KHÁNG ĐÔNG QUANH PHẪU THUẬT/ THỦ THUẬT

Đăng lúc: Thứ hai - 24/07/2017 05:13 - Người đăng bài viết: admin
KHÁNG ĐÔNG QUANH PHẪU THUẬT/ THỦ THUẬT

KHÁNG ĐÔNG QUANH PHẪU THUẬT/ THỦ THUẬT

Trong nhưng thập niên trở lại đây vấn đề sử dụng kháng đông trên những bệnh nhân với bệnh lý tim mạch , rối loạn chuyển hóa , vấn đề sử dụng thuốc chống đông ở những bệnh nhân lớn tuổi nằm bất động lâu ngày để phòng chống thuyên tắc càng được sử dụng nhiều và chỉ định rộng rãi trong nội khoa vì vậy việc phẫu thuật cho những nhóm bệnh nhân này cần rất được quan tâm và cân nhắc trong công tác ngoại khoa , đặc biệt là trong phẫu thật gây mê hồi sức.
ĐẶT VẤN ĐỀ:
 
Trong nhưng thập niên trở lại đây vấn đề sử dụng kháng đông trên những bệnh nhân với bệnh lý tim mạch , rối loạn chuyển hóa , vấn đề sử dụng thuốc chống đông ở những bệnh nhân lớn tuổi nằm bất động lâu ngày để phòng chống thuyên tắc càng được sử dụng nhiều và chỉ định rộng rãi trong nội khoa vì vậy việc phẫu thuật cho những nhóm bệnh nhân này cần rất được quan tâm và cân nhắc trong công tác  ngoại khoa , đặc biệt là trong phẫu thật gây mê hồi sức. Việc phải phẫu thuật trên những bệnh nhân đang sử dụng kháng đông đòi hỏi bác sỹ phẫu thuật, đặc biệt bác sỹ gây mê hồi sức cần phải nắm rõ , chi tiết để đưa ra chiến lược phẫu thuật cũng như hồi sức tốt cho nhóm bệnh nhân này. Về độ lớn và nghiêm trọng của vấn đề, hiện chưa có số liệu từ Việt Nam nhưng số liệu từ Mỹ cho thấy có khoảng 10% trong số 2,5 triệu người đang dùng kháng đông dài hạn mỗi năm tương ứng với khoảng 250000 người/năm . Vấn đề không chỉ của riêng người bác sỹ tim mạch mà thực sự nó còn liên quan với nhiều ngành như: nội, ngoại khoa, GMHS, bác sỹ gia đình, mắt, da liễu, nha sĩ… Nếu không nắm vững về chiến lược này, chính người bác sỹ sẽ làm tăng chảy máu, thuyên tắc động mạch (ATE),thuyên tắc tĩnh mạch ( VTE) quanh phẫu thuật/thủ thuật và góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong, tàn phế cho bệnh nhân. Một vấn đề đòi hỏi tính trách nhiệm cao và sự am hiểu của thầy thuốc như thế, tuy nhiên qua khảo sát thực tế vài số liệu từ can thiệp y tế tại các nước phát triển cũng cho thông tin không mấy khả quan. Đối với bệnh nhân rung nhĩ đang uống kháng đông lâu dài khi cần can thiệp Phẫu thuật/thủ thuật thì chỉ có 50% bác sỹ dùng  cầu kháng đông cho đối tượng có nguy cơ thuyên tắc cao, trong khi đó trên đối tượng mang van cơ học ngược lại có đến 75% bác sỹ lại dùng cầu kháng đông cho đối tượng có nguy cơ thuyên tắc thấp. Điều này cho thấy các thầy thuốc chúng ta phần nhiều còn dựa vào cảm tính (Bệnh nhân mang van cơ học cứ cho là nguy cơ cao và bệnh nhân rung nhĩ hấu hết đều cho là nguy cơ thấp) mà ít dựa vào phân tầng nguy cơ từ những bằng chứng sẵn có và dẫn đến những xử trí chưa thích hợp. Thực tế thì như vậy, còn về mặt y văn như thế nào? Cho đến thời điểm hiện tại, chúng ta vẫn còn nhiều khoảng trống trong y văn do thiếu các thử nghiệm lâm sàng (TNLS) cung cấp những bằng chứng trực tiếp mà chủ yếu chỉ từ các nghiên cứu quan sát và suy luận từ những bằng chứng gián tiếp trên các đối tượng không liên quan đến Phẫu thuật/thủ thuật (PT/TT). Gần đây, ACCP (American College of Chest Physicians)2012 và EHRA (European Heart Rhythm Association)2013 đã cung cấp những khuyến cáo thực hành mới liên quan đến lĩnh vực này. Đó là những lý do chính khiến chúng ta cùng bàn bạc và cập nhật vấn đề khá quan trọng này.
 
 
NỘI DUNG TIẾP CẬN VẤN ĐỀ:
 
Khi tiếp cận nhóm bệnh nhân đang dùng kháng đông mà phải can thiệp phẫu thuật/ thủ thuât ta cần xác định những vấn đề sau:
* Bệnh nhân đang sử dụng kháng đông phải phẫu thuật /thủ thuật cấp cứu- khẩn (không đủ thời gian để chuẩn bị về mặt kháng đông ) hay phẫu thuật/ thủ thuật chương trình (có đủ thời gian để chuẩn bị kháng đông , ≥5 ngày đối với kháng vitamin K-VKA, ≥1-2 ngày đối với kháng đông mới đường uống-NOAC)?
- Nếu là phẫu thuật/thủ thuật cấp cứu - khẩn, thời điểm phẫu thuật/ thủ thuật dự kiến lúc nào? (dưới hay trên 24 giờ đối với VKA, và thời điểm tại nồng độ đỉnh hay nồng độ đáy đối với NOAC).
 
* Nếu là phẫu thuật/thủ thuật chương trình, chúng ta tuần tự trả lời 3 câu hỏi:
1.Trường hợp nào không cần ngưng kháng đông?
2.Nếu cần ngưng kháng đông, khi nào cần cho cầu kháng đông?
3.Chế độ kháng đông quanh phẫu thuật/thủ thuật cụ thể trên từng nhóm bệnh này như thế nào?
        
A.Phẫu thuật khẩn:
Các phẫu thuật này thường có 2 tính chất là: chảy máu khó kiểm soát nếu hiệu quả kháng đông vẫn còn lúc phẫu thuật , nên đòi hỏi cần đông máu bình thường hoặc gần bình thường và khẩn nên không còn đủ thời gian chuẩn bị bệnh nhân tốt để đưa đông máu về bình thường như yêu cầu. Như vậy người Bác sỹ sẽ làm gì để giúp bệnh nhân trong trường hợp bị động này? Tình trạng đông máu gần bình thường lúc phẫu thuật để hạn chế chảy máu là mục tiêu cần đạt và chúng ta chỉ có 2 cách: một là trì hoãn cuộc phẫu thuật  nếu được cho đến nồng độ đáy của kháng đông (hiệu quả thuốc kháng đông là thấp nhất), nếu không thì hai là trung hòa chủ động tác dụng chống đông của thuốc (chất đối kháng và/hoặc bổ sung yếu tố đông máu từ ngoài vào). Khuyến cáo hiện nay của ACCP 2012 & EHRA 2013 là:
1.Bệnh nhân đang dùng VKA :
·    Trường hợp phẫu thuật khẩn < 24 giờ: Cần cho vitamin K 2-4mg TM cùng với truyền huyết tương tươi đông lạnh (10-15 ml/kg) hoặc phức hợp prothrombin đậm đặc.
·    Trường hợp phẫu thuật bán khẩn có thể trì hoãn > 24 giờ: cho đơn thuần vitamin K 2-4 mg TM.
·    Trong cả 2 trường hợp trên luôn kiểm tra lại INR trước khi quyết định phẫu thuật, nếu cần thiết có thể cho liều lặp lại để điều chỉnh INR < 1.5 nhằm an toàn cho phẫu thuật.
(INR :International Normalized Ratio -chỉ số quốc tế về độ nhạy của thromboplastine được dùng so với thromboplastine chuẩn.
                   TQ của bệnh nhân
INR    =     -------------------------   x   ISI )
                          TQ chứng
 
2.Bệnh nhân đang dùng NOAC (kháng đông mới đường uống ):
·    Ngừng NOAC.
·    Xem xét trì hoãn phẫu thuật ít nhất 12 giờ và lý tưởng 24 giờ sau liều cuối cùng.
·    Đánh giá các xét nghiệm đông máu thường dùng (aPTT cho dabigatran, PT cho ức chế Xa) hoặc những xét nghiệm đông máu chuyên biệt (dTT cho dabigatran;  nếu có những vấn đề về dược động ảnh hưởng hiệu quả kháng đông (như suy thận và/hoặc bệnh đi kèm)
·    Khi không thể trì hoãn phẫu thuật và xét nghiệm cho thấy còn hiệu quả chống đông,( các chất đối kháng NOAC đang còn trong giai đoạn nghiên cứu thực nghiệm ) xử trí hiện tại cần xem xét theo khuyến cáo của EHRA 2013 như trong trường hợp biến chứng chảy máu nặng trên BN dùng NOAC (Hình bên dưới)
 Xử trí biến chứng chảy máu ở BN đang dùng NOAC

 
3. Bệnh nhân dùng thuốc kháng tiểu cầu (Asparin, Clopidogrel..)
Nếu có chảy máu bất thường truyền tiểu cầu.
B. Phẫu thuật/ thủ thuật chương trình:
I.phẫu thuật nào không cần ngưng kháng đông?
 Trên lý thuyết trong hầu hết các phẫu thuật làm tổn thương mô và gây chảy máu, để kiểm soát chảy máu  cần phải ngưng kháng đông. Tuy nhiên việc ngưng kháng đông lại có bất lợi là thay đổi chế độ điều trị bệnh nhân đang dùng và đối phó với nguy cơ thuyên tắc. Trên thực tế các nghiên cứu cho thấy một số phẫu thuật/thủ thuật về răng, mắt, da,.. không làm tăng hoặc tăng không ý nghĩa tỷ lệ chảy máu nhẹ, và chảy máu này hoàn toàn có thể kiểm soát .
Khuyến cáo hiện tại:ACCP 2012 và EHRA 2013 đã đề nghị danh sách các phẫu thuật/thủ thuật không cần ngưng kháng đông đường uống :
 Danh sách các phẫu thuật/thủ thuật không cần ngưng kháng đông đường uống :
 
Can thiệp răng
·    Nhổ 1-3 răng
·    Thủ thuật nha chu
·    Rạch abscess
·    Cấy ghép răng
Mắt
·    Can thiệp thủy tinh thể và nhãn áp
Nội soi không sinh thiết
Thủ thuật nông (rạch abscess, cắt 1 vùng da nhỏ…)
 
II.  Phẫu thuật nào cần ngưng KĐ?
Những phẫu thuật/thủ thuật ngoài danh sách trên là có nguy cơ chảy máu khó kiểm soát và cần ngưng kháng đông để có được đông máu bình thường hoặc gần bình thường lúc phẫu thuật. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là khi ngưng kháng đông và hiệu quả kháng đông dưới ngưỡng điều trị thì  chúng ta phải đối phó thêm với nguy cơ thuyên tắc. do vậy người bác sỹ cần cân nhắc giữa hai vấn đề này. Nếu ngưng kháng đông cho những bệnh nhân nguy cơ thuyên tắc cao cho đến ngày phẫu thuật thì rất nguy hiểm tuy nhiên dùng những thuốc kháng đông mà thời gian bán hủy kéo dài cho đến ngày mổ thì nguy cơ chảy máu rất cao, kiểm soát rất khó khăn thậm chí đe dọa tính mạng do chảy máu ở những phẫu thuật lớn..vì vậy cần thiết phải dùng cầu kháng đông?
1>Với bệnh nhân đang dùng VKA:
*Nếu nguy cơ thuyên tắc huyết khối không quan trọng nhiều, việc thay thế bằng heparin      không phân đoạn và heparin TLPT thấp thì không cần thiết (ví dụ rung nhỉ không có biến chứng thuyên tắc huyết khối, bệnh lý thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch đã trên 3 tháng…)
_Mục tiêu trước mổ đạt INR <1,5 hoặc 1,2 trong phẫu thuật thần kinh.
_Trong tất cả các trường hợp  ngưng VKA 5 ngày trước mổ(VKA có dược động bậc 1, thải trừ thuốc theo quy tắc 50% cho 1 bán hủy (50%, 25%, 12.5%,  6.25%, 3.125%). Như vậy để thải trừ sạch thuốc khỏi cơ thể chúng ta cần khoảng thời gian bằng 4-5 lần thời gian bán hủy của thuốc. Như đã biết, thời gian bán hủy của acenocumaron là 8-11 giờ và warfarin là 36-42 giờ, do đó theo suy luận chúng ta cần ngưng thuốc khoảng 5 ngày để đạt thải trừ sạch thuốc. Và 5 ngày  cũng đủ để phục hồi tình trạng đông máu.)
 
_Kiểm tra INR vào ngày trước mổ, nếu INR > 1,5 , cho uống vitamin K 5 mg và kiểm tra lại INR trước mổ.
_Sau phẫu thuật/thủ thuật, khi nào dùng lại đường uống?
Khuyến cáo ACCP 2012: khi chảy máu đã cầm và BN uống được thì dùng lại kháng đông uống 12-24 giờ sau phẫu thuật /thủ thuật (đêm sau phẫu thuật hoặc sáng ngày tiếp theo)
Thời gian tác dụng đỉnh sau uống thường 2-5 ngày
* Nếu nguy cơ thuyên tắc huyết khối quan trọng thì việc dùng cầu kháng đông là cần thiết(ví dụ như : Rung nhĩ với tiền sử biến chứng thuyên tắc huyết khối, Van tim nhân tạo, Bệnh lý thuyên tắc tĩnh mạch mới dưới 3 tháng..)
Cầu kháng đông là dùng thuốc  kháng đông có thời gian bán hủy ngắn hơn :thường dùng Heparin không phân đoạn hay heparin chẩn(Un Fraction Heparin UFH) hoặc Heparin trọng lượng phân tử thấp((Low Molecular Weight Heparin LMWH) thay thế cho kháng đông đang dùng (thời gian bán hủy dài). Mục đích làm rút ngắn thời gian hồi phục đông máu cho cuộc phẫu thuật.
Khuyến cáo ACCP 2012: dùng liều điều trị cho chế độ cầu kháng đông (liều điều trị cho UFH và LMWH)
    Liều điều trị LMWH và UFH: đã được chứng minh hiệu quả như warfarin trong dự phòng ATE ở những bệnh nhân mang van cơ học, rung nhĩ và điều trị VTE
_Thời gian bắt đầu dùng cầu kháng đông theo khuyến cáo là hiện nay là bắt đầu cầu kháng đông 3 ngày trước mổ, khi đã ngưng VKA được 2 ngày (thường INR < 2)
_Thời gian ngưng cầu kháng đông trước mổ: ·    Khuyến cáo ACCP 2012: LMWH cần ngưng 24g và UHF cần ngưng 4-6g trước phẫu thuật/thủ thuật ( chúng ta cần 5 lần thời gian bán hủy để thải trừ sạch thuốc khỏi cơ thể: LMWH bán hủy 4-5g àcần ngưng trước mổ 20-24g, UHF bán hủy 45-90p àcần ngưng 4-6g.)
_Sau khi phẫu thuật xong thì thời gian dùng lại cầu kháng đông là: Theo khuyến cáo ACCP 2012: cho lại cầu KĐ (LMWH hoặc UFH) tại liều điều trị vào thời điểm 24g sau mổ cho những phẫu thuật có nguy cơ chảy máu không cao48-72g sau mổ cho những phẫu thuật có nguy cơ chảy máu cao.Tuy nhiên chúng ta không được cứng nhắc thời điểm mà không đánh giá BN.
  Chiến lược cầu kháng đông theo nguy cơ chảy máu :
NC chảy máu Cầu KĐ trước mổ Cầu KĐ sau mổ
Thấp Ngưng LMWH liều điều trị 20-24g trước PTàvào N(-1):
•      Ngưng cử tối / CĐ 2 liều
•      Giảm 50% tổng liều/ CĐ 1 liều
LMWH liều điều trị cho lại 24g sau mổ khi cầm máu thích hợp
Cao Ngưng LMWH liều điều trị 20-24g trước PTàvào N(-1):
•      Ngưng cử tối / CĐ 2 liều
•      Giảm 50% tổng liều/ CĐ 1 liều
Trì hoãn LMWH liều điều trị 48-72g sau mổ khi cầm máu đã đảm bảo
±Liều dự phòng LMWH khi cầm máu  đảm bảo
 
_Chuyển tiếp từ cầu kháng đông sang thuốc KVK:
+Khi chuyển cầu kháng đông sang KVK phải tiến hành từ từ , không được ngưng cầu kháng đông ngay sau khi bệnh nhân mới uống liều thuốc KVK đầu tiên..
+Không bắt đầu thuốc KVK với liều cao.
+Thời gian để chuyển từ cầu kháng đông sang KVK ít nhất là 5 ngày.
+Dùng song song cầu kháng đông với thuốc KVK trong 4 ngày. Trong thời gian này kiểm tra thường xuyên aPTT(thời gian Thromboplastin từng phần hoạt hóa) từ 1,5 – 2 lần chứng và INR vào ngày thứ 3
+Chỉ ngưng cầu kháng đông khi 2 lần thử liên tiếp khoảng cách 24 giờ INR đạt được vùng điều trị mong muốn .
2>Đối với BN đang uống KĐ mới (NOAC)
*Nhóm không ngưng kháng đông:
 có thể thực hiện tại nồng độ đáy của NOAC (12-24 giờ sau liều uống cuối cùng, tùy thuộc chế độ 1 hay 2 lần trong ngày). Một cách thực hành hơn là có thể can thiệp phẫu thuật/thủ thuật 18-24 giờ sau liều uống NOAC cuối cùng và sau đó bắt đầu lại sau 6 giờ (ngưng 1 liều ở chế độ NOAC 2 lần/ngày).
*Nhóm ngưng kháng đông-uống lại kháng đông sau phẫu thuật: giống như trường hợp VKA, 2   câu hỏi chúng ta cần trả lời:
Khi nào ngừng NOAC?                                                                       
Những phẫu thuật/thủ thuật cần phải ngưng kháng đông nhưng với nguy cơ chảy máu nhẹ ,ngưng NOAC 24 giờ trước các phẫu thuật/thủ thuật ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường. Đối với các phẫu thuật /thủ thuật có nguy cơ chảy máu nặng ,cần phải ngưng ít nhất 48 giờ. Riêng đối với dabigatran, ở cả 2 nhóm có nguy cơ chảy máu thấp và cao, ngưng thuốc trước PT đòi hỏi lâu hơn tùy vào chức năng thận.
Khi nào bắt đầu lại NOAC?
Những phẫu thuật mà quá trình cầm máu ngay lập tức và hoàn toàn, thì có thể cho lại thuốc 6-8 giờ sau phẫu thuật. Tuy nhiên, đối với nhiều phẫu thuật, cho lại liều kháng đông đầy đủ trong vòng 48-72 giờ sau phẫu thuât/ thủ thuật có thể dẫn đến nguy cơ chảy máu nhiều hơn là nguy cơ thuyên tắc từ tim. Với những phẫu thuật kèm bất động lâu, nên xem xét bắt đầu với giảm liều kháng đông như trong dự phòng  huyết khối tĩnh mạch hoặc chỉ là liều trung gian của heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH) 6-8 giờ sau mổ khi cầm máu đã đạt được, và bắt đầu lại NOAC 48-72 giờ sau phẫu thuật. Hiện tại, không có dữ liệu về tính an toàn và hiệu quả của việc giảm liều NOAC sau mổ (như là sử dụng trong phòng ngừa VTE sau thay khớp gối/háng).
 Thời điểm NOAC sau cùng trước can thiệp, phẫu thuật chương trình:
  Dabigatran Apixaban Edoxaban Rivaroxaban
Không có nguy cơ chảy máu quan trọng và/hoặc có thể cầm máu thích hợp:
Thực hiện can thiệp PT tại thời điểm nồng độ đáy (≥ 12-24 giờ sau liều cuối cùng)
  NC thấp NC cao NC thấp NC cao NC thấp NC cao NC thấp NC cao
CrCL ≥ 80 ml/p ≥ 24 g ≥ 48 g ≥ 24 g ≥ 48 g K0 dliệu K0 dliệu ≥ 24 g ≥ 48 g
CrCl 50-80 ml/p ≥ 36 g ≥ 72 g ≥ 24 g ≥ 48 g K0 dliệu K0 dliệu ≥ 24 g ≥ 48 g
CrCl 30-50 ml/p ≥ 48 g ≥ 96 g ≥ 24 g ≥ 48 g K0 dliệu K0 dliệu ≥ 24 g ≥ 48 g
CrCl 15-30 ml/p K0 cđịnh K0 cđịnh ≥ 36 g ≥ 48 g K0 dliệu K0 dliệu ≥ 36 g ≥ 48 g
CrCl < 15 ml/p Không chỉ định sử dụng
 
3> Kháng tiểu cầu :
Aspirin ngưng 4- 5 ngày với những trường hợp phẫu thuật nguy cơ chảy máu cao như phẫu thuật ung thư, thần kinh
Ngưng clopidogrel 5-7 ngày.   
Cho lại thuốc kháng tiểu cầu sau mổ khi ổn định.
 
                             Phân loại phẫu thuật/thủ thuật theo nguy cơ chảy máu :
Can thiệp với nguy cơ chảy máu thấp
Nội soi với sinh thiết
Sinh thiết tiền liệt tuyến hoặc bàng quang
Khảo sát điện sinh lý hoặc cắt đốt qua catheter nhịp nhanh trên thất (bao gồm đốt bên trái thông qua chọc vách liên nhĩ)
Chụp mạch máu
Đặt máy tạo nhịp hoặc ICD (ngoại trừ có giải phẫu phức tạp như tim bẩm sinh)
Can thiệp với nguy cơ chảy máu cao
Cắt đốt phức tạp bên tim trái (cô lập TM phổi, cắt đốt VT)
Gây tê ngoài màng cứng hoặc tủy sống, chọc tủy sống lưng để chẩn đoán
Phẫu thuật lồng ngực
Phẫu thuật bụng
Phẫu thuật chấn thương chỉnh hình lớn
Sinh thiết gan
Cắt tiền liệt tuyến qua niệu đạo
Sinh thiết thận
 
       Phân tầng nguy cơ thuyên tắc quanh phẫu thuật/thủ thuật cho BN uống KĐ dài hạn :                                 
 Một số thuốc kháng đông đường uống:
  Warfarin Dabigatran Rivaroxaban Apixaban
Đích tác dụng Vitamin K epoxide reductase (giảm các YT ĐM phụ thuộc Vit K) Thrombin Yếu tố Xa Yếu tố Xa
Thời gian đỉnh 72-96 giờ 2 giờ 2.5-4 giờ 3 giờ
Bán hủy 40 giờ 14-17 giờ 5-9 giờ người khỏe
9-13 giờ người già
8-15 giờ
Theo dõi Hiệu chỉnh INR Không cần Không cần Không cần
Cách dùng 1 lần/ngày 2 lần/ngày 1 lần/ngày 2 lần/ngày
Chuyển hóa CYP P450 20% phân, 80% thận 66% phân, 33% thận 75% phân, 25% thận
Tương tác thuốc CYP 2C9, 1A2, 3A4 ức chế bơm proton và ức chế P-gp làm giảm hấp thu ức chế CYP 3A4 ức chế CYP 3A4 giảm hấp thu
 
                                                     Các đặc điểm chính của thuốc KVK :
Tên biệt dược Tên thương mại T1/2 (giờ) Tgian tiềm phục (giờ) Thời gian tác dụng (giờ)
Dẫn xuất coumarine:
    Biscumacetate d’éthyl
    Acenocoumarol
    Warfarine
 
Dẫn xuất indanédione:
    Phénidione
    Fluindione
 
Tromexane®
Sintrom®
Coumadine®
 
 
Pindione®
Previscan®
 
22,5
24
35 – 45
 
 
5 – 10
31
 
24 – 48
24 – 48
36 – 72
 
 
36 – 48
36 - 72
 
 
24 – 48
48 – 96
96 – 120
 
 
24 – 48
48 - 96
 
           
 
KẾT LUẬN:
 
Vấn đề kháng đông quanh phẫu thuật/ thủ thuật là chuyên đề sâu ,rộng  liên quan rất nhiều chuyên khoa đặc biệt là phẫu thuật và gây mê hồi sức , đòi hỏi người Bác sỹ trong nắm rõ từng chi tiết cụ thể về tính chất của phẫu thuật ,về các yếu tố nguy cơ của việc ngưng hoặc không ngưng kháng đông quanh phẫu thuật /thủ thuật. , cần nắm rõ dược lý cũng như cơ chế tác dụng của kháng đông để đưa ra chiến lược hợp lý, chỉ định mổ cũng như hồi sức trong và sau mổ đem lại điều trị tối ưu cho bệnh nhân.
 
 
Tài liệu tham khảo:
1.Cập nhật chiến lược thực hành kháng đông quanh phẫu thuật /thủ thuật - Bs. Nguyễn Thanh Hiền, Bs. Thượng Thanh Phong.
2.Sử dụng thuốc kháng đông liên quan đến gây mê hồi sức- PGS.Ts. Bs. Nguyễn Thị Quý
3. Baron, T. H., P. S. Kamath, et al. (2013), "Management of Antithrombotic Therapy in Patients Undergoing Invasive Procedures", N Engl J Med 368, 2113-2124.
4. D.Duketis, J. and A. C.Spyropoulos (2012), "Perioperative Management of Antithrombotic Therapy: Antithrombotic Therapy and Prevention of Thrombosis, 9th ed: American College of Chest Physicians Evidence-Based Clinical Practice Guidelines", Chest, 141, e326S-e350S.
5. Dunn, A. S., J. Wisnivesky, et al. (2005), "Perioperative Management of Patients on Oral Anticoagulants: A Decision Analysis", Med Decis Making, 25, 387-397.
6. European Heart Rhythm Association (2013), "Practical Guide on the use of new oral anticoagulants in patients with non-valvular atrial fibrillation", Europace, 15, 625-651.
7. Jamula, E., J. Anderson, et al. (2009), "Safety of continuing warfarin therapy during cataract surgery: A systematic review and meta-analysis", Thrombosis Research 124, 292-299.
8.Kaatz S, Douketis JD, et al. (2010), "Risk of stroke after surgery in patients with and without chronic atrial fibrillation", J Thromb Haemost., 8, 884-890.
9. Kaatz, S. and D. Paje (2011), "Update in bridging anticoagulation", J Thromb Thrombolysis, 31, 259-264.
10. Maddali.S (2013), "ICSI health care guideline: antithrombotic therapy"
11. Nematullah, A., A. Alabousi, et al. (2009), "Dental Surgery for Patients on Anticoagulant Therapy with Warfarin: A Systematic Review and Meta-analysis", JCDA, 75, 41a-41i.
12. Palaniswamy, C. and D. R. Selvaraj (2011), "Periprocedural Bridging Anticoagulation: Current Perspectives", American Journal of Therapeutics 18, e89-e94.
Tác giả bài viết: BS.Trần Chí Hiếu-Khoa PT GMHS

Ý kiến bạn đọc

 
Điện thoại nóng
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP VIÊM MÀNG NÃO MỦ DO LIÊN CẦU LỢN (STREPTOCOCCUS SUIS)
Kết quả kiểm tra chất lượng bệnh viện 6 tháng đầu năm 2017
BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP NHIỄM TRÙNG HẬU SẢN NẶNG DO SANH THƯỜNG TẠI NHÀ
VIÊM MÀNG NÃO TĂNG BẠCH CẦU ÁI TOAN
Nhân một trường hợp bệnh nhân mắc bệnh Whitmore (Melioidosis) tại khoa Nội Tổng Hợp
Bóc tách động mạch chủ
UNG THƯ THỰC QUẢN
GÂY MÊ TRÊN BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯỜNG
Báo cáo trường hợp trẻ bỏ rơi
Thông báo kết quả kiểm tra vi sinh 6 tháng cuối năm 2016
LỊCH SỬ RA ĐỜI NGÀY RỬA TAY THẾ GIỚI 15/10 VÀ VAI TRÒ CỦA RỬA TAY THƯỜNG QUY TẠI BỆNH VIỆN
NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN
ĐẠI HỘI CHI HỘI ĐIỀU DƯỠNG
BỔ SUNG CÁC YẾU TỐ VI LƯỢNG TRONG THAI KỲ
Khoa Răng Hàm Mặt sánh bước cùng Operation Smile Việt Nam tại Bệnh viện tỉnh Đăk Lăk
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP BỆNH NHÂN ĐƯỢC VÁ SỌ TỰ THÂN TRÁN 2 BÊN TẠI KHOA NGOẠI THẦN KINH
VẤN ĐỀ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TĂNG SINH LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT
Hướng dẫn điều trị tăng Kali máu cấp ở người trưởng thành 2016
HO GÀ –BỆNH DỄ LÂY LAN Ở TRẺ EM
GIỚI THIỆU VỀ CT SCANNER 64 SLICE SIEMENS DIFINITION AS TẠI BVĐK TỈNH ĐĂKLĂK

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 40
  • Hôm nay: 3802
  • Tháng hiện tại: 84531
  • Tổng lượt truy cập: 2878515
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang