bvvtn

MỘT SỐ DẤU ẤN SINH HỌC TRONG ĐÁNH GIÁ KHỐI U BUỒNG TRỨNG

Đăng lúc: Thứ hai - 23/09/2019 16:08 - Người đăng bài viết: admin
MỘT SỐ DẤU ẤN SINH HỌC TRONG ĐÁNH GIÁ KHỐI U BUỒNG TRỨNG

MỘT SỐ DẤU ẤN SINH HỌC TRONG ĐÁNH GIÁ KHỐI U BUỒNG TRỨNG

Ung thư buồng trứng (UTBT) là bệnh lý ác tính, chiếm 5% các ung thư ở nữ giới nhưng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các khối ung thư phụ khoa ở các nước Âu - Mỹ.
ĐẠI CƯƠNG
      Ung thư buồng trứng (UTBT) là bệnh lý ác tính, chiếm 5% các ung thư ở nữ giới nhưng là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các khối ung thư phụ khoa ở các nước Âu - Mỹ. Tại Việt Nam, theo ghi nhận tỉ lệ mắc dao động từ 3,6 - 3,9% dân. Về mô bệnh học, UTBT có rất nhiều thể, nhưng chủ yếu phân thành 3 loại chính. Ung thư biểu mô, U tế bào mầm ác tính và các U mô đệm -dây sinh dục.
      Ung thư biểu mô buồng trứng chiếm tới 80 – 90% các UTBT, thường xuất hiện ở tuổi mãn kinh. Coa khoảng hơn 50% xuất hiện ở tuổi 65. Lâm sàng không rõ ràng, âm thầm, triệu chứng không đặc hiệu. Do vậy thường phát hiện muộn.
     U tế bào mầm ác tính chiếm khoảng 10 – 15% UTBT ở vùng châu Á, thường gặp ở người trẻ. Độ tuổi thường gặp 20. Việc bảo tồn buồng trứng cần cân nhắc trong khi phẫu thuật.
     U đệm – dây sinh dục chiếm khoảng 5% số bệnh nhân UTBT, xuất hiện ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên hay gặp ở tuổi trung niên. Do có liên quan đến tế bào đặc tính sinh dục, vì vậy bệnh nhân có thêm biểu hiện nam tính.
     Mặc dù các UTBT có tiên lượng chung xấu , nhưng những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị gần đây có cải thiện tích cực vào thời gian sống của các bệnh nhân.
     Để chẩn đoán xác định UTBT, đòi hỏi phải phẫu thuật và xét nghiệm mô bệnh học. Tuy nhiên cũng có các phương thức được thực hiện để định hướng tính chất lành và ác tính trước phẫu thuật nhờ các dấu ấn sinh học (marker).
DANH PHÁP
     Dấu ấn sinh học “ là một đặc tính được đo khách quan và được đánh giá là một chỉ số của các tiến trình sinh học bình thường, tiến trình sinh bệnh hoặc ứng dược lý  với một can thiệp điều trị ” (theo Bộ Y tế Mỹ).
     Hiện nay, không có một dấu ấn sinh học nào có độ nhạy và độ chuyên biệt cao trong chẩn đoán UTBT. Vì vậy cần phải kết hợp các dấu ấn huyết thanh đa dạng để có định hướng đúng . Dấu ấn huyết thanh có thể là riêng lẻ hoặc thử nghiệm đa phương thức. Mỗi loại đều có ưu điểm riêng.
ĐẶC TÍNH CỦA DẤU ẤN SINH HỌC
Dấu ấn sinh học riêng lẻ
CA 125 (Cancer Atigen 125): Vào năm 1983, CA 125 được mô tả lần đầu tiên .
     Đây là dấu ấn sinh học được sử dụng rộng rãi nhất cho UTBT, đồng thời có giá trị theo dõi việc đáp ứng với điều trị ở bệnh nhân chẩn đoán các khối u vùng chậu có thể kết hợp với siêu âm vùng chậu.
      CA 125 là một glycoprotein xuyên màng, bắt nguồn từ cả hai loại biểu mô coelomic (màng ngoài tim, màng phổi, màng bụng – gốc trung biểu mô) và của ống Mullerian (có ở buồng trứng, vòi fallope, nội mạc tử cung). Gen cho CA125 đã được nhân bản vào năm 2011 và được gọi là MUC 16. Phúc hợp kháng nguyên có hai phần chủ yếu: A và B. Một phần của miền ngoại bào gồm các trình tự lặp lại ràng buộc các OC 125 và kháng thể đơn dòng M11. Bản gốc CA 125 thử nghiệm phản ứng với OC 125  và bản mới hơn thử nghiệm CA 125 II - sử dụng cả hai loại  OC 125 và M11 moieties. Các thử nghiệm trên được dùng trong thực hành lâm sàng. Tuy nhiên không có dữ liệu chứng minh thử nghiệm nào ưu việt hơn. Giá trị bình thường cho hai xét nghiệm là:
        * CA 125:  ≤ 35 U/ml
        * CA 125 II : < 20 U/ml
Giá trị của ngưỡng này có thay đổi và có thể có giá trị khác trên một phụ nữ tiền mãn kinh, trong chu kỳ kinh nguyệt, u xơ tử cung hoặc cả khi rụng trứng. Vì vậy  nên thực hiện kiểm tra CA 125 các lần với cùng bộ kit xét nghiệm để có thể theo dõi chỉ số thống nhất.
Protein mào tinh người 4 (Human Epididymis protein 4)  - HE 4
 Thử nghiệm HE 4 đã được FDA Hoa kỳ chấp thuận vào năm 2008, để theo dõi cho những trường hợp UTBT loại biểu mô tái phát hoặc tiến triển. Ngoài ra nó cũng được sử dụng cho việc đánh giá một khối u phần phụ như một thành phần của thuật toán nguy cơ ác tính  ROMA (The Risk of Malignancy Algorithm).
  HE 4 là một kháng nguyên có nguồn gốc từ protein mào tinh của người, một sản phẩm của gen WFDC 2 được biểu hiện quá mức ở bệnh nhân có UTBT  dạng thanh dịch (serous) và dạng nội mạc tử cung (endometrioid).
   Giới hạn của HE 4 là  ≤ 150 pM.
Những dấu ấn sinh học khác:
Carcinoembryonic Antigen (CEA)
CAE là một protein được tìm thấy trong mô phôi thai hoặc thai nhi. Nồng độ CEA huyết thanh gần như biến mất hoàn toàn sau khi sinh, tuy nhiên một lượng nhỏ có thể hiện diện ở đại tràng.
   Ở người lớn, CEA có thể tăng trong các trường hợp u ác tính sản sinh ra protein, đặc biệt là các ung thư type nhầy liên quan đến đường tiêu hóa hoặc buồng trứng.         CEA cũng có thể tăng lên trong các khối u ác tính như: Vú – Tụy – Tuyến giáp – Phổi.
   Đặc biệt, có thể một số trường hợp lành tính, tuy nhiên kết hợp với một giá trị CEA cao có thể gặp trong:
  • Hút thuốc lá.
  • U nang nhầy của buồng trứng hoặc u nhầy ruột thừa.
  • Viêm túi mật.
  • Xơ gan.
  • Viêm túi thừa.
  • Bệnh viêm đường ruột.
  • Viêm tụy.
  • Nhiễm trùng ở phổi.
      Trị số xét nghiệm có thể thay đổi chút ít cho từng phòng xét nghiệm riêng biệt. Tuy nhiên giới hạn của CEA cho người không hút thuốc là 3,8 mcg/L. Đối với người hút thuốc, giới hạn trên của mức bình thường là 5,5 mcg/L. CEA cũng có thể có ích trong việc theo dõi lâm sàng các trường hợp viêm phúc mạc dịch nhầy dù đó là lành tính hay ác tính.
   Cancer Antigen 19-9
      Cancer Antigen 19-9 (CA 19-9) là một protein nhầy. Ca 19-9 được dùng để theo dõi điều trị hoặc phát hiện ung thư tái phát trên những bệnh nhân bị ung thư dạ đay, tụy, túi mật, đường mật hoặc bóng Valter. Trong UTBT CA 19-9 cũng tăng tuy nhiên ít được sử dụng.

Tác giả bài viết: LÊ VĂN NAM, KHOA GIẢI PHẪU BỆNH

Ý kiến bạn đọc

 
Điện thoại nóng
Cùng chung tay để chấm dứt dịch AIDS
HƯỚNG DẪN BẮT ĐẦU VÀ CHỈNH LIỀU INSULIN Ở BỆNH NHÂN ĐTĐ TÍP 2
Những điều cần biết về chăm sóc thiết yếu bà mẹ, trẻ sơ sinh trong và ngay sau sanh EENC
Tiểu không tự chủ là bệnh gì?
Khoa Cấp cứu và Can thiệp tim mạch :Phát hiện và Điều trị bệnh lý cơ tim hiếm gặp
CỨU SỐNG BỆNH NHÂN BỊ BẮN VÀO ĐẦU
BỆNH WHITMORE
Chẩn Đoán Bệnh Parkinson năm 2019
THẾ NÀO LÀ RỐI LOẠN NHỊP CHẬM ???
CẬP NHẬT VỀ ĐIỀU TRỊ KAWASAKI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN TIẾP NHẬN GIƯỜNG BỆNH TÀI TRỢ
Biến chứng cấp tăng đường huyết ở bệnh nhân ĐTĐ
CHỮA BỆNH BẰNG PHƯƠNG PHÁP CỨU TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN
HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY
Gãy Jone một kiểu gãy hay gặp trên lâm sàng và quan điểm về điều trị
Bệnh Melioidosis (Whitmore)
Chảy máu mũi
ĐỘT QUỴ NÃO (STROKE) KHÔNG CHỈ LÀ CĂN BỆNH CỦA NGƯỜI CAO TUỔI
Thông báo mời thầu: Gói thầu thiết bi(bao gồm phần mềm, triển khai, đào tạo)
VIÊM GÂN ACHILLES

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 38
  • Khách viếng thăm: 35
  • Máy chủ tìm kiếm: 3
  • Hôm nay: 5838
  • Tháng hiện tại: 101236
  • Tổng lượt truy cập: 7764235
Cuộc thi trắc nghiệm Tìm hiểu 90 năm lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang