bvvtn

NHỮNG CẤP CỨU DO DỊ VẬT THƯỜNG GẶP TRONG TAI MŨI HỌNG

Đăng lúc: Thứ tư - 01/04/2020 17:34 - Người đăng bài viết: admin
NHỮNG CẤP CỨU DO DỊ VẬT  THƯỜNG GẶP TRONG TAI MŨI HỌNG

NHỮNG CẤP CỨU DO DỊ VẬT THƯỜNG GẶP TRONG TAI MŨI HỌNG

Đây là những tai nạn gây đau, nhiễm trùng, áp xe, có khi ngạt thở chết người nếu không phát hiện và xử trí kịp thời, .
1. ĐẠI CƯƠNG
Đó là những dị vật từ chất vô cơ, hữu cơ, chất dẽo... thông thường xâm nhập vào đường ăn, đường thở, tai, mũi.. Đây là những tai nạn gây đau, nhiễm trùng, áp xe, có khi ngạt thở chết người nếu không phát hiện và xử trí kịp thời, .
Ở Việt Nam dị vật đường thở, dị vật tai, mũi...hay gặp ở trẻ em. Ngược lại dị vật đường ăn hay gặp ở người lớn...Dị vật có thể bất động, hoặc di động (dị vật sống). Xương từ thực phẩm ăn uống (gây viêm nhiễm sớm), trái lại nhựa, kim loại... ít kích thích (viêm nhiễm muộn). Với đường thở, dị vật có tinh dầu (hạt lạc -đậu phụng) bao giờ cũng nặng nề, nhiều biến chứng mặc dù đã được gắp bỏ...
2. MỘT SỐ CẤP CỨU DỊ VẬT THƯỜNG GẶP TRONG TAI MŨI HỌNG
2.1. DỊ VẬT ĐƯỜNG THỞ
2.1.1. Nguyên nhân
Trẻ em ngậm thức ăn, ngậm đồ chơi vào miệng. Người lớn có thói quen ngậm dụng cụ khi làm việc... đó là những điều kiện thuận lợi.
Dị vật lọt vào đường thở trong thì hít mạnh, sâu và đột ngột, sau một cơn cười, khóc hay khi quá ngạc nhiên, quá sợ hãi...
Do tai biến ở một số phẫu thuật: Nạo VA, gây mê, nhổ răng... Đôi khi do người lớn cho trẻ uống thuốc cả viên, cho ăn bột không cẩn thận bị sặc...
2.1.2. Triệu chứng lâm sàng
2.1.2.1. Hội chứng xâm nhập
Khi dị vật lọt vào đường thở sẽ xuất hiện một hội chứng lâm sàng điển hình: gọi là “HỘI CHỨNG XÂM NHẬP”. Bệnh nhân lập tức lên cơn ho sặc sụa dữ dội, kèm khó thở thanh quản điển hình: - Khó thở chậm, khó thở thì thở vào, khi thở vào có tiếng rít, co kéo các cơ hô hấp, tím tái vả mồ hôi; kích thích vật vả; có thể có rối loạn cơ tròn: Đái dầm, ỉa đùn... do phản xạ bảo vệ của thanh quản: Co thắt, không cho dị vật lọt vào và ho để tống vật lạ ra ngoài... Kết quả là:
- Em bé có thể chết ngạt trước khi cấp cứu.
- Có thể may mắn thoát chết nhờ dị vật được bắn ra trong một thì ho mạnh
  • Thông thường thì dị vật bị mắc kẹt lại ở một trong ba bình diện giải phẫu
của đường hô hấp dưới: Thanh quản - Khí quản - Phế quản. Tùy vị trí dị vật mà triệu chứng lâm sàng khác nhau:
2.1.2.2. Dị vật thanh quản
- Nếu dị vật to, nút kín thanh môn, bệnh có thể chết ngạt không kịp cấp cứu.
- Nếu dị vật nhỏ gọn như xương cá, hạt dưa, vảy ốc...sẽ có khó thở thanh quản điển hình... ho từng cơn, ho khan về sau khạc đờm, khàn tiếng.
Soi sẽ thấy dị vật, niêm mạc phù nề, đỏ, xuất tiết, đôi khi có ít giã mạc.
2.1.2.3. Dị vật khí quản
Dị vật thường di động lên xuống, gây ra những cơn khó thở khi chạm vào hạ thanh môn, nếu cố định ở khí quản thì có thể không khó thở nhưng cảm giác đau tức sau xương ức. Dùng ống nghe nghe trước khí quản sẽ có dấu hiệu phất cờ (lật phật cờ bay). Phim thực quản cổ nghiêng chẩn đoán. Nội soi sẽ thấy dị vật.
2.1.2.4. Dị vật phế quản
Thường gặp dị vật nhỏ, trơn, lọt qua thanh môn, khí quản và cố định ở phế quản gốc (bên phải nhiều hơn trái vì khẩu độ lớn và thẳng chiều với khí quản hơn trái). Có khi dị vật bị thay đổi vị trí khi bệnh nhân ho hoặc thay đổi tư thế.
Sau hội chứng xâm nhập, bệnh nhân hoàn toàn trở lại bình thường. Triệu chứng chỉ có khi có dấu hiệu viêm phế quản, hoặc biến chứng do dị vật gây ra: Bán xẹp hoặc xẹp hoàn toàn một phân thùy, một thùy, hoặc toàn bộ một bên phổi. Lúc này bệnh khó thở liên tục, nữa bên lồng ngực kém di động, rì rào phế nang giảm, ho khan sau có đờm, xẹp phổi (gõ đục) hoặc tràn khí (gõ vang).
X Quang phổi thẳng nghiêng có thể thấy hình dáng, vị trí, kích thước dị vật và các biến chứng của nó. Triệu chứng nhiễm khuẩn phụ thuộc vào bản chất dị vật và tuổi của bệnh nhân. Soi phế quản sẽ thấy dị vật.
2.1.3. Biến chứng
2.1.3.1. Xẹp phổi
         Do dị vật bịt kín, phế quản gốc hoặc một phân thuỳ nào đó của phổi phải hay trái. Bệnh nhân chỉ thở một bên hoặc phần còn lại của phổi. Lồng ngực kém di động, ngực hơi xẹp, nghe phổi giảm hay mất hẳn rì rào phế nang. chụp phổi thẳng thấy rõ xẹp phổi
2.1.3.2. Phế quản phế viêm
Là biến chứng thường gặp ở trẻ em (đặc biệt nặng nề nhất là hạt lạc) chỉ 2-3 ngày sau tai nạn. Khó thở, thở nhanh nông, co lõm hõm ức, thượng đòn, phập phồng cánh mũi, nghe phổi có ran 2 thì, lồng ngực có thể yên lặng bất thừơng do xẹp phế nang...,bộ mặt nhiễm trùng nhiễm độc, da mặt tái xám, mắt có quầng, mạch nhanh yếu, nước tiểu ít, có thể sốt trên 40 độC, hoặc hạ nhiệt dưới 37 độC, chân tay lạnh, đôi khi đã gắp dị vật cũng không cứu được bệnh nhi (hạt lạc).
2.1.3.3. Viêm màng phổi mủ
Sốt, khó thở, đau nửa bên ngực, khám có hội chứng 3 giảm của tràn dịch màng phổi. Chụp X quang có mức nước, chọc hút ra mủ...
2.1.3.4. Ap xe phổi
 Dị vật làm tắc phế quản, tiết nhầy, viêm nhiễm dẫn tới Ap xe phổi. Chẩn đoán xác định dựa vào lâm sàng và X quang. Những Ap xe do dị vật gây ra khác với Ap xe thường ở chổ sau gắp dị vật, hút mủ và chất xuất tiết vài lần sẽ khỏi không để lại di chứng, biến chứng lan ra màng phổi hiếm.
 
2.1.3.5. Giãn phế quản
Ho, khạc nhiều đờm có khi lẫn máu, đau tức ngực, sốt nhẹ kéo dài, gầy xanh, dễ nhầm lao phổi. X quang giãn phế quản một bên phổi, có thể thấy dị vật... (khai thác lại tiền sử họ mới nhớ “Hội chứng xâm nhập”cách vài tháng vài năm, thậm chí hàng chục năm.)
2.1.4. Chẩn đoán xác định
2.1.4.1. Lịch sử bệnh
Điển hình là HỘI CHỨNG XÂM NHẬP (có khoảng 75%). Cần lưu ý đôi khi dị vật đã được tống ra trong khi ho sặc sụa lúc hội chứng xâm nhập. Cũng có khi gia đình bố mẹ bệnh nhân không chứng kiến được hội chứng xâm nhập.
2.1.4.2. Dựa vào triệu chứng lâm sàng đặc trưng
- Dị vật thanh quản: Khó thở thanh quản, khàn tiếng, ho kích thích...
- Dị vật khí quản: Khó thở từng cơn, nghe trước khí quản có dấu hiệu lật phật cờ bay (tiếng phất cờ-cờ bay trước gió).
- Dị vật phế quản: Sau hóc vài ngày xuất hiện phế quản phế viêm, xẹp phổi, áp xe phổi...
- X quang: Có thể thấy được vị trí, kích thước, bản chất của dị vật..
- Nội soi: là động tác vừa chẩn đoán vừa điều trị.
2.1.5. Chẩn đoán phân biệt
   - Viêm thanh quản co thắt: Đột ngột xẩy ra khi đang ngủ vào ban đêm.
- Lao phổi Xét nghiệm lao Chụp phổi, máu lắng, đờm, IDR.
- Bạch hầu thanh quản: Đặc điểm giả mạc bạch hầu, soi tươi, nuôi cấy ...
2.1.6. Điều trị
Khi nghi ngờ hóc dị vật phải đánh giá được mức độ khó thở để cấp cứu.
Khi bị ngạt thở do dị vật mắc kẹt ở thanh quản chúng ta có thể làm thử nghiệm pháp heimlick (thầy thuốc đứng sau lưng nạn nhân hơi cúi người về phía trước, 2 tay ôm vào vùng bụng đột ngột kéo ra sau lên trên gây một áp lực lên cơ hoành cho nạn nhân thở ra mạnh để tống dị vật ra ngoài. (Tuyệt đối không được làm nghiệm pháp này khi dị vật đã nằm yên một vị trí nào đó trong khí phế quản).
Nội soi Thanh-Khí-Phế quản gắp dị vật là phương pháp duy nhất. Nhưng cần lưu ý cấp cứu khó thở, mở khí quản trước khi quản chuyển lên tuyến trên).
2.1.7. Tiên lượng
Phụ thuộc vào các yếu tố sau:
  • Bản chất dị vật: Các chất hữu cơ: Xương, hạt trái cây...nguy hiểm hơn
Các chất kim khí, chất dẽo...
- Tuổi bệnh nhân: Người càng già và trẻ càng nhỏ tiên lượng càng nặng.
- Thời gian đến khám: Càng trễ dị vật càng khó lấy vì viêm và biến chứng.
- Phụ thuộc vào trang bị nội soi, khả năng hồi sức, trình độ thầy thuốc nội soi... Tỷ lệ biến chứng dị vật 25 %, tỷ lệ tử vong 2-5 %.
2.1.8. Phòng bệnh
- Tuyên truyền tính chất nguy hiểm của dị vật đường thở, giáo dục không cho trẻ ngậm đồ chơi, không cho ăn những thức ăn dễ hóc, không cho uống thuốc cả viên... Người lớn không ngậm dụng cụ khi làm việc. Nếu bị hóc hoặc nghi ngờ hóc đường thở cần đi bệnh viện khám ngay.
- Trẻ em khi có ho, khó thở kéo dài không rõ nguyên nhân cần nghĩ tới dị vật đường thở bị bỏ quên trước khi tìm các nguyên nhân khác.
2.2. DỊ VẬT ĐƯỜNG ĂN
Ở Việt Nam, hầu như 100% người trưởng thành đều có hóc 1 lần trở lên. Dị vật đường ăn gặp nhiều hơn dị vật đường thở, người lớn mắc nhiều hơn trẻ em (ở nước ngoài thì ngược lại). Ngoài xương đôi khi có cả dị vật sống :tôm, cá, đỉa..đặc biệt hiện nay có pin nhỏ sử dụng cho đồng hồ điện tử hay máy tính là loại dị vật nguy hiểm nhất do tính chất a xít của nó.
Dị vật có thể mắc ở vùng họng mũi - họng miệng - Họng thanh quản: cũng có thể mắc sâu trong thực quản (nguy hiểm hơn).
Do thực quản nằm cạnh các động, tỉnh mạch lớn vùng đầu mặt cổ (động mạch cảnh gốc, tỉnh mạch cảnh trong, thân động mạch cánh tay đầu, quai động mạch chủ,... Vì vậy có thể biến chứng thủng các mạch máu lớn, hoặc nhiễm trùng máu, khó thở...gây tử vong nếu không chẩn đoán đúng và điều trị kịp thời.
2.2.1. Dị vật họng
2.2.1.1. Dị vật vòm mũi - họng
Vào đường mũi hoặc từ họng sặc lên mũi (thường là hạt cơm, chỉ cần hỷ mũi là hết). Nếu là xương bệnh nhân sẽ đau vùng trên họng, viêm, chảy mũi một bên, soi gắp dị vật theo đường miệng hoặc đường mũi.   
2.2.1.2. Dị vật họng - miệng
Là những dị vật nhỏ, nhọn, sắc như xương cá, xương dăm... bị mắc ở:
- Amidan khẩu cái, các trụ A.
  • Đáy lưỡi, rãnh lưỡi A, hố lưỡi thanh thiệt
  • Xoang lê, miệng thực quản
  • Thành sau họng...
Bệnh nhân nuốt đau, nhưng đôi khi vẫn ăn được. Khám họng gắp dị vật dễ dàng. Tuy vậy, nhiều khi khó khăn do dị vật quá bé như xương dăm, ngắn...
Cần chẩn đoán phân biệt với loạn cảm họng (cũng nuốt đau rõ khi nuốt nước bọt, nhưng ăn cơm uống nước bình thường...)
2.2.1.3. Dị vật hạ họng - thanh quản
Đây là tầng thấp nhất của họng, thường là những dị vật lớn, góc cạnh
(xương gà, hàm răng giả).... Bệnh nhân nuốt rất đau, không ăn, uống được, miệng  nhiều nước bọt, dị vật to có thể gây khó thở. Soi có thể thấy dị vật ở đáy xoang lê, nẹp phểu- thanh thiệt, rãnh lưỡi-thanh thiệt, sụn phểu..
X quang: Phim thực quản cổ ngiêng có thể thấy vị trí, kích thước dị vật .
Điều trị: Soi gắp dị vật theo dõi điều trị hoặc cho về.
2.2.2. Dị vật thực quản
2.2.2.1. Nguyên nhân
- Do sử dụng và chế biến thực phẩm có xương không hợp lý xương .              
- Ăn vội vàng, cười đùa trong khi ăn, nuốt ẩu nuốt vội khi say rượu.
- Ngậm các dị vật nhỏ vô tình nuốt.
- Răng kém hoặc không có răng ở người già và các cháu bé.
- Thực quản: Bình thường đã có 3 chổ hẹp sinh lý:
+ Miệng thực quản: Độ 14-15 cm cách cung răng trên (CCRT- người lớn)           
+ Cung động mạch chủ và phế quản gốc trái vắt qua.(25-27cm CCRT).
+ Thực quản chui qua cơ hoành,.một số tác giả đề cập hẹp ở đoạn cuối thực quản (tâm vị). Ngoài ra có thể hẹp do: khối u, sẹo, túi thừa, co thắt... Lâm sàng 80 % đoạn thực quản cổ; 12 % thực quản ngực, chỉ 8 % đoạn cơ hoành tâm vị.(Tại Huế có tỷ lệ: 81,2%-16,7% và 2,1%; Trần phương Nam, Nguyễn Tư Thế)
2.2.2.2. Triệu chứng
- Giai đoạn đầu: Nuốt đau với các mức độ khác nhau, phải bỏ dở bửa ăn, có người nuốt thêm miếng rau, miếng cơm... Đây là việc làm nguy hiểm, làm xương cắm sâu thêm. Thông thường họ khạc mạnh, cảm giác đau ở cổ, không nuốt gì cũng đau, đau ngày một tăng, nếu hóc đoạn thực quản ngực, sẽ đau sau xương ức, lan ra sau lưng, lan ra bả vai.
Triệu chứng dị vật thực quản không ồ ạt như dị vật đường thở, nhưng nếu to như quả trứng, hạt trái cây, miếng thịt quá lớn) có thể gây ngạt thở. Với dị vật nhỏ mỏng chỉ gây khó nuốt, cảm giác về vị trí có khi không ăn khớp vị trí dị vật.
- Giai đoạn viêm nhiễm
Nếu là xương thì viêm nhiễm xẩy ra sớm. Chỉ sau 1-2 ngày các triệu chứng nuốt đau vùng cổ, vùng ngực tăng nhanh, không thể ăn được, thậm chí không dám uống nước mặc dù rất đói và khát. Viêm tổ chức lỏng lẻo quanh thực quản hoặc áp xe dưới niêm mạc xuất hiện, sốt 38-39độC, bộ mặt nhiễm trùng.
Soi hạ họng có nhiều nước bọt ở 2 xoang lê, máng cảnh bị đầy (thường bên trái). Ân bờ trước cơ ức đòn chũm (tầm sụn nhẫn) bệnh nhân kêu đau. Tiếng lọc cọc thanh quản cột sống giảm hoặc mất.
Phim thực quản cổ nghiêng: Khoảng cách giữa Thanh-Khí quản và Cột sống dày gấp 3 lần bình thường (do thực quản cổ bị sưng, hoặc có Ap xe). Có thể thấy dị vật cản quang. Cột sống cổ mất chiều cong sinh lý.
Soi thực quản: Thấy dị vật, niêm mạc viêm phù nề, có giả mạc, mủ thối.
- Giai đoạn biến chứng
Do không được điều trị, tổn thương lan rộng ra ngoài thực quản hoặc dị vật đã xuyên thủng thành thực quản gây ra viêm tấy xung quanh thực quản cổ.
+  Viêm tấy Ap xe quanh thực quản cổ
Triệu chứng nhiễm trùng gia tăng. Toàn thân sốt cao, suy sụp, nhiễm trùng, nhiễm độc rõ, không còn ăn uống được, miệng chảy nhiều nước bọt, hơi thở hôi, cổ nghoẹo sang 1 bên, sưng cổ quay cổ khó khăn, máng cảnh đầy (thường bên trái, mất dấu hiệu chạm cột sống (lọc cọc thanh quản cột sống)
X quang: Cột sống cổ thẳng, mất chiều cong sinh lý, thực quản dày, có thể thấy những bóng hơi nhỏ (dấu hiệu Minegerod) do vi trùng kỵ khí sinh hơi hay áp xe . Soi thực quản giai đoạn này rất nguy hiểm (vở Ap xe vào trung thất). Lúc này nếu không được điều trị, túi mủ sẽ phát triển xuống trung thất, nhiễm trùng máu, tử vong do nhiểm khuẩn nhiểm độc, bệnh không bao giờ tự khỏi.
 + Viêm tấy, áp xe trung thất
Do ap xe quanh thực quản lan xuống hoặc dị vật xuyên thủng vào trung thất.
Bệnh cảnh nhiễm trùng, nhiểm độc, sốt cao tăng lên, hoặc nhiệt độ thấp hơn bình thường, đau ngực, khó thở tăng lên, dáng đi lom khom, mạch nhanh yếu, huyết áp hạ, có thể có tràn khí dưới da; đôi khi gõ ngực có tiếng trong, nước tiểu ít, đỏ, có Albumine. X quang trung thất giãn rộng, có hơi, tiên lượng rất nặng.
 +  Biến chứng phổi
Viêm màng phổi mủ: Sốt đau ngực, khó thở, tràn dịch màng phổi, chọc dò có mủ.
 + Dò khí thực quản:
Dị vật xuyên thủng thành trước thực quản vào thành sau khí quản, tạo thành đường dò, mỗi lần nuốt (ăn, uống) bệnh nhân ho...
 + Thủng mạch máu lớn
Do dị vật chọc trực tiếp vào mạch máu lớn hoại tử dần, vì vậy biến chứng thường sau 1 tuần trở đi, không có tiền triệu, khi xẩy ra không kịp cấp cứu, bệnh nhân tử vong nhanh chóng. Mạch máu thường bị thương tổn là: Động mạch cảnh gốc, tỉnh mạch cảnh trong, thân động mạch cánh tay đầu, quai động mạch chủ.. 2.2.2.3. Chẩn đoán
- Chẩn đoán xác định
   + Dựa vào tiền sử có hóc xương, dựa lâm sàng đau họng, nuốt đau, sưng đau và ấn máng cảnh có điểm đau chói,
+ Dựa vào X quang: Có thể thấy dị vật, viêm tấy hoặc đã có áp xe.
+ Dựa vào nội soi: Là phương pháp vừa chẩn đoán vừa điều trị. 
- Chẩn đoán phân biệt
+ Loạn cảm họng (còn gọi hóc xương giả): Cảm giác nuốt vướng, nuốt đau, như có dị vật, khi nuốt nước bọt, nhưng khi ăn uống hoàn toàn bình thường. Loạn cảm họng gặp trong Hội chứng dạ dày tá tràng, trào ngược dịch vị, viêm Amygdales, viêm xoang sau mãn tính, hội chứng cổ, tâm thần, phụ nữ thời kỳ tiền mãn kinh. khám, X quang, soi... không có dị vật.
+ Ung thư thực quản, hạ họng - thanh quản giai đoạn đầu: Cũng nuốt đau...
+ Bệnh tâm thần...
2.2.2.3. Điều trị
- Giai đoạn đầu: Khi mới hóc, chụp phim, soi gắp dị vật cho bệnh nhân về, tùy tình trạng tổn thương có thể cho kháng sinh hoặc không.                                   - Giai đoạn viêm nhiễm: Soi gắp dị vật, điều trị kháng sinh (kèm vi khuẩn kỵ khí), giảm viêm, bồi phụ nước, điện giải, nâng cao thể trạng...
- Giai đoạn biến chứng: Tùy biến chứng mà điều trị thích hợp: Nếu Ap xe quanh thực quản: Mở cạnh cổ (Cervicotomie), gắp dị vật, ăn qua sonde thực quản, kháng sinh (kỵ khí), giảm viêm, trợ tim mạch.... Nếu Ap xe trung thất; mở trung thất dẫn lưu, viêm màng phổi mủ: chọc màng phổi hút mủ.... Khi bệnh nặng do dị vật khó lấy hoặc biến chứng phải chuyển lên tuyến trên cần chú ý hồi sức toàn trạng.
2.2.2.4. Phòng bệnh
- Tuyên truyền sâu rộng về tính chất nguy hiểm của dị vật đường ăn.
- Nên có thói quen ăn chậm nhai kỹ, chế biến thực phẩm có xương tốt.
- Tránh ngậm dụng cụ khi làm việc; cấm trẻ em ngậm đồ chơi .
- Không điều trị bằng chữa phép, cúng bái, các phương pháp phi khoa học...
- Đừng coi hóc xương là xấu, khi bị hóc hay nghi ngờ hóc nên đi khám và điều trị sớm (tốt nhất là đúng chuyên khoa Tai Mũi Họng).

2.3. DỊ VẬT ỐNG TAI

2.3.1. Đại cương
            Đây là một cấp cứu rất phổ biến, trẻ em nhiều hơn người lớn (các loại hạt, cát sạn...), mùa hè nhiều hơn mùa đông (mùa hè hay nằm nơi thông thoáng, không quàng khăn, không đội mũ...) côn trùng (con gián) chui vào ống tai.
Nếu khám và xử trí không đúng quy cách có thể đưa lại những hậu quả không lường với ống tai và tai giữa đặc biệt gây thủng màng nhĩ... từ viêm tai giữa đến viêm tai xương chũm gây biến chứng nội sọ.
2.3.2. Bản chất dị vật
            Có thể là dị vật sống, vận động rất mạnh trong ống tai hoặc bất động nằm yên trong ống tai. là chất có nguồn gốc từ hữu cơ, vô cơ, chất dẽo, chất trơ
2.3.2.1. Dị vật sống
Đó là các loại côn trùng như con gián, cào cào, châu chấu, con bét (từ chó, mèo - động vật nuôi trong nhà), con ong hoặc do bất kể một loại côn trùng nào chui lọt được vào ống tai.
Do dị vật sống nên có thể vận động mạnh trong ống tai, đụng chạm vào màng nhĩ gây cảm giác sợ hãi, lo lắng, đau đớn cho nạn nhân. Vì vậy đây là một cấp cứu thật sự, chân và răng côn trùng rất sắc gây chấn thương chảy máu...
2.3.2.2. Dị vật bất động
Là những dị vật nằm yên trong ống tai, có thể do tự nhét vào tai (tuổi nhà trẻ mẫu giáo). Đó là các loại hạt trái cây, hạt lúa, hạt cát sạn...Hạt lúa rất hay gặp ở nông thôn. hạt lúa rất nhám và sắc có thể gây tổn thương ống tai và màng nhĩ nếu lấy bỏ không khéo, trong điều kiện vô cảm không tốt.
2.3.3. Lâm sàng
            - Nếu là dị vật sống (thường là côn trùng nhỏ) thì đây là một cấp cứu ngay bất kỳ thời gian nào. Vì côn trùng vào ống tai khó quay lại nên tìm đường ra. chân, cánh, đầu... của côn trùng  cào cấu vào thành ống tai và màng nhĩ gây đau đớn, khó chịu, có thể có ù tai, chóng mặt, nghe kém và đặc biệt nghe tiếng sột soạt của côn trùng... Máu có thể chảy ra ống tai. Nạn nhân lo lắng, mất ăn, mất ngủ phải đến ngay bệnh viện. Lúc này có người đổ nước vôi, nước điếu, dầu hoả... vào tai ...gây biến chứng càng trầm trọng hơn.
            - Nếu dị vật bất động (đồ chơi, hạt trái cây, viên sỏi nhỏ...) chỉ gây nghe kém hay khi viêm nhiễm, chảy mủ tai, tai có mùi hôi... mới phát hiện ra
2.3.4. Chẩn đoán
            Dễ dàng phát hiện ra khi soi ống tai, màng nhĩ.
- Với côn trùng thấy ngay đuôi, chân cánh... đang cử động.
- Với con bét thấy con bét bám chặt vào thành ống tai, đôi khi gần sát màng nhĩ, ống tai thường có phân của nó thải ra sau chỉ vài giờ chui vào ống tai
- Với những viêm tai giữa không được chăm sóc tốt đôi khi phải gắp ra rất nhiều dị vật là con ruồi chết mới khám được màng nhĩ, thậm chí có cả dòi lúc nhúc hàng chục con với mủ thối lẫn máu...
2.3.5. Điều trị
2.3.5.1. Dị vật sống
            - Phải giết chết dị vật sống trước khi loại bỏ để côn trùng không gây tổn thương thêm ống tai màng nhĩ, cũng như lấy dị vật ra được trọn vẹn.
Có thể giết côn trùng bằng thuốc mê, hoặc các loại dung dịch gây ngạt như dầu Parafin, mật ong, dầu lạc.. ngay cả nước sạch cũng được. Tuyệt đối không dùng các loại hoá chất axit hoặc kiềm gây bỏng da như nước vôi, dấm...
2.3.5.2. Dị vật bất động
            - Nếu dị vật trơn, tròn, chắc... phải dùng curet vòng hoặc thìa khẽ lách vào  quá nữa bán cầu (đường kính) dị vật rồi khều (kéo) dần ra.
            - Nếu dị vật nhỏ nhẹ, mềm có thể dùng panh gắp ra bình thường hoặc dùng bơm tiêm bơm nước muối sinh lý vào để  dị vật cuốn theo dòng nước ra ngoài.
2.3.5.3. Nguyên tắc săn sóc sau khi loại bỏ dị vật
Sau khi loại bỏ dị vật không được dùng một loại dung dịch thuốc nào nhỏ vào tai mà phải tuân thủ nguyên tắc làm thuốc tai khô như một chấn thương ống tai và màng nhĩ. Nếu chấn thương nặng phải săn sóc điều trị kháng sinh toàn thân và tại chổ để tránh viêm tai giữa và xương chũm sau này. Nếu bị thủng màng nhĩ phải đưa vào phòng mổ dặt lại màng nhĩ dưới kính hiển vi.
2.3.6. Phòng bệnh
- Mùa hè không nên nằm khi không có màn che chắn côn trùng.
- Có thể dùng bông nhét ống tai lại khi phải nằm ở chỗ nguy cơ côn trùng chui vào tai cao. Nếu không may côn trùng chui vào, phải đến ngay cơ sở y tế có Bác sĩ chuyên khoa TMH gắp dị vật.
  • Nhân viên y tế cần tuyên truyền cho các cô bảo mẫu, các thầy cô tiểu
học giáo dục các cháu không cho dị vật vào tai nhau hoặc tự bỏ vào tai.
- Thầy thuốc TMH phải khám đánh giá cẩn thận bản chất dị vật và tiên lượng khả năng loại bỏ dị vật (người lớn có thể lấy ngay ở phòng khám nhưng với trẻ em phải gây mê để hạn chế chấn thương do trẻ dãy dụa gây ra).
 
2.4. DỊ VẬT HỐC MŨI
2.4.1. Đại cương
            - Dị vật mũi không phải hiếm , cả người lớn và trẻ em đều có thể mắc.
- Giải phẩu hốc mũi có nhiều khe kẽ, lỗ Ostium thông với xoang hàm.
- Mũi lại rất giàu mạch máu dễ gây chảy máu khi viêm, khi gắp bỏ dị vật
-Trong chỉnh hình mũi... thường dùng các vật liệu silicol, hay các chất nhân tạo khác. Mổ trĩ mũi phương pháp Éryes, (độn lông nhím, chất silicol) cũng làm cho mũi mang dị vật (thầy thuốc cố tình gây ra).
2.4.2. Bản chất dị vật
            Có thể chất hữu cơ, vô cơ, chất dẽo, sành sứ, thuỷ tinh... Có thể chia làm 2 loại: Dị vật sống di động và dị vật nằm yên cố định.
2.4.2.1. Dị vật sống
            - Đĩa, vắt, tắc te, ...hút máu nên có thể sống lâu dài trong hốc mũi.
            - Nguyên nhân: Thường gặp ở người lớn bị sên, vắt rừng...nhảy vào mũi khi đi rừng, tắm hay uống nước khe, suối ...
2.4.2.2. Dị vật cố định
            - Kim loại như ốc vít, viên bi, mẫu đồ chơi, các loại hạt hoa quả, đuôi bút, cúc áo, viên pin (có a xít khi tan rữa gây viêm loét mạnh)...do trẻ nghịch nhét vào mũi. Dị vật bịt kín hốc mũi, gây viêm loét (viên pin), gây chảy máu...
- Dị vật cũng có thể cắm vào hốc mũi do một tai nạn (té ngả bị xóc vào mũi) được phát hiện sớm hay rất muộn.
2.4.3. Lâm sàng
            Triệu chứng không ồn ào rầm rộ như dị vật đường thở, dị vật tai...không
đau khi nuốt kiểu dị vật đường ăn, chỉ biểu hiện “Hội chứng mũi xoang.”: Đó là ngạt mũi, chảy mũi, rối loạn khứu giác và đau nhức vùng mũi xoang tương ứng.
Tuy vậy có những điểm gợi ý sau:
            - Nếu là dị vật sống như đĩa, vắt, tắc te... thì cảm giác nhột nhột và có dấu hiệu con vật di động trong hốc mũi. Có thể có kích thích hắt hơi, sổ mũi đặc biệt có chảy máu mũi.
            - Nếu dị vật cố định: Ngạt mũi đột ngột, trước đó không có viêm long đường hô hấp trên. Tuy vậy từ tắc mũi có thể chuyển sang chảy mũi loảng hôi thối thậm chí dị vật để lâu gây viêm loét hoại tử trong hốc mũi... nhưng đặc biệt dị vật thường chỉ có một bên, hiếm khi có hai bên cùng một lúc.
            - Khám mũi: Nếu đĩa, vắt, tắc te... khi có ánh sáng chiếu vào hay đụng panh vào nó sẽ tụt vào lẫn trốn trong các ngóc ngách khe kẽ của hốc mũi, phải “phục kích” chờ đợi thăm khám nhiều lần mới phát hiện chính xác dị vật sống.
            - Nếu dị vật cố định lâu ngày thì niêm mạc mũi phù nề xuất tiết khó thấy dị vật phải làm sạch mới xác định được đặc điểm hình dáng dị vật.
- Nếu dị vật vô cơ sẽ thấy dấu hiệu chạm kim khí khi dùng que kim loại thăm dò. Cần thao tác thật nhẹ nhàng tránh chảy máu và gây đau đớn.
            - Cần chụp phim Blondeau, sọ thẳng sọ nghiêng để đánh giá vị trí kích thước dị vật cản quang.
2.4.4. Chẩn đoán
         - Dựa vào lâm sàng có hội chứng mũi xoang. Ngạt mũi, chảy mũi, mất hoặc giảm khứu giác, đau nhức trong mũi.
  •  Dựa vào dịch tễ: Trẻ em lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo...
  • Người lớn có làm việc trong rừng, có uống nước khe, suối... có điều kiện tiếp xúc với đĩa vắt, tắc te...
            - Tiền sử bệnh nhân bị té ngã, có dị vật đâm vào vùng mũi xoang...
            - Dựa vào X quang và nội soi mũi xoang.
            Tóm lại cần nhớ: Trẻ em (tuổi nhà tre mẫu giáo) tự nhiên ngạt mũi, chảy mũi hôi thối, chảy máu, một bên, thì đầu tiên phải nghĩ tới dị vật mũi!
2.4.5. Điều trị
            Cần thao tác nhanh, chuẩn bị cầm máu kỹ vì rất dễ chảy máu.
2.4.5.1. Với dị vật sống
            - Đặt thuốc tê cho con vật say, liệt hoặc giết chết trước khi gắp ra. Trong dân gian họ dùng bát nước đặt trước mũi để dụ con đĩa, vắt… ra nhưng chắc phải chờ rất lâu mới có kết quả.
2.4.5.2. Với dị vật cố định
  • Cần tiên lượng dị vật khó hay dễ gắp để thao tác dứt khoát mới thành công. Cụ thể những dị vật gắp chặt thì lựa chiều kéo ra. Những dị vật tròn nhẵn, panh gắp bám không chắc có thể đẩy dị vật vào sâu hơn, thì cần dùng dụng cụ như curette đưa vào quá nữa bán cầu dị vật rồi khều ra.
  • Nếu không may tuyến trước đã lấy không thành công, dị vật bị tụt vào quá sâu thì có thể dùng que tăm bông đẩy ra cữa mũi sau nhưng phải có đè lưỡi hứng vùng họng miệng sát thành sau họng. Thật ra cách lấy này không nên làm vì có thể trở thành dị vật đường thở vì trong khi đứa trẻ khóc hít hơi vào đúng lúc dị
vật rơi xuống họng.
2.4.5.3. Chăm sóc điều trị sau khi loại bỏ dị vật
            - Chú ý cầm máu do dị vật và thao thác gắp dị vật gây ra, thường chỉ nhét mèche mũi trước là đủ không cần đến nhét mèche mũi sau.
            - Nhỏ các thuốc co mạch chống phù nề và chảy máu
            - Bôi mở kháng sinh, nếu viêm loét nặng phải dùng kháng sinh toàn thân.
2.4.6. Phòng bệnh
            - Giáo dục tuyên truyền cho các bậc cha mẹ và cô nuôi dạy trẻ (đặc biệt nhà trẻ mẫu giáo) không cho trẻ đưa dị vật vào mũi.
            - Ăn chín uống sôi, không uống nước khe suối.
            - Khi có biểu hiện bất thường nghi dị vật trong mũi nên đến cơ sở y tế có chuyên khoa TMH khám và điều trị./.

Tác giả bài viết: BS. Võ Nguyễn Hoàng Khôi (Khoa Tai Mũi Họng)
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Số ĐT đặt lịch khám bệnh
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN, Địa chỉ: 184 Trần Quý Cáp- Phường Tự An- TP Buôn Ma Thuột- tỉnh Đắk Lắk, Điện thoại nóng: 0262. 3919009 - 0262. 3852654
Điện thoại phòng KHTH
DÒ LUÂN NHĨ
KHOA NGOẠI THẦN KINH – BV ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN PHẪU THUẬT THÀNH CÔNG CA MỔ U NÃO CÓ DÙNG MÁY ĐỊNH VỊ THẦN KINH
NHỒI MÁU NÃO LỖ KHUYẾT (LACUNAR STROKE)
THIẾU MEN G6PD
Kiểm soát đường huyết chu phẫu
SƠ KẾT VÀ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CÔNG TÁC ĐIỀU TRỊ COVID-19 TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
Thông báo mời thầu: mua sắm thuốc Generic dự án mua thuốc cấp cơ sở năm 2020
UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG
Hoạt động từ thiện Bệnh viện
GÂY MÊ HỒI SỨC CHO BỆNH NHÂN TĂNG ÁP ĐỘNG MẠCH PHỔI PHẪU THUẬT NGOÀI TIM
PHẪU THUẬT CA THỨ HAI DỊ TẬT TIM BẨM SINH THÀNH CÔNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN
Thông báo mời thầu: gói thầu vật tư y tế, test chẩn đoán nhanh
Hưởng ứng Tuần lễ “Dinh dưỡng và Phát triển” năm 2020: DINH DƯỠNG HỢP LÝ ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
XUẤT HUYẾT NÃO DO TĂNG HUYẾT ÁP
SIÊU ÂM PHỔI TRONG NỘI KHOA
HỘI CHỨNG TIÊU CƠ VÂN CẤP
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN TỔ CHỨC LỄ HỘI RỬA TAY NĂM 2020
PHẪU THUẬT BÓC NHÂN XƠ TỬ CUNG/CẮT TỬ CUNG TRONG PHẪU THUẬT PHỤ KHOA
Thông báo mời thầu gói thầu:Mua thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền năm 2020 thuộc DM thuốc đấu thầu cấp cơ sở
PHÒNG VÀ TRỊ CẢM MẠO PHONG HÀN BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 15
  • Hôm nay: 4195
  • Tháng hiện tại: 18550
  • Tổng lượt truy cập: 11423854
Cổng dịch vụ công quốc gia
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang