Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ đối với bệnh tay chân miệng nặng

Đăng lúc: Thứ năm - 19/11/2015 22:26 - Người đăng bài viết: admin
Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ đối với bệnh tay chân miệng nặng

Nghiên cứu một số yếu tố nguy cơ đối với bệnh tay chân miệng nặng

xác định một số yếu tố liên quan đến khả năng xuất hiện biến chứng ở bệnh tay chân miệng

TÓM TẮT

Mục tiêu: xác định một số yếu tố liên quan đến khả năng xuất hiện biến chứng ở bệnh tay chân miệng
Đối tượng, phương pháp: mẫu nghiên cứu gồm 800 bệnh nhân mắc bệnh tay chân miệng nhập viện điều trị tại khoa Nhi, bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk. Các bệnh nhân này được theo dõi diễn biến lâm sàng cho đến khi xuất viện. Thiết kê nghiên cứu mô tả: So sánh sự khác nhau giữa 2 nhóm TCM nhẹ và TCM nặng (2b+) qua các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố khác để tìm ra yếu tố nguy cơ đối với bệnh TCM nặng.
Kết quả: Các yếu tố có liên quan đến bệnh TCM nặng là suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (OR=1,7); suy dinh dưỡng thể thấp còi (OR=1,8)
Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, tỷ số khả dĩ dương của một số triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng trong tiên đoán bệnh TCM nặng: Sốt trên 39oC hoặc tiền sử giật mình (Sn=89,2%, Sp=52,2%, PPV=24,8%, LR+=1,9). Sốt trên 38,5oC và kéo dài trên 3 ngày hoặc tiền sử giật mình có Sn=85,0%, Sp=58,8%, PPV=26,7%, LR+=2,1. Không loét miệng hoặc tiền sử giật mình có Sn=84,2%, Sp=47,5%, PPV=22,1%, LR+=1,6. Bạch cầu máu ngoại vi tăng > 17.000/µl Sn=15,0%, Sp=97,4%, PPV=50,0%, LR+=5,7.
Kết luận: các yếu tố làm tăng nguy cơ TCM nặng là suy dinh dưỡng thể nhẹ cân (OR=1,7), suy dinh dưỡng thể thấp bé (OR=1,8). Các dấu hiệu sốt cao trên 39oC, sốt ≥ 38,5oC và kéo dài ≥ 3 ngày, không loét miệng, tiền sử giật mình, bạch cầu máu ngoại vi tăng trong bệnh TCM là những dấu hiệu cảnh báo bệnh TCM nặng. Cần theo dõi và phát hiện sớm để xử trí kịp thời.
ABSTRACT
STUDY ON RISK FACTORS
OF SEVERE HAND FOOD MOUTH DISEASE
Objective: Determining some factors related to the possibility of complications in HFMD
Subjects and Methods: 800 patients with HFMD hospitalized in Pediatrics department of DakLak General Hospital. These patients’ clinical features were monitored until discharge. Cross-sectional study: Comparing the differences between the 2 groups of mild and severe HFMD (2b +) based on the clinical and subclinical features to find out the prognostic factors of severe HFMD.
Results: Factors related to severe HFMD include underweight (OR = 1.7) and stunting (OR = 1.8)
The sensitivity, specificity, positive predictive value, the likelihood ratio+ of some clinical and subclinical signs in predicting severe HFMD: fever above 39oC or startling history (Sn = 89.2%, Sp = 52.2%, PPV = 24.8%, LR + = 1.9). Fever ≥ 38,5oC and lasting ≥ 3 days or startling history (Sn = 85.0%, Sp = 58.8%, PPV = 26.7%, LR+ = 2.1). No mouth ulcers or startling history (Sn = 84.2 %, Sp = 47.5%, PPV = 22.1%, LR + = 1.6). Increased peripheral blood leukocytes > 17,000 / l (Sn = 15.0%, Sp = 97.4%, PPV = 50.0%, LR + = 5.7).
Conclusion: Factors increasing the risk of severe HFMD include underweight (OR=1.7), and stunting (OR=1,8). High fever over 39oC, fever ≥ 38,5oC  lasting ≥ 3 days, no mouth ulcers, startling history, increase of peripheral blood leukocytes are signs of severe HFMD, which require monitoring and early detection for prompt interference and treatment.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh tay chân miệng (TCM) là một trong những bệnh truyền nhiễm cấp tính mới nổi ở Việt Nam trong hơn một thập niên trở lại đây. Trẻ dưới 5 tuổi và đặc biệt trẻ dưới 3 tuổi có tính cảm nhiễm cao đối với bệnh. Dấu hiệu đặc trưng của bệnh là sốt, tổn thương niêm mạc miệng và da dưới dạng phỏng nước thường thấy ở lòng bàn tay, bàn chân, đầu gối, mông. Hầu hết các trường hợp bệnh đều diễn biến nhẹ. Tuy nhiên, có một số trường hợp, bệnh có thể diễn biến nặng và gây ra những biến chứng nguy hiểm như viêm não - màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời [5],[8],[10].
Hiện nay, bệnh TCM chưa có vắc-xin cũng như thuốc điều trị đặc hiệu. Ngoài tác nhân gây bệnh là EV71 thường gây ra biến chứng trong các vụ dịch TCM [3],[5],[9],[11], việc xác định các yếu tố nguy cơ của bệnh TCM nặng nhằm theo dõi và có hướng xử trí kịp thời theo tuyến điều trị là vô cùng cần thiết.
Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm mục tiêu: Mô tả một số yếu tố liên quan đến khả năng xuất hiện biến chứng ở bệnh tay chân miệng.

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2. Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: từ 800 bệnh nhân mắc bệnh tay chân miệng nhập viện điều trị tại khoa Nhi, bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk. Các bệnh nhân này được theo dõi diễn biến lâm sàng cho đến khi xuất viện.
- Thời gian nghiên cứu: trong thời gian hai năm 2013-2015.
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Nhi, bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk

Tiêu chuẩn chọn ca bệnh

- Bệnh nhân có các triệu chứng lâm sàng như có sốt, ban chủ yếu dạng phỏng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, đầu gối, mông, miệng, có thể kèm theo loét ở miệng [2]
- Bệnh nhân thuộc mức độ 1, 2a theo hướng dẫn phân độ lâm sàng của Bộ Y Tế [1].
- Bệnh nhân 2 bác sĩ chuyên khoa Nhi tham gia điều trị xác định chẩn đoán bệnh TCM, hoặc bệnh nhân có kết quả xét nghiệm tác nhân gây bệnh là EV(+)

2.3. Phương pháp nghiên cứu

- Thiết kê nghiên cứu mô tả: So sánh sự khác nhau giữa 2 nhóm TCM nhẹ và TCM nặng (2b+) qua các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và các yếu tố để tìm ra yếu tố tiên lượng bệnh TCM nặng
- Thu thập số liệu: dựa trên quan sát, khám lâm sàng, xét nghiệm máu (huyết học, sinh hóa), phân (kỹ thuật PCR).
- Phân độ nặng của bệnh theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
- Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê y học. Tính mức độ liên quan giữa các yếu tố tiên lượng bệnh TCM nặng bằng tỷ số số chênh (OR: Odds Ratio) sau khi đã khử các yếu tố nhiễu.
3. KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

3.1. Đặc điểm lâm sàng bệnh tay chân miệng nặng và nhẹ

        Bảng 3.1. Đặc điểm lâm sàng bệnh TCM nặng và TCM nhẹ

Triệu chứng Bệnh nặng (120) Bệnh nhẹ (680) Giá trị p
Tỷ lệ KTC 95% Tỷ lệ KTC 95%
Sốt ≥ 390c 59,2 49,8-68,0 28,0 245,6-31,9 < 0,05
Sốt ≥ 38,5 0 c và ≥ 3 ngày   41,7 32,7-51,0 17,8 14,9-20,9 < 0,05
Đau họng 57,5 48,1-66,5 64,3 60,5-67,9 > 0,05
Tiêu chảy 14,2 8,4-21,7 10,6 8,4-13,1 > 0,05
Nôn ói 30,8 22,7-39,9 32,1 28,6-35,7 > 0,05
Chán ăn 53,3 44,0-62,5 49,3 45,4-53,1 > 0,05
Bóng nước miệng 22,5 15,4-31,0 79,3 76,0-82,3 > 0,05
Bóng nước tay 69,2 60,1-77,3 73,4 69,9-76,7 > 0,05
Bóng nước chân 64,2 54,9-72,7 69,7 66,1-73,1 > 0,05
Bóng nước mông 50,8 41,6-60,1 55,7 51,9-59,5 > 0,05
Loét miệng 62,5 53,2-71,2 73,7 70,2-77,0 < 0,05
Giật mình 76,7 68,1-83,9 36,6 32,9-40,4 < 0,05
Run chi 25,8 18,3-34,6 6,3 4,6-8,4 < 0,05 *
Loạng choạng 5,8 2,3-11,6 0 - < 0,05 *
Li bì 15,0 9,1-22,6 0,8 0,3-1,9 < 0,05 *
Co giật 3,3 0,9-8,3 0 - < 0,05 *
Mạch nhanh nhỏ 8,3 4,1-14,8 0,2 0,03-0,8 < 0,05 *
Thở nhanh 6,7 2,9-12,7 0,6 0,6-1,5 < 0,05 *
Dấu hiệu màng não 3,3 0,9-8,3 0 - < 0,05 *
Suy tim phổi 1,7 0,2-5,9 0 - < 0,05 *
Ho nhiều 2,5 0,5-7,1 0 - < 0,05 *
Mất nước 4,2 1,4-9,5 0 - < 0,05 *
          Nhận xét:
          Trong số các triệu chứng lâm sàng giữa 2 nhóm TCM nặng và nhẹ, chỉ có một số triệu chứng khác biệt rõ là: sốt trên 39oC, sốt trên 38,5oC và kéo dài trên 3 ngày, loét miệng và tiền sử giật mình, run chi.
Ngoài ra, các triệu chứng thần kinh và tim mạch chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ và hầu như chỉ gặp ở nhóm TCM nặng như: Loạng choạng (5,8%), li bì (15%), co giật (3,3%), mạch nhanh nhỏ (8,3%), thở nhanh (6,7%), dấu hiệu màng não (3,3%), mất nước (4,2%), ho nhiều (2,5%), suy tim phổi (1,7%).
          Các triệu chứng khác như vị trí ban sẩn bóng nước ở tay, ở chân, ở miệng, đau họng, nôn ói, tiêu chảy, chán ăn đều tương tự nhau (p > 0,05) ở hai nhóm TCM nặng và nhẹ.
3.2. Các yếu tố liên quan của bệnh TCM nặng

        Bảng 3.2. Liên quan giữa các yếu tố với TCM nặng

Yếu tố/dấu ấn nguy cơ

TCM nặng (120)

TCM nhẹ (680)

p

OR

Tần số

Tỷ lệ %

Tần số

Tỷ lệ %

SDD nhẹ cân

32

26,7

117

17,2

<0,05

1,7

SDD thấp còi

41

34,2

151

22,2

<0,05

1,8

Trọng lượng sơ sinh 2500gr

9

7,5

39

5,7

>0,05

1,3

Đỉnh nhiệt > 39oC

71

59,2

190

27,9

<0,01

3,7

Sốt ≥ 38,5oC và ≥ 3 ngày

50

41,7

121

17,8

<0,01

3,3

Loét miệng

75

62,5

501

73,7

<0,01

0,6

Tiền sử giật mình

92

76,7

249

36,6

<0,01

5,2

Nhận xét:
Tình trạng dinh dưỡng của trẻ là một trong những yếu tố nguy cơ làm gia tăng khả năng xuất hiện TCM nặng. Trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân có nguy cơ mắc TCM nặng gấp 1,7 lần (p<0,05) so với trẻ không suy dinh dưỡng nhẹ cân. Trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi có nguy cơ mắc TCM nặng gấp 1,8 lần (p<0,05) so với trẻ không suy dinh dưỡng thấp còi. Chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu nào liên quan đến tình trạng dinh dưỡng với bệnh TCM nặng, ngoại trừ báo cáo của TCYTTG khu vực Tây Thái Bình Dương cho rằng suy dinh dưỡng là nguyên nhân của 54 ca tử vong trong vụ dịch TCM ở Campuchia năm 2012 [12]. 
Bệnh nhân TCM có sốt trên 39oC thì khả năng xảy ra biến chứng (2b+) gấp 3,7 lần (từ 2,4 đến 5,7) so với bệnh nhân TCM có sốt dưới 39oC. Kết quả này cho thấy sốt trên 39oC là một tiêu chí quan trọng liên quan đến bệnh TCM nặng và cũng phù hợp với nhiều nghiên cứu khác.
          Bệnh nhân TCM có sốt trên 38,5oC và thời gian sốt trên 3 ngày thì khả năng xảy ra biến chứng (2b+) gấp 3,3 lần (từ 2,1 đến 5,1) so với bệnh nhân TCM có sốt dưới 38,5oC hoặc thời gian sốt dưới 3 ngày. Kết quả này phù hợp với một số nghiên cứu khác [7]
          Bệnh nhân TCM có kèm loét miệng thì khả năng xảy ra biến chứng (2b+) giảm xuống OR=0,6 (0,4 đến 0,9) so với bệnh nhân TCM không kèm loét miệng. Những nghiên cứu khác cũng cho rằng không có dấu hiệu loét miệng là thường liên quan đến các trường hợp TCM nặng hoặc tử vong [4]
          Bệnh nhân TCM có tiền sử giật mình thì khả năng xảy ra biến chứng (2b+) gấp 5,2 lần (từ 3,3 đến 8,1) so với bệnh nhân TCM không có tiền sử giật mình. Kết quả này cũng phù hợp với những nghiên cứu khác cho rằng giật mình là một dấu hiệu cảnh báo khả năng bệnh chuyển sang tình trạng nặng, có biến chứng [6]

3.3. Các yếu tố tiên đoán bệnh tay chân miệng nặng

Để đánh giá tính giá trị của từng triệu chứng khi áp dụng vào việc tiên đoán bệnh TCM nặng

         Bảng 3.3. Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương và tỷ số khả dĩ dương của các triệu chứng lâm sàng

  Sn Sp PPV+ LR+
(a) Đỉnh nhiệt ≥ 39oC 59,2 72,1 27,2 2,1
(b) Nhiệt ≥ 38oC và ≥ 3 ngày 41,7 82,2 29,2 2,3
(c) Không loét miệng 37,5 73,7 20,1 1,4
(d) Giật mình 76,7 63,4 27,0 2,1
Nhận xét:
          Xét triệu chứng/dấu hiệu giật mình, ta dấu hiệu giật mình có khả năng phát hiện bệnh TCM nặng là cao nhất (độ nhạy = 77%). Tuy vậy, khả năng phát hiện trẻ không bệnh TCM nặng lại không cao (độ đặc hiệu = 63%), xác suất để những bệnh nhân TCM có dấu hiệu giật mình là TCM nặng chỉ khoảng 1/3 (khả năng tiên đoán dương = 27%), hoặc khả năng mắc TCM nặng là thấp (tỷ số khả dĩ dương bằng 2,1).
          Tương tự như vậy, chúng ta thấy các triệu chứng khác như (a) đỉnh nhiệt trên 390c, (b) sốt 38,5oC và kéo dài trên 3 ngày, (d) không có triệu chứng loét miệng đều có khả năng dự đoán một bệnh nhân TCM có nguy cơ nặng đều rất thấp. Lý do khả năng tiên đoán dương và tỷ số khả dĩ dương có giá trị thấp là bởi vì tỷ lệ biến chứng của mẫu nghiên cứu này là thấp (120/800=0,15). Vì vậy, cần thận trọng khi sử dụng các chỉ số này tại tuyến y tế cơ sở, nơi tỷ lệ bệnh TCM biến chứng còn thấp hơn rất nhiều.
          Kết quả này cho thấy không có một triệu chứng/dấu hiệu riêng lẻ nào có thể dự đoán bệnh TCM nặng. Trong một số bối cảnh (cụ thể là tuyến y tế cơ sở) các thầy thuốc dựa vào triệu chứng lâm sàng nào để theo dõi và chuyển tuyến kịp thời trước khi bệnh TCM quá nặng. Trường hợp này có lẻ chúng ta tìm cách tăng độ nhạy nhằm sàng lọc những bệnh nhân TCM có khả năng chuyển nặng cao nhất. Để tăng độ nhạy, chúng ta có thể phối hợp các triệu chứng theo chiến lược song song. Ví dụ nghiệm pháp là dương tính khi trẻ có thể có sốt trên 39oC hoặc có giật mình, nghiệm pháp là âm tính khi đều không có 2 triệu chứng trên.

         Bảng 3.4. Phối hợp các triệu chứng (chiến lược song song)

Triệu chứng Sn (%) Sp (%) PPV+ (%) LR+
(a) / (b) 60,8 70,9 26,9 2,1
(a) / (c) 74,2 54,1 22,2 1,6
(a) / (d) 89,2 52,2 24,8 1,9
(b) / (c) 62,5 61,8 22,4 1,6
(b) / (d) 85,0 58,8 26,7 2,1
(c) / (d) 84,2 47,5 22,1 1,6
Nhận xét:
          Kết quả bảng trên cho thấy phối hợp song song các triệu chứng đã làm gia tăng độ nhạy. Ở tình huống bệnh TCM có triệu chứng a (sốt trên 39oC) hoặc triệu chứng d (có giật mình) có độ nhạy cao nhất (89%). Tiếp đến là tình huống bệnh TCM có triệu chứng b (sốt 38,5oC và kéo dài trên 3 ngày) hoặc triệu chứng d (có giật mình) có độ nhạy là 85%. Tình huống hoặc có triệu chứng c (không loét miệng) hoặc có triệu chứng d (giật mình) có độ nhạy 84%. Mặc dù độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, tỷ số khả dĩ dương khi phối hợp song song các triệu chứng là thấp, nhưng trong trường hợp tiếp nhận ban đầu những ca TCM, việc nhận ra các dấu hiệu có độ nhạy cao là rất quan trọng. Chúng giúp nhanh chóng phân loại các bệnh nhân TCM có khả năng có biến chứng (nặng) để theo dõi và có hướng xử trí kịp thời.
          Bước tiếp theo, để tăng độ đặc hiệu chúng ta xem xét bệnh nhân TCM có đồng thời các triệu chứng sau: vừa có a (sốt trên 390c) vừa có d (giật mình).

         Bảng 3.5. Phối hợp các triệu chứng (chiến lược đồng thời)

Triệu chứng Sn (%) Sp (%) PPV+ (%) LR+
(a) & (c) 22,5 91,6 32,1 2,7
(a) & (d) 46,7 83,2 32,9 2,8
(b) & (c) 16,7 94,1 33,3 2,8
(b) & (d) 33,3 86,8 30,8 2,5
(a) & (c) & (d) 17,5 94,7 36,8 3,3
(b) & (c) & (d) 12,5 95,3 31,9 2,7
Nhận xét:
          Nếu phối hợp đồng thời 2 triệu chứng, như bệnh nhân mắc TCM vừa có b (sốt 38,5oC và kéo dài trên 3 ngày) vừa có c (không loét miệng) có độ đặc hiệu cao nhất là 94%.
          Nếu phối hợp đồng thời 3 triệu chứng, (a) và (c) và (d) có độ đặc hiệu cao và giá trị dự đoán dương, tỷ số khả dĩ dương cũng được cải thiện. Như vậy, thông qua việc phối hợp các triệu chứng (song song hoặc đồng thời), chúng tôi thấy rằng:
          Sử dụng nghiệm pháp song song: cần được sử dụng để sàng tuyển những bệnh nhân TCM tại tuyến y tế cơ sở để nhằm có điều kiện theo dõi chặt và xử trí kịp thời.
          Sử dụng nghiệm pháp đồng thời: mặc dù làm gia tăng độ đặc hiệu nhưng khả năng tiên đoán của các triệu chứng lâm sàng là không cao. Vì vậy, cần thận trọng khi sử dụng các chỉ số này để tiên đoán khả năng bệnh TCM nặng.
3.4. Một số đặc điểm cận lâm sàng và bệnh TCM nặng

         Bảng 3.6. Một số đặc điểm cận lâm sàng bệnh TCM

Chỉ số Bệnh nặng (120) Bệnh nhẹ (680) Tổng cộng (800) Giá trị p
x SD x SD x SD
Hồng cầu 4,94 0,43 4,87 0,45 4,88 0,45 > 0,05
Bạch cầu 12,56 3,69 9,71 2,77 10,14 3,10 < 0,05
Tiểu cầu 316,9 80,1 312,5 59,9 313,1 63,3 > 0,05
Nhận xét:
          Xét nghiệm máu là xét nghiệm thường qui và có thể được làm ở tất cả các tuyến y tế. Kết quả từ bảng 4.16 cho thấy, số lượng hồng cầu, tiểu cầu đều nằm trong giới hạn bình thường và không có sự khác biệt giữa nhóm TCM nặng và TCM nhẹ.
          Giá trị trung bình bạch cầu ở nhóm TCM nặng vượt quá giới hạn bình thường (theo chỉ số của máy là > 10,9 x103/µl) và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với giá trị trung bình bạch cầu ở nhóm TCM nhẹ.

         Bảng 3.7. Giá trị tiên đoán bệnh TCM nặng của bạch cầu

Số lượng BC (K/µl) Sn (%) Sp (%) PPV+ (%) LR+
> 10,9 62,5 76,3 31,8 2,6
> 13,0 40,8 87,4 36,3 3,2
> 15,0 20,0 93,4 34,8 3,0
> 17,0 15,0 97,4 50,0 5,7
          Nhận xét:
Khi tăng ngưỡng số lượng bạch cầu từ 10,9 x103/l lên đến tối đa là 17,0 x103/l thì độ đặc hiệu tăng theo, nhưng đặc biệt giá trị dự đoán dương và tỷ số khả dĩ dương được cải thiện đáng kể. Đây là chỉ số rất có giá trị khi tiên đoán bệnh TCM nặng.
4. KẾT LUẬN
  • Trẻ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân có nguy cơ mắc TCM nặng gấp 1,7 lần (p<0,05) so với trẻ không suy dinh dưỡng nhẹ cân.
  • Trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi có nguy cơ mắc TCM nặng gấp 1,8 lần (p<0,05) so với trẻ không suy dinh dưỡng thấp còi.
Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị tiên đoán dương, tỷ số khả dĩ dương của một số triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng trong tiên đoán bệnh TCM nặng:
  • Sốt trên 39oC hoặc tiền sử giật mình có Sn=89,2%, Sp=52,2%, PPV=24,8%, LR+=1,9 
  • Sốt trên 38,5oC và kéo dài trên 3 ngày hoặc tiền sử giật mình có Sn=85,0%, Sp=58,8%, PPV=26,7%, LR+=2,1
  • Không loét miệng hoặc tiền sử giật mình có Sn=84,2%, Sp=47,5%, PPV=22,1%, LR+=1,6
  • Bạch cầu máu ngoại vi tăng >17.000/µl Sn=15,0%, Sp=97,4%, PPV=50,0%, LR+=5,7
 
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.  Bộ Y Tế. (2011). Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh tay chân miệng, số 2554/QĐ-BYT, Hà Nội, ngày 19/7/2011.
2.  Bộ Y Tế. (2012). Hướng dẫn giám sát và phòng, chống bệnh tay chân miệng, số 581/QĐ-BYT, Hà Nội ngày 24/2/2012.
3.  Chatproedprai, S., Theanboonlers, A., Korkong, S., Thongmee, C., Wananukul, S. & Poovorawan, J. (2010). Clinical and molecular characterization of hand, foot and mouth disease in Thailand, 2008-2009. Jpn. J. Infect. Dis, 63, 229-233.
4.  Chong, C. Y., Chan, K. P., Shah, V. A., Lau, G., Teo, T. S., Lai, S. H., et al. (2003). Hand, foot and mouth disease in Singapore: a comparison of fatal and non-fatal cases. Acta Pediatr, 92, 1163-1169.
5.  Goh, K. T., Doraisingham, S., Tan, J. L. & Chew, S. E. (1982). An outbreak of hand, foot, and mouth disease in Singapore. Bulletin of the World Health Organization, 60(6), 965-969.
6.  Lu, H. K., Lin, T. Y., Hsia, S. H., Chiu, C. H., Huang, Y. C., Tsao, K. C., et al. (2004). Prognostic implications of myoclonic jerk in children with enterovirus infection. J Microbiol Immunol Infect, 37(2), 82-87.
7.  Ooi, M. H., Wong, S. C., Mohan, A., Podin, Y., Perera, D., Clear, D., et al. (2009). Identification and validation of clinical predictors for the risk of neurological involvement in children with hand, foot, and mouth disease in Sarawak. BMC Infectious Diseases, 9(3).
8.  Shah, A. V., Chong, C. Y., Chan, W. P., Ng, W. & Ling, A. E. (2003). Clinical characteristics of an outbreak of hand, foot and mouth disease in Singapore. Ann Acad Med Singapore, 32(3), 381-387.
9.  Tu, P. V., Thao, N. T. T., Perera, D., Huu, T. K., Tien, N. T. K., Thuong, T. C., et al. (2007). Epidemiologic and Virologic Investigation of Hand, Foot, and Mouth Disease, Southern Vietnam, 2005 Emerging Infectious Diseases • www.cdc.gov/eid • 13(11).
10.WHO. (2008). Report on the hand, foot and mouth disease outbreak in Fuyang city, Anhui province and the prevention and control in China.
11.WHO. (2011). A Guide to Clinical Management and Public Health Response for Hand, Foot and Mouth Disease (HFMD).
12.WPRO. (2012). Severe hand, foot and mouth disease killed Cambodian children.
 
Tác giả bài viết: Hoàng Ngọc Anh Tuấn - Thái Quang Hùng và cộng sự Bệnh viện Đa khoa tỉnh ĐắkLắk, Trường Đại Học Tây Nguyên

Ý kiến bạn đọc

 
Điện thoại nóng
Phát hiện sớm Dị dạng hậu môn trực tràng
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP VIÊM MÀNG NÃO MỦ DO LIÊN CẦU LỢN (STREPTOCOCCUS SUIS)
Kết quả kiểm tra chất lượng bệnh viện 6 tháng đầu năm 2017
BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP NHIỄM TRÙNG HẬU SẢN NẶNG DO SANH THƯỜNG TẠI NHÀ
VIÊM MÀNG NÃO TĂNG BẠCH CẦU ÁI TOAN
Nhân một trường hợp bệnh nhân mắc bệnh Whitmore (Melioidosis) tại khoa Nội Tổng Hợp
Bóc tách động mạch chủ
UNG THƯ THỰC QUẢN
GÂY MÊ TRÊN BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯỜNG
Báo cáo trường hợp trẻ bỏ rơi
Thông báo kết quả kiểm tra vi sinh 6 tháng cuối năm 2016
LỊCH SỬ RA ĐỜI NGÀY RỬA TAY THẾ GIỚI 15/10 VÀ VAI TRÒ CỦA RỬA TAY THƯỜNG QUY TẠI BỆNH VIỆN
NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN
ĐẠI HỘI CHI HỘI ĐIỀU DƯỠNG
BỔ SUNG CÁC YẾU TỐ VI LƯỢNG TRONG THAI KỲ
Khoa Răng Hàm Mặt sánh bước cùng Operation Smile Việt Nam tại Bệnh viện tỉnh Đăk Lăk
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP BỆNH NHÂN ĐƯỢC VÁ SỌ TỰ THÂN TRÁN 2 BÊN TẠI KHOA NGOẠI THẦN KINH
VẤN ĐỀ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TĂNG SINH LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT
Hướng dẫn điều trị tăng Kali máu cấp ở người trưởng thành 2016
HO GÀ –BỆNH DỄ LÂY LAN Ở TRẺ EM

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 64
  • Hôm nay: 1877
  • Tháng hiện tại: 81642
  • Tổng lượt truy cập: 3139036
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang