Nên Sanh Ngã Âm Đạo Hay Mổ Lấy Thai

Đăng lúc: Thứ hai - 13/06/2016 22:48 - Người đăng bài viết: admin
Nên Sanh Ngã Âm Đạo Hay Mổ Lấy Thai

Nên Sanh Ngã Âm Đạo Hay Mổ Lấy Thai

Tình hình MLT trên thế giới và tại Việt Nam Trong khoảng 3 thập kỷ gần đây, số trường hợp sanh mổ tiếp tục tăng cao trên thế giới: - Mỹ: tỉ lệ MLT là 21% năm 1996. Năm 2011 tỉ lệ này là 32,8%. - Ở các nước Âu Châu: tỉ lệ MLT hiện nay là 30%.
Một nghiên cứu ở 9 quốc gia châu Á cho thấy MLT đã đạt đến mức độ "dịch" với tình trạng MLT không cần thiết tăng cao, trong đó, Trung Quốc có 25% các trường hợp MLT không vì lý do y khoa. - Ở Brazil: Bệnh viện công có tỉ lệ MLT là 35% - BV tư là 70%. 3 - Ở Na Uy: tỉ lệ MLT là 1,8% (1967) tăng lên 16,4% (2006).
- Việt Nam: Tại BV Phụ Sản Trung ương, MLT vào những năm 60 là 9%, đến năm 2005 con số này tăng lên gần 40%. Trong cuộc khảo sát thực hiện vào năm 2007 - 2008 ở 122 bệnh viện công và tư nhân, chọn ngẫu nhiên tại các nước Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Nepal, Philippines, Srilanca, Thái Lan và Việt Nam thì đứng đầu tỉ lệ MLT là Trung Quốc với tỉ lệ 46%, kế đến là Việt Nam (36%), Thái Lan (34%), Ấn Độ (18%), thấp nhất là Campuchia (15%).
 
I. Nguyên nhân tăng tỉ lệ MLT
 
Nguyên nhân tăng tỉ lệ MLT có thể là do:
 
A.Về phía người bệnh:
- Số người sanh con so tăng làm tăng nguy cơ sanh khó.
- Mẹ lớn tuổi mới mang thai.
- Máy theo dõi tim thai giúp phát hiện sớm những trường hợp suy thai và vì vậy phải MLT để cứu thai nhi.
- Nhiều can thiệp sớm vào quá trình chuyển dạ dễ dẫn đến phải MLT: tăng co khi cổ tử cung không thuận lợi.
- Ngôi thai bất thường đặc biệt là ngôi mông: MLT tăng từ 30% lên 86% (1976-1996) - Song thai: MLT tăng từ 13% lên 47% (1976-1996).
- MLT thay cho thủ thuật kéo kềm cao và trung bình.
- MLT trong trường hợp có vết mổ lấy thai cũ. Khi đã có MLT cũ thì người ta có khuynh hướng mổ lấy thai lặp lại trong những lần mang thai kế tiếp (90%).
- Càng ngày càng có nhiều người muốn MLT mà không có lý do y khoa nào như sợ đau đẻ, muốn giữ sự rắn chắc của tầng sinh môn như khi chưa sanh, sanh theo lá số tử vi. Vấn đề quan trọng là sản phụ và thân nhân chưa hiểu rõ về lợi và hại của MLT, trong tư tưởng họ luôn nghĩ rằng MLT là an toàn nhất cho mẹ và con.
 
B.Về phía bác sĩ:
- Chi phí trả công cho bác sĩ MLT cao hơn đỡ sanh thường.
- MLT không mất nhiều thời gian như khi theo dõi để sanh thường (20-30 phút thay vì 12 giờ).
- 82% bác sĩ mổ sanh vì sợ bị kiện thưa không theo dõi để xảy ra tai biến. Do đó, ca mổ thường thực hiện vào ban ngày và trong những ngày làm việc.
- Mổ theo yêu cầu ở các bệnh viện tư và tâm lý bác sĩ cũng thích mổ vì đỡ mất thời giờ theo dõi cuộc chuyển dạ dài mà lại thu viện phí nhiều hơn.
 
II.So sánh lợi ích và nguy cơ giữa MLT và sanh ngả âm đạo
 
Sanh đẻ tuy là một tiến trình sinh lý bình thường nhưng vẫn tiềm ẩn những nguy cơ cho mẹ và thai nhi dù là sanh thường hay sanh mổ. Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ dựa trên y học chứng cứ để đưa ra bảng so sánh lợi ích và nguy cơ của MLT so với sanh thường sau đây và họ cho rằng ngoại trừ một số trường hợp chắc chắn phải MLT như nhau tiền đạo trung tâm, nhau bong non thể nặng,… còn các trường hợp thai kỳ nguy cơ thấp thì MLT có thể làm tăng bệnh suất và tử suất cho mẹ nhiều hơn so với sanh thường
 
Bảng 1: So sánh lợi ích và nguy cơ giữa MLT và sanh ngả âm đạo
  Biến chứng Nguy cơ
Mẹ Sanh ngả âm đạo Sanh mổ
Tỉ lệ tử vong mẹ 3,6:100.000 13,3:100.000
Thuyên tắc ối 3,3–7,7:100.000 15,8:100.000
Rách tầng sinh môn độ 3,4 1,0–3,0% 0
Bất thường nhau bám Tăng cao trong sanh mổ hơn sanh thường , nguy cơ càng tăng theo số lần MLT của các lần sanh sau
Tiểu không kiểm soát Không có sự khác biệt giữa sanh ngả âm đạo và sanh mổ
Trầm cảm sau sanh Không có sự khác biệt giữa sanh ngả âm đạo và sanh mổ
 
Trẻ sơ sinh Sanh ngả âm đạo Sanh mổ
Dao cắt vào da 0 1,0–2,0%
Suy hô hấp cấp < 1,0% 1,0–4,0% (mổ chủ động)
Kẹt vai 1,0–2,0% 0%
 
Người ta thường lầm tưởng MLT là an toàn tuyệt đối. Thực tế cho thấy tỉ lệ tử vong mẹ và tử vong chu sinh ở các trường hợp MLT cao hơn so với các trường hợp sanh thường. Tỉ lệ tử vong mẹ trong MLT tăng gấp 4 lần so với sanh thường, ngay cả mổ chủ động tỉ lệ tử vong mẹ tăng 2,84 lần.
 
Nguyên nhân của những nguy cơ trong MLT là do tai biến gây tê mê, do chảy máu, nhiễm trùng, tổn thương đường tiết niệu, do thuyên tắc mạch.
 
Ngoài ra, sẹo mổ trên tử cung có thể bị nứt trong những thai kỳ sau, nếu không xử trí kịp thời thì có thể dẫn đến tử vong cả mẹ lẫn con – nhất là nếu thời gian giữa hai lần mang thai quá gần (vết mổ mới). Tai biến xa còn phải kể đến bệnh lạc nội mạc tử cung, dính ruột, tắc ruột, nhau tiền đạo (tăng nguy cơ 1,7 lần), nhau cài răng lược (xảy ra trong 10% trường hợp nhau tiền đạo), nhau bong non (tăng nguy cơ 30%), thai ngoài tử cung (TNTC), đặc biệt thai đóng ở eo tử cung ngay vết mổ ngang cũ, MLT ít nhất một lần có thể bị TNTC ở sẹo mổ lấy thai từ 4,1- 6,2%.
 
Khả năng có thể có thai lần sau của người đã mổ một lần là 66,9% so với người sanh thường là 73,9%. Tỉ lệ phải sanh giúp trong lần sanh sau là 71,6%.
 
Còn một vấn đề cũng không kém phần quan trọng là so với trường hợp sanh thường, thời gian nằm viện của sản phụ MLT sẽ dài hơn, tốn kém nhiều hơn, đau đớn hơn, sự chăm sóc và cho con bú cũng bị ảnh hưởng.
 
Vì vậy, cần phải cân nhắc kỹ lưỡng khi chỉ định MLT để tạo sự an toàn tối đa cho mẹ và con. MLT theo đúng chỉ định sẽ giúp giảm tỉ lệ tai biến cho thai nhi. Tuy nhiên, MLT cũng là nguyên nhân của những tai biến khác đối với trẻ như:
- Dao mổ phạm vào thai nhi (1-2%).
- Tăng số trẻ sanh non do muốn mổ sanh theo ngày mà ngay cả siêu âm cũng có thể chẩn đoán sai tuồi thai khi quyết định ngày giờ mổ sanh chủ động.
- Hội chứng suy hô hấp cấp (RDS) ở trẻ sơ sinh xảy ra đối với trẻ sanh sớm và ngay cả trẻ đủ trưởng thành. Nguy cơ RDS trong MLT chủ động không qua chuyển dạ cao 2,6 lần, có chuyển dạ rồi mới MLT thì nguy cơ RDS tăng 1,9 lần. Điều cần chú ý là RDS và sanh non là nguyên nhân chính của tử vong thai nhi.
- Một vấn đề cũng khá quan trọng mới được phát hiện gần đây: trẻ sanh mổ suy giảm khả năng miễn dịch hơn trẻ sanh thường, nguyên nhân là khi sanh mổ, trẻ giảm tiếp xúc với vi khuẩn trong những ngày đầu tiên sau sinh vì điều kiện vệ sinh vô trùng chặt chẽ khi mổ (sử dụng các dung dịch kháng khuẩn, điều trị kháng sinh), trẻ không có nhiều cơ hội để tiếp xúc với vi khuẩn trên cơ thể mẹ và vi khuẩn trẻ bị nhiễm chủ yếu là từ môi trường bệnh viện (khi bé nằm trong bệnh viện). Các vi khuẩn này thường là những chủng kháng thuốc rất cao. Trong khi đó, nếu sanh thường thì trẻ có nhiều cơ hội tiếp xúc với vi khuẩn cơ thể người mẹ khi đi qua đường âm đạo (vi khuẩn có sẵn trong âm đạo, phân) và môi trường xung quanh. Trước khi ra đời, đường tiêu hóa của trẻ vô khuẩn. Đối với trẻ sanh thường, chỉ vài giờ sau khi sanh, loại vi khuẩn mà trẻ tiếp xúc khi đi qua âm đạo thường gặp là bifidobacteria đã đến bám vào thành bộ máy tiêu hóa của trẻ sơ sinh tạo nên một hàng rào bảo vệ không để những vi khuẩn gây bệnh đến sau có thể bám vào những chỗ này. Sự có mặt của các vi khuẩn “thân thiện” này giúp thành lập hệ thống miễn dịch tạo sự đề kháng tốt cho trẻ và rất cần thiết cho sự phát triển cũng như điều hòa hệ thống miễn dịch của trẻ. Đối với trẻ sanh mổ thì phải mất một thời gian 6 tháng mới có được hệ vi khuẩn đường ruột giống như trẻ sanh thường. Sự chậm trễ này khiến trẻ dễ mắc một số bệnh như tiêu chảy, dị ứng (trong đó có hen suyễn).
 
III. Tóm lại :
 
Vì sức khoẻ của bà mẹ và thai nhi, thái độ tốt nhất của người thầy thuốc và của cả sản phụ là phải quan niệm rằng không nên lạm dụng MLT. Chỉ nên sử dụng nó khi cuộc sanh ngả âm đạo có nguy cơ ảnh hưởng đến mẹ hoặc con hoặc cả hai. Mọi người cũng cần nhớ rằng MLT không phải là một phẫu thuật tuyệt đối an toàn mà nó vẫn có thể gây những hậu quả nghiêm trọng cho mẹ và con. Chỉ định đúng và hợp lý, kỹ thuật tốt thì sẽ hạn chế tối đa những hậu quả này, nhờ vậy sẽ giúp làm giảm tỉ lệ MLT.
Theo FIGO 1999: MLấy Thai không vì lý do y khoa là vi phạm y đức.
 
Tài liệu tham khảo : Lợi ích và nguy cơ của mổ lấy thai – Tác giả : BS Vũ Thị Nhung – Thời Sự Y Học 2014
Tác giả bài viết: BS. Bùi Văn Duy Phúc-Khoa Phụ Sản

Ý kiến bạn đọc

 
Điện thoại nóng
Phát hiện sớm Dị dạng hậu môn trực tràng
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP VIÊM MÀNG NÃO MỦ DO LIÊN CẦU LỢN (STREPTOCOCCUS SUIS)
Kết quả kiểm tra chất lượng bệnh viện 6 tháng đầu năm 2017
BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP NHIỄM TRÙNG HẬU SẢN NẶNG DO SANH THƯỜNG TẠI NHÀ
VIÊM MÀNG NÃO TĂNG BẠCH CẦU ÁI TOAN
Nhân một trường hợp bệnh nhân mắc bệnh Whitmore (Melioidosis) tại khoa Nội Tổng Hợp
Bóc tách động mạch chủ
UNG THƯ THỰC QUẢN
GÂY MÊ TRÊN BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯỜNG
Báo cáo trường hợp trẻ bỏ rơi
Thông báo kết quả kiểm tra vi sinh 6 tháng cuối năm 2016
LỊCH SỬ RA ĐỜI NGÀY RỬA TAY THẾ GIỚI 15/10 VÀ VAI TRÒ CỦA RỬA TAY THƯỜNG QUY TẠI BỆNH VIỆN
NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN
ĐẠI HỘI CHI HỘI ĐIỀU DƯỠNG
BỔ SUNG CÁC YẾU TỐ VI LƯỢNG TRONG THAI KỲ
Khoa Răng Hàm Mặt sánh bước cùng Operation Smile Việt Nam tại Bệnh viện tỉnh Đăk Lăk
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP BỆNH NHÂN ĐƯỢC VÁ SỌ TỰ THÂN TRÁN 2 BÊN TẠI KHOA NGOẠI THẦN KINH
VẤN ĐỀ CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ TĂNG SINH LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT
Hướng dẫn điều trị tăng Kali máu cấp ở người trưởng thành 2016
HO GÀ –BỆNH DỄ LÂY LAN Ở TRẺ EM

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 50
  • Hôm nay: 1851
  • Tháng hiện tại: 81616
  • Tổng lượt truy cập: 3139010
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang