gây mê, gây tê và giảm đau sau mổ cũng là một yếu tố nguy cơ(6). Katsuyki Terajima và Hidetaka Onodera nghiên cứu phối hợp 0,2mg morphine với bupivacaine GTTS để mổ lấy thai thấy tỷ lệ nôn, buồn nôn là 14 %(7). Milner AR nghiên cứu GTTS để giảm đau sau mổ bằng 0,1mg morphin có tác dụng phụ nôn, buồn nôn giảm đáng kể so với dùng liều 0,2mg morphine(10).
Tỷ lệ của chúng tôi thấp hơn với kết quả nghiên cứu của các tác giả: Katsuyki Terajima(7), Đỗ Văn Lợi(8).
Run
Theo bảng 6 có tỷ lệ bệnh nhân run:
Nhóm LM có: 1/91 trường hợp, chiếm tỷ lệ 3,3%.
Nhóm LF có: 3/87 trường hợp, chiếm tỷ lệ 3.4%.
Kết quả của chúng tôi thấp hơn với kết quả nghiên cứu của: Trần Thị Hải, Tăng Trần Khôi, Nguyễn Văn Chừng là 18%(5), Hoàng Xuân Quân là 10%(11).
Cơ chế run hiện nay chưa rõ ràng. Khi run xẩy ra chúng tôi xử lý bằng dolargan liều 30mg pha loãng tiêm tĩnh mạch chậm thì triệu chứng sẽ mất đi nhanh chóng.
 Đau đầu
Theo bảng 6 thì bệnh nhân đau đầu sau mổ của nhóm LM chiếm tỷ lệ 1.1% và nhóm LF chiếm tỷ lệ 2.3%.
Nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn với kết quả nghiên cứu của tác giả Hoàng Xuân Quân 4%(11). Nhưng lại thấp hơn nhiều so với tác giả Russell D và cộng sự là 23%(12).
Theo nhiều tác giả nguyên nhân đau đầu sau GTTS là do thay đổi áp lực dịch não tủy hoặc mất dịch não tủy trong quá trình GTTS. Ở nghiên cứu của chúng tôi mức độ đau đầu nhẹ và các bệnh nhân không cần phải điều trị gì tự khỏi trong vòng 48 giờ.
Ngứa
Theo bảng 6 thì tỷ lệ ngứa của hai nhóm nghiên cứu:
Nhóm LM có: 4/91 trường hợp, chiếm tỷ lệ 4.4%, nhóm LF có: 2/87 trường hợp chiếm tỷ lệ 2.3%.
Ngứa chủ yếu ở mặt, mũi, một số ít khác ngứa ở phần trên cơ thể và chỉ thoáng qua, không có trường hợp nào phải điều trị bằng thuốc. Tỷ lệ ngứa ở nhóm LM cao hơn nhóm LF, có thể do morphine gây tăng tiết histamin nên tác dụng như một phản ứng dị ứng.
Kết quả của chúng tôi tương tự kết quả nghiên cứu của các tác giả Đỗ Văn Lợi(8).
Như vậy, việc kết hợp morphine nói riêng hay opioid nói chung trong hỗn hợp GTTS làm xuất hiện ngứa, tác dụng này chỉ thoáng qua và có thể không phải điều trị bằng thuốc nhưng vẫn cần sự quan tâm của người thầy thuốc đối với bệnh nhân.
tiểu
Bí tiểu là biến chứng thường gặp sau GTTS. Theo kết quả nghiên cứu của chúng tôi tại bảng 6 thì bí tiểu ở nhóm LM có tỷ lệ 4.4%, nhóm LF là 3.4% phải đặt sonde thông tiểu.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự với kết quả của Đỗ Văn Lợi dùng 0,15mg morphine gây tê tủy sống gặp 3,3 %(8).

KẾT LUẬN

Qua kết quả nghiên cứu 2 nhóm gồm 178 bệnh nhân GTTS phối hợp thuốc tê levobupivacaine với morphine và levobupivacaine với fentanyl mổ nội soi khớp gối tại Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên chúng tôi thấy:
Hiệu quả của gây tê tủy sống bằng levobupivacaine kết hợp với morphin trong phẫu thuật nội soi khớp gối:
  • Hiệu quả vô cảm tốt, kéo dài, đảm bảo cho phẫu thuật nội soi khớp gối diễn ra thuận lợi.
  • Thời gian giảm đau sau mổ của nhóm phối hợp với morphine dài hơn nhóm phối hợp với fentanyl
Tác dụng không mong muốn:
        - Ảnh hưởng lên HA không nhiều, không làm ảnh hương đối với tim, không gây ức chế và ảnh hưởng nhiều tới hô hấp.
       - Tác dụng phụ như nôn - buồn nôn, ngứa, đau đầu, run, bí tiểu không đáng kể, tỷ lệ giữa hai nhóm không có sự khác biệt.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.         Akcaboy EY (2011) "Low dow Levobupivacain with Fentanyl in spinal anaesthesia for transurethral resection of prostate surgery". J Res Med Sci, pp. 68 – 73.
2.         Begin A, Ozgun, A (2012) "Comparison of levobupivacain alon and in combination with fentanyl and sufentanyl in patients undergoing transurethral resection of the prostate". Journal of Rescarch In Medical Sciences
3.         Carpenter RL, Caplan, RA, Brown, DL (1992) "Incidence and risk factors for side effects of spinal anesthesia". Anesthesiology, 76 (6), pp. 906 - 916.
4.         Cowan C.M, Kendall, Barclay and Wlikes (2002) "Comparison of intrathecal Fentanyl and Diamorphin in addition to Bupivacain for caesarean section under spinal anaesthesia". British Journal of Anaesthesia, 89 (3), pp.452 – 458.
5.         Trần Thị Hải, Tăng Trần Khôi, Nguyễn Văn Chừng (2006) "Đánh giá hiệu quả của gây tê tuỷ sống bằng hỗn hợp Marcain và Fentanyl trên bệnh nhân mổ vùng bụng dưới". Y học TP Hồ Chí Minh, Tập 10 Tr 95- 101.
6.         Nguyễn Trọng Kính (2002) So sánh tác dụng gây tê dưới màng nhện bằng Bupivacain liều thấp kết hợp Fentanyl liều thông thường trong phẫu thuật vùng bụng dưới và chi dưới trên bệnh nhân cao tuổi, Luận văn thạc sỹ y khoa, Học Viện Quân y.
7.         Katsuyki Terajima, Hidetaka, Onodera, Masao, Kobayashi, Hiroko, Yamanaka, Takashi, Ohno, Swiichi, Konuma and Ruo Ogawa (2003) "Efficacy of Intrathecal Morphine for Analgesia Following Elective Caesarean Section: comparison with Previous Delivery". J Nippon Med Sch 70 (4).
8.         Đỗ  Văn Lợi (2007), “Nghiên cứu phối hợp Bupivacain với Morphin hoặc Fentanyl trong gây tê tuỷ sống để mổ lấy thai và giảm đau sau mổ”, Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường đại học Y Hà nội.
9.         Nguyễn Văn Minh, Hồ Khả Cảnh, Trân Văn Phùng, Ngô Dũng (2006) "Nghiên cứu tác dụng giảm đau sau mổ của Morphin tuỷ sống trong mổ lấy thai". Y học thực hành.
10.       Milner AR, Bogod, DG, Harwood, RJ (1997) "Intrathecal administration of morphine for elective caesarean section. A comparison between 0.1mg and 0.2 mg". Anaesthesia 52 (3), 278.
11.       Hoàng Xuân Quân (2006) Đánh giá tác dụng gây tê tuỷ sống bằng Bupivacain 0,5% kết hợp Morphin trong phẫu thuật bụng dưới và chi dưới, Luận văn thạc sỹ y học, Học viện Quân y.
12.       Russell D, Duncan, LA, Frame, WT, Higgins, SP, Asbury, AJ, Millar, K (1996) "Patient-controlled analgesia with morphine and droperidol following caesarean section under spinal anaethesia". Acta Anaesthesiol Scand 40, pp.600 – 605.
Tác giả bài viết: BS.CK2 Bùi Ngọc Đức, Bùi Đức Cường, Ngô Đức Khởi, Khoa PTGMHS

Ý kiến bạn đọc

 

Tin mới

Điện thoại nóng
PHÁC ĐỒ SXHD TRẺ EM
BỆNH BẠCH HẦU
DÒ BÀNG QUANG – ÂM ĐẠO NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP
Sốt rét ở phụ nữ mang thai Các tiếp cận mới và lồng ghép vào chương trình chăm sóc trước sinh
ĐIỀU TRỊ UNG THƯ THANH QUẢN GIAI ĐOẠN SỚM (GIAI ĐOẠN I, II)
CHẢY MŨI Ở TRẺ EM
Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên đạt giải nhất Hội thi sân khấu hóa “Đổi mới phong cách, thái độ của cán bộ y tế, hướng tới sự hài lòng của người bệnh”
HIỆU QUẢ GÂY TÊ TỦY SỐNG BẰNG LEVOBUPIVACAINE PHỐI HỢP MORPHINE TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI KHỚP GỐI
BÀN CHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG VÀ CÁCH PHÒNG NGỪA
Nhân trường hợp trẻ sơ sinh mắc bệnh Sốt xuất huyết Dengue điều trị tại khoa Hồi sức cấp cứu nhi và Nhi sơ sinh
TRỊ LIỆU OXY CAO ÁP ( Hyperbaric Oxygen Therapy: HBOT )
Tổng hợp các hệ thống phân chia giai đoạn ung thư biểu mô tế bào gan (Phần 4: Hệ thống GRETCH)
Tổng hợp các hệ thống phân chia giai đoạn ung thư biểu mô tế bào gan (Phần 5: Chỉ số tiên lượng của Đại học Trung Hoa - CUPI)
CƠ SỞ KHOA HỌC CHỨNG MINH HIỆU QUẢ GIẢM ĐAU CỦA PHƯƠNG PHÁP CHÂM CỨU
Thông báo chương trình " Trái tim cho em"
Thông báo mời thầu : Gói thầu mua sắm thuốc Generic 2
Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên phẫu thuật thay khớp háng thành công cho cụ già 104 tuổi
Phẫu thuật mắt miễn phí tại Bệnh viện đa khoa vùng Tây Nguyên
Thông báo mời thầu: Gói thầu mua sắm thuốc biệt dược
Tổng hợp các hệ thống phân chia giai đoạn ung thư biểu mô tế bào gan (Phần 3: Phân loại Barcelona)

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 57
  • Hôm nay: 5139
  • Tháng hiện tại: 111111
  • Tổng lượt truy cập: 7028566
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang