MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CỦA CHẤN THƯƠNG GỐI TRÊN CỘNG HƯỞNG TỪ MRI

Đăng lúc: Thứ năm - 29/01/2015 03:24 - Người đăng bài viết: admin
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CỦA CHẤN THƯƠNG GỐI TRÊN CỘNG HƯỞNG TỪ MRI

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH CỦA CHẤN THƯƠNG GỐI TRÊN CỘNG HƯỞNG TỪ MRI

Dây chằng chéo trước chạy từ mặt trong của lồi cầu đùi ngoài đi đến vùng liên lồi cầu phía trước, ở đó nó bám từ phần sau – trong đến sừng trước của sụn chêm trong. Dây chằng có chiều dài trung bình 4cm và chiều rộng trung bình 11mm và nó rộng hơn chỗ bám xương chày. Dây chằng chéo trước bao gồm bó sợi trong và bó sợi sau ngoài mà nó thường không được ngăn cách trên CHT hoặc thăm khám đại thể
1. Tổn thương dây chằng chéo trước
- Dây chằng chéo trước chạy từ mặt trong của lồi cầu đùi ngoài đi đến vùng liên lồi cầu phía trước, ở đó nó bám từ phần sau – trong đến sừng trước của sụn chêm trong. Dây chằng có chiều dài trung bình 4cm và chiều rộng trung bình 11mm và nó rộng hơn chỗ bám xương chày. Dây chằng chéo trước bao gồm bó sợi trong và bó sợi sau ngoài mà nó thường không được ngăn cách trên CHT hoặc thăm khám đại thể. Chức năng chính của dây chằng chéo trước là giữ phần dịch chuyển trước của xương chày trong khớp gối. Dây chằng chéo trước cũng có chức năng như phần giữ thứ phát với cử động xoay trong của xương chày và phần cố định thứ phát yếu hơn với góc khép - dạng khi mà duỗi hết  mức khớp gối
- Dây chằng chéo trước được đánh giá tốt nhất bằng CHT, khi mà toàn bộ dây chằng được thấy trên 1 lát cắt: là một cấu trúc đồng nhất có tín hiệu thấp hoặc như là tập hợp nhiều sợi riêng rẽ tín hiệu thấp trên PDWI và T2WI
  Đường Blumensaat
- Trên CHT rách, đứt dây chằng chéo trước được chẩn đoán bởi những thay đổi về tín hiệu, hình thái và đường đi của dây chằng
1.1 Đứt dây chằng chéo trước hoàn toàn:
* Dấu hiệu trực tiếp
- Mất liên tục dây chằng hoàn toàn trên hình Coronal và Sagittal
- Hướng chạy bất thường: Bình thường dây chằng chéo trước chạy theo hướng song song với đường mái của hố gian lồi cầu ( đường Blumensaat)
- Tăng tín hiệu dây chằng lan tỏa trên PD và T2W
* Dấu hiệu gián tiếp:
- Hướng chạy của dây chằng chéo sau bất thường: tăng độ gập góc
- Bán trật ra trước của xương chày: bờ sau xương chày nằm phía trước (> 5mm) đường kẻ tiếp tuyến với bờ sau lồi cầu ngoài xương đùi
- Tổn thương xương kết hợp: dập xương ở lồi cầu ngoài và phần sau – ngoài của mâm chày, gãy lún phần lồi cầu ngoài của mâm chày, gãy bong giật xương ở lồi cầu ngoài của mâm chày ( gãy Segon)
- Tổn thương các cấu trúc ở góc sau ngoài: cơ kheo, dây chằng cung, bao khớp sau – ngoài
- Tổn thương đệm mỡ dưới xương bánh chè: chảy máu, phù
1.2 Đứt dây chằng chéo trước bán phần:
- Có các vùng bất thường tăng tín hiệu bên trong dây chằng đặc biệt trên T2W, PD. Không liên quan toàn bộ dây chằng, không mât liên tục toàn bộ dây chằng
- Gập góc hoặc dày khu trú bất thường của dây chằng
2. Tổn thương dây chằng chéo sau
- Dây chằng chéo sau chạy từ mặt ngoài của lồi cầu đùi trong đi đến hố liên lồi cầu sau của xương chày. Dây chằng chéo sau bao gồm các dải trước ngoài và dải sau trong. Nó giữ phần dịch chuyển sau của xương chày trong khớp gối, làm ổn định khớp gối chống lại tình trạng dạng hoặc khép quá mức và chống lại tình trạng xoay ngoài của xương chày. Trên CHT , dây chằng chéo sau bình thường được như một cấu trúc dạng dải có tín hiệu thấp trên PDWI và T2WI. Trên Sagittal, dây chằng chéo sau có dạng hình cung với khớp gối ở tư thế trung gian.
- Rách hoàn toàn dây chằng chéo sau, sự mất hoặc khe hở ở trong sự liên tục của dây chằng.
- Hướng chạy bât thường
- Vùng tín hiệu cao bên trong dây chằng trên T2WI cho thấy xuất huyết hoặc phù kèm theo rách cấp hoặc bán cấp.
Đứt dây chằng chéo sau hoàn toàn  
* tổn thương phối hợp (D/h gián tiếp): Dập xương ở mâm chày phái trước – ngoài và lồi cầu ngoài của xương đùi
3. Tổn thương sụn chêm
- Sụn chêm bình thường là cấu trúc sợi - sụn, hình chữ C có tín hiệu thấp trên tất cả các chuỗi xung. Nó được phân thành: sừng trước, thân, sừng sau. Ngoại biên được gắn với bao khớp và xương chày qua các dây chằng vành. Sừng trước và sừng sau gắn lỏng lẻo với phần gò gian lồi cầu xương chày. Trên hình Sagittal đi qua phần thân, sụn chêm có hình dạng như một cái nơ. Hình dạng nơ này thường giới hạn ở 2 lớp cắt dày 5mm liên tục, bởi chiều rộng trung bình của thân sụn chêm bé hơn 12mm. Trên mặt cắt ngang, sụn chêm có  dạng hình tam giác với đỉnh nhọn trung tâm. Sụn chêm ngoài có hình chữ C đúng nghĩa và bao phủ mặt khớp của xương chày nhiều hơn sụn chêm trong. Chiều rộng của nó tương đối hằng định ở toàn bộ sụn chêm. Sụn chêm ngoài có phần bám ngoại biên lỏng lẻo, phần sau – ngoài, và được ngăn cách với bao khớp bởi gân khoeo và bao của nó. Sụn chêm trong có dạng bán khuyên và chiều rộng của nó thì phía sau lớn hơn phía trước. Ở ngoại biên, sụn chêm trong của nó gắn chặt với bao khớp, đặc biệt ở phần giữa của nó, ở vùng của dây chằng bên trong
   
Trên CHT tổn thương sụn chêm được đánh giá bởi hai tiêu chuẩn:
+ Tiêu chuẩn đầu tiên là tăng tín hiệu tiếp xúc rõ với mặt khớp của sụn chêm trên hình ảnh TE ngắn (16-20ms).
+ Tiêu chuẩn thứ hai là bất thường hình dáng sụn chêm khi không có phẫu thuật sụn chêm từ trước.
* Các kiểu rách sụn chêm
- Rách ngang sụn chêm là rách vuông góc với bờ tự do. Trên hình đứng dọc, có thể thấy tăng tín hiệu trên một hay hai lát cắt ở ngoại biên. Rách dạng này hay gặp ở phần ba giữa sụn chêm ngoài. Ở sụn chêm trong dạng này hay gặp ở sừng sau

- Rách dọc sụn chêm, đường rách chạy theo trục dọc sụn chêm, song song với bờ sụn chêm
- Rách chéo sụn chêm kết hợp rách dọc và ngang
- Rách sụn chêm hình “ tay quai” hay “ quai xách” (bucket – handle) là đường rách dọc, phần rách trung tâm bị tách ra. Dạng rách này thường gặp ở sụn chêm trong. Phần tách ra có thể di chuyển vào khoảng gian lồi cầu. Hình ảnh có thể gặp là: giảm chiều rộng sụn
chêm, mảnh di lệch vào khoảng gian lồi cầu trên hướng đứng ngang hay nằm trước dây chằng chéo sau ở hướng đứng dọch10

 
4. Tổn thương dây chằng bên trong
- Dây chằng bên trong bao gồm 1 dải sâu và nông. Dải nông cũng được gọi như là dây chằng bên chày, kích thước xấp xỉ 10cm về chiều dài và chạy từ mỏm trên lồi cầu đùi trong cho đến mặt trong của xương chày, xấp xỉ 5cm bên dưới đường khớp. Các sợi chéo sau của nó xen vào với phần bám bao khớp của gân bán màng. Bao khớp nằm phía trước đối với chỗ bám tận của dải nông của dây chằng bên trong được củng cố bởi gân chân ngỗng bao gồm các gân cơ thon, cơ may và cơ bán gân. Dải sâu của dây chằng bên trong củng cố bao khớp bên dưới dải nông của dây chằng bên trong và được gắn chặt với sụn chêm trong bởi thành phần sụn chêm - đùi và sụn chêm chày của nó tương ứng. Phần nông và sâu của dây chằng bên trong được tách ra bởi 1 cái bao hoạt dịch mà cho phép dịch chuyển giữa hai dải.
- Trên CHT dây chằng bên trong được thấy rõ nhất trên hình Coronal và có dạng như cấu trúc bằng phẳng, có tín hiệu thấp mà nó chạy từ mỏm trên lồi cầu đùi phía trong đến phần hành xương chày đoạn gần. Ở mức của đường khớp thì các phần nông và sâu của dây chằng bên trong được tách ra bởi 1 bao hoạt dịch và mỡ bao quanh.
Trên CHT đánh giá tổn thương đây chằng bên trong dựa vào:
+ Tăng tín hiệu trên T2WI ở bên trong dây chằng
+ Sự không đều đặn  hoặc dày của dây chằng (độI) hoặc mất liên tục một phần (độII)hoặc mất liên tục hoàn toàn (độIII)
5.Tổn thương dây chằng bên ngoài
- Dây chằng bên ngoài là một phần của phức hợp các cấu trúc nâng đỡ khớp gối ngoài. Dây chằng bên ngoài là 1 cái dây tròn chắc chạy từ mỏm trên lồi cầu ngoài đi xuống dưới ra sau đến chỗ bám khớp của nó ở gân cơ nhị đầu đùi trên đầu xương mác. Dây chằng khoeo chéo là hệ thống chữ Y của các sợi bao khớp, cuống của nó bám vào đầu xương mác. Chi sau của dây chằng này vòng cung ở phía trong nằm trên khoeo để bám vào vùng liên lồi cầu phía sau của xương chày. Chi trước thì chạy đến phần mỏm trên lồi cầu đùi ngoài, nơi đó nó được liên tục với đầu ngoài cơ bụng chân. Trên CHT dây chằng bên ngoài được thấy rõ nhất trên hình coronal và có dạng như là 1 dải có tín hiệu thấp trên PDWI, T2WI
Trên CHT tổn thương dây chằng bên được đánh giá :
+ Tăng tín hiệu trên T2W bên trong dây chằng.
+ Sự dày lên của dây chằng  hoặc mất liên tục không hoàn toàn hoặc mất liên tục hoàn toàn dây chằng.
 
                                                       
          Tài liệu tham khảo
Francis A. Bungener, Steven P.Meyers, Raymond K.Tan, Wolfgang Zaunbaur. Differental diagonosis in magnetic resonance imaging. Vol ii. IV. S390-S400
Lê Văn Phước. Cộng hưởng từ cơ bản. Tr218-227
Tác giả bài viết: BS Bùi Văn Tùng-Khoa chẩn đoán hình ảnh BV tỉnh
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Điện thoại nóng
TÓM TẮT CẬP NHẬT ĐIỀU TRỊ SUY TIM MẠN
CỨU SỐNG BỆNH NHÂN SUY HÔ HẤP NGUY KỊCH
BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP NHIỄM TRÙNG HẬU SẢN NẶNG DO SANH THƯỜNG TẠI NHÀ
TỔ CHỨC LỚP TẬP HUẤN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG – AN TOÀN NGƯỜI BỆNH VÀ TRIỂN KHAI NGÀY HỘI 5S TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH ĐẮK LẮK
KHÁM TIỀN MÊ - CHUẨN BỊ BỆNH NHÂN TRƯỚC MỔ
Những lưu ý đặc biệt khi sử dùng thuốc đái tháo đường
CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁM SÁT NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN
Ba điều cần làm để phòng ngừa thoái hóa khớp gối
Phát hiện sớm Dị dạng hậu môn trực tràng
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP VIÊM MÀNG NÃO MỦ DO LIÊN CẦU LỢN (STREPTOCOCCUS SUIS)
Kết quả kiểm tra chất lượng bệnh viện 6 tháng đầu năm 2017
BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP NHIỄM TRÙNG HẬU SẢN NẶNG DO SANH THƯỜNG TẠI NHÀ
VIÊM MÀNG NÃO TĂNG BẠCH CẦU ÁI TOAN
Nhân một trường hợp bệnh nhân mắc bệnh Whitmore (Melioidosis) tại khoa Nội Tổng Hợp
Bóc tách động mạch chủ
UNG THƯ THỰC QUẢN
GÂY MÊ TRÊN BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯỜNG
Báo cáo trường hợp trẻ bỏ rơi
Thông báo kết quả kiểm tra vi sinh 6 tháng cuối năm 2016
LỊCH SỬ RA ĐỜI NGÀY RỬA TAY THẾ GIỚI 15/10 VÀ VAI TRÒ CỦA RỬA TAY THƯỜNG QUY TẠI BỆNH VIỆN

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 39
  • Khách viếng thăm: 38
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 3959
  • Tháng hiện tại: 97206
  • Tổng lượt truy cập: 3154600
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang