MỐI LIÊN QUAN GIỮA THUỐC ỨC CHẾ BƠM PROTON (PPI) VỚI CHỨNG MẤT TRÍ NHỚ

Đăng lúc: Thứ năm - 21/07/2016 22:52 - Người đăng bài viết: admin
MỐI LIÊN QUAN GIỮA THUỐC ỨC CHẾ BƠM PROTON (PPI) VỚI CHỨNG MẤT TRÍ NHỚ

MỐI LIÊN QUAN GIỮA THUỐC ỨC CHẾ BƠM PROTON (PPI) VỚI CHỨNG MẤT TRÍ NHỚ

Các nhà khoa học đã thực hiện các nghiên độc lập theo phân nhóm đối với ba PPI được sử dụng thông dụng nhất trong kê đơn (Pantoprazol, Omeprazol, Esomeprazol), từ đó tìm thấy những kết quả tương tự nhau xác nhận mối liên quan giữa chúng với việc tăng nguy cơ mất trí nhớ tuổi già.
Để kiểm tra tác động của thời hạn sử dụng PPI, các nhà nghiên cứu đã phân tích việc sử dụng thường xuyên (là việc kê từ sáu đơn điều trị trong khoảng thời gian nhất định). Họ tìm thấy một tỷ lệ thấp hơn đối với trường hợp sử dụng không thường xuyên (HR 1.16, khoảng tin cậy 95%, 1.13 – 1.19).
Nguy cơ giảm sút trí tuệ với việc sử dụng PPI giảm dần theo tuổi tác, với tỉ lệ HR cao nhất trong số những người ở độ tuổi 75-79 tuổi. Trầm cảm và đột quỵ cũng có mức ảnh hưởng thấp hơn khi độ tuổi tăng “Điều này có thể phản ánh sự giảm ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài và bên trong về sự tiến triển bệnh mất trí nhớ với tuổi tác, có thể là do thời điểm bắt đầu khởi bệnh”, các tác giả viết.
Các nhà nghiên cứu cũng không biết chắc rằng cách sử dụng PPI có thể làm tăng nguy cơ mất trí nhớ hay không. Bằng chứng cho thấy một số PPI có thể vượt qua hàng rào máu não và tương tác với các enzyme ở não của chuột, có thể làm tăng nồng độ amyloid beta trong não.
Mặc dù nghiên cứu này không bao gồm nồng độ vitamin B12, nhưng các nghiên cứu khác đã cho thấy có sự liên quan giữa sử dụng PPI với sự thiếu hụt vitamin B12, đã được chứng minh là có liên quan với sự suy giảm nhận thức, Tiến sĩ Haenisch lưu ý.
Kết quả nghiên cứu mới này trùng với kết quả của nhóm nghiên cứu trước đó là:the German Study on Aging, Cognition and Dementia in Primary Care Patients (AgeCoDe). Nghiên cứu đó bao gồm 3.327 bệnh nhân cùng cộng đồng dân số ở độ tuổi từ 75 tuổi trở lên, cũng tìm thấy mối liên quan giữa sử dụng PPI và mất trí nhớ, với HR là 1,38 (CI 95%, 1,04-1,84).
Bởi vì những dữ liệu được sử dụng trong các nghiên cứu hiện nay thiếu các thông tin cá nhân về xã hội nên các nhà nghiên cứu không thể đánh giá phân tích dựa trên trình độ văn hóa học vấn.
 “Đây là một hạn chế của nghiên cứu mà đã được tính đến khi diễn giải kết quả” Tiến sĩ Haenisch nhận xét. “Trong nghiên cứu AgeCoDe trước, chúng tôi đã có thể bao gồm trình độ văn hóa vào việc phân tích và nó không ảnh hưởng nhiều đến kết quả.”
Cũng không giống như các nghiên cứu trước đó, nghiên cứu hiện tại không đánh giá ảnh hưởng của trạng thái APOE 4 (Apolipoprotein E trong não và có liên quan đến nguy cơ mắc bệnh Alzheimer). Theo Tiến sĩ Haenisch, có một số lựa chọn thay thế cho PPI để điều trị rối loạn tiêu hóa ở người già, bao gồm các thuốc kháng thụ thể H2, prostaglandin và các thuốc kháng acid. Ông cũng nhấn mạnh rằng nghiên cứu chỉ cung cấp một liên hệ thống kê giữa PPI được kê đơn và sự xuất hiện của chứng mất trí, mà không chứng minh rằng PPI gây mất trí nhớ. Để đánh giá mối quan hệ nhân-quả, cần phải tiến hành thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên trong tương lai.
 
Sự gia tăng bệnh mất trí nhớ
 
Trong một tài liệu nghiên cứu của mình, Tiến sĩ bác sĩ Lewis H. Kuller, Đại học Pittsburgh, Pennsylvania (Mỹ) lưu ý rằng: ngay cả khi nguy cơ giảm sút trí tuệ gia tăng tương đối nhỏ, cũng có thể khiến nhiều người mắc bệnh mất trí nhớ. Ví dụ: 1,4 lần nguy cơ gia tăng sẽ làm tăng tỷ lệ mắc của chứng mất trí từ 6,0% lên đến khoảng 8,4% mỗi năm. Tại Hoa Kỳ, có 13,5 triệu người đang trong độ tuổi 75- 84 tuổi. Nếu 3% trong số họ được kê PPI, điều này có thể dẫn đến sự gia tăng khoảng 10.000 trường hợp mất trí nhớ mới mỗi năm ở riêng nhóm tuổi này
Tiến sĩ Kuller cũng chỉ ra bằng chứng về việc PPI có thể gây tăng sinh và phân hủy của amyloid, ít nhất là trên động vật, đồng thời làm giảm Vitamin B12 và các chất dinh dưỡng khác trên những người dùng PPI, mà điều này có liên quan đến nguy cơ mất trí nhớ. Tuy nhiên, ông cho biết, có thể là sự liên quan giữa việc sử dụng PPI và mất trí nhớ không phải là quan hệ nhân quả. Những người già thường dùng nhiều loại thuốc, điều này có thể liên quan đến cả tác động của PPI và nguy cơ mất trí nhớ.
Cuối cùng, Tiến sĩ Kuller cho rằng các nhà nghiên cứu “đã đề ra một thách thức quan trọng và thú vị” để đánh giá sự liên hệ có thể có giữa PPI và nguy cơ mất trí nhớ. Các nghiên cứu đặt ra vấn đề “Tầm quan trọng của việc nghiên cứu phân tích các thay đổi nhận thức và/hoặc bệnh học về thần kinh trong việc đánh giá hiệu quả của  các loại thuốc được sử dụng ở người già”.
 
JAMA Neurol. Published online February 15, 2016.
Tác giả bài viết: Khoa Dược
Nguồn tin: www.medscape.com

Ý kiến bạn đọc

 
Điện thoại nóng
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP VIÊM MÀNG NÃO MỦ DO LIÊN CẦU LỢN (STREPTOCOCCUS SUIS)
Kết quả kiểm tra chất lượng bệnh viện 6 tháng đầu năm 2017
BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP NHIỄM TRÙNG HẬU SẢN NẶNG DO SANH THƯỜNG TẠI NHÀ
VIÊM MÀNG NÃO TĂNG BẠCH CẦU ÁI TOAN
Nhân một trường hợp bệnh nhân mắc bệnh Whitmore (Melioidosis) tại khoa Nội Tổng Hợp
Bóc tách động mạch chủ
UNG THƯ THỰC QUẢN
GÂY MÊ TRÊN BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯỜNG
Báo cáo trường hợp trẻ bỏ rơi
Thông báo kết quả kiểm tra vi sinh 6 tháng cuối năm 2016
LỊCH SỬ RA ĐỜI NGÀY RỬA TAY THẾ GIỚI 15/10 VÀ VAI TRÒ CỦA RỬA TAY THƯỜNG QUY TẠI BỆNH VIỆN
NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN
ĐẠI HỘI CHI HỘI ĐIỀU DƯỠNG
BỔ SUNG CÁC YẾU TỐ VI LƯỢNG TRONG THAI KỲ
Khoa Răng Hàm Mặt sánh bước cùng Operation Smile Việt Nam tại Bệnh viện tỉnh Đăk Lăk
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP BỆNH NHÂN ĐƯỢC VÁ SỌ TỰ THÂN TRÁN 2 BÊN TẠI KHOA NGOẠI THẦN KINH
VẤN ĐỀ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TĂNG SINH LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT
Hướng dẫn điều trị tăng Kali máu cấp ở người trưởng thành 2016
HO GÀ –BỆNH DỄ LÂY LAN Ở TRẺ EM
GIỚI THIỆU VỀ CT SCANNER 64 SLICE SIEMENS DIFINITION AS TẠI BVĐK TỈNH ĐĂKLĂK

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 14
  • Hôm nay: 3802
  • Tháng hiện tại: 84416
  • Tổng lượt truy cập: 2878400
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang