bvvtn

THUẬT NGỮ, ĐỊNH NGHĨA, CÁCH ĐO ĐẠC ĐỂ MÔ TẢ CÁC ĐẶC ĐIỂM SIÊU ÂM CỦA NỘI MẠC TỬ CUNG VÀ CÁC TỔN THƯƠNG TRONG LÒNG TỬ CUNG

Đăng lúc: Thứ năm - 03/10/2019 17:39 - Người đăng bài viết: admin
THUẬT NGỮ, ĐỊNH NGHĨA, CÁCH ĐO ĐẠC ĐỂ MÔ TẢ CÁC ĐẶC ĐIỂM SIÊU ÂM CỦA NỘI MẠC TỬ CUNG VÀ CÁC TỔN THƯƠNG TRONG LÒNG TỬ CUNG

THUẬT NGỮ, ĐỊNH NGHĨA, CÁCH ĐO ĐẠC ĐỂ MÔ TẢ CÁC ĐẶC ĐIỂM SIÊU ÂM CỦA NỘI MẠC TỬ CUNG VÀ CÁC TỔN THƯƠNG TRONG LÒNG TỬ CUNG

Trong những năm gần đây, sự phát triển của siêu âm ngã âm đạo đã cải thiện khả năng đánh giá và điều trị các bất thường trong tử cung.
ĐẠI CƯƠNG
Trong những năm gần đây, sự phát triển của siêu âm ngã âm đạo đã cải thiện khả năng đánh giá và điều trị các bất thường trong tử cung. Đối với phụ nữ ra máu sau mãn kinh, đo độ dày nội mạc tử cung có thể giúp phân biệt nhóm các phụ nữ nào có nguy cơ cao với ung thư nội mạc tử cung; với nội mạc ≤ 4mm làm giảm nguy cơ ung thư cổ tử cung ở cả hai nhóm sử dụng và không sử dụng hormone thay thể. Ở nhóm phụ nữ nguy cơ cao, ví dụ: bề dày nội mạc ≥ 5mm, cần đánh giá hình thái nội mạc, tưới máu có thể kèm theo hoặc không siêu âm buồng tử cung có bơm nước mối để đánh giá các nguy cơ bệnh lý đặc biệt là đối với ung thư nội mạc tử cung.
Tác dụng của siêu âm thăm khám nội mạc ở các phụ nữ tiền mãn kinh có kèm theo chảy máu thì chưa rõ ràng. Hầu hết các báo cáo về siêu âm nội mạc ở quy mô nhỏ và kết quả có mâu thuẫn với nhau, đặc biệt là các nghiên cứu có sử dụng siêu âm buồng tử cung có bơm nước. Sự thiếu vắng các tiêu chuẩn về thuật ngữ, định nghĩa được sử dụng để mô tả nội mạc và khoang tử cung khiến cho các nghiên cứu phân tích thống kê nhỏ trở nên vô nghĩa. Do đó cần có nghiên cứu nhiều trung tâm lớn để xác định rõ vai trò của siêu âm chi tiết đánh giá hình thái nội mạc và mạch máu trước và trong khi thực hiện siêu âm tử cung có bơm nước muối để phân biệt các bệnh lý của nội mạc và bệnh lý khác của khoang tử cung
KỸ THUẬT THĂM KHÁM
Hầu hết phụ nữ, nội mạc và khoang tử cung nên được siêu âm qua ngã âm đạo. Siêu âm đường bụng có thể được sử dụng khi có tử cung xơ hoá lớn hoặc tử cung lớn dạng hình cầu. Khi siêu âm qua ngã bụng và âm đạo không thích hợp thì có thể sử dụng siêu âm qua ngã trực tràng. Trước mãn kinh, siêu âm nên được thực hiện trong giai đoạn sớm của chu kỳ kinh (N4-N6) và đối với phụ nữ sau mãn kinh có sử dụng hormone thay thế thì là 5-10 ngày sau viên thuốc progestin cuối cùng
Mỗi tiếp cận đánh giá tử cung nên bắt đầu từ xác định bàng quang và cổ tử cung. Vị trí của tử cung nên được ghi nhận và đo lường các chỉ số. Khảo sát tử cung trên mặt cắt dọc từ sừng này qua sừng kia, trên mặt cắt ngang là từ cổ tới đáy tử cung. Nhìn chung, nội mạc dễ quan sát thấy. Tuy nhiên, đôi khi khó khăn do sự thay đổi trong tư thế tử cung (đặc biệt là khi cắt ngang), hoặc do tử cung xoay (endometriosis hoặc dính do phẫu thuật). Vấn đề này có thể vượt qua trong một số trường hợp bằng cách ấn trên bụng bệnh nhân hoặc lấp đầy bàng quang. Vấn đề khác có thể kể tới đó là khoang nội mạc có thể biến dạng do các bệnh lý lành tính như lạc nội mạc tử cung trong cơ hoặc u xơ. Ung thư nội mạch tử cung có thể làm thay đổi ranh giới giữa cơ và nội mạc và nên được ghi nhận như một khả năng có thể xảy ra khi khoang nội mạc khó xác định
Khi nội mạc khó quan sát, có thể bám theo kênh cổ nội mạc. Nếu có thể, góc giữa nội mạc và tia siêu âm nên là 900. Nếu không thể thấy nội mạc, có thể bơm nước muối hoặc gel vào buồng tử cung
 
 
SIÊU ÂM KHOANG TỬ CUNG THƯỜNG QUY
Đánh giá định lượng bề dày nội mạc, tổn thương trong tử cung và dịch lòng tử cung
Bề dày nội mạch tử cung được đo tốt nhất trên mặt cắt dọc bao gồm cả hai lớp nội mạc. Con trỏ nên được đặt tại 2 vị trí đối diện nhau ở giữa bề mặt nội mạc – cơ tử cung và nội mạc nên được đo ở vị trí dày nhất vuông góc với đường giữa nội mạc . Chiều dày của hai lớp nội mạc nên được để đơn vị là millimeter, làm tròn đến hàng thập phân thứ mười. Khi có dịch trong lòng tử cung, đo chiều dày mỗi lớp rồi lấy tổng. Nếu nội mạc dày không đối xứng thì chiều dày nội mạc trước và sau nên được ghi nhận riêng. Khi không thấy được nội mạc rõ ràng thì kết quả nên ghi là không đo được và không cố gắng đo. Các trường hợp này tỉ lệ có thể lên tới 10%
Trong trường hợp có bệnh lý trong lòng tử cung thì độ dày của nội mạc bao gồm cả tổn thương nên được ghi nhận. Tuy nhiên, nếu một u cơ trong lòng tử cung có thể xác định chắc chắn thì khi đo nội mạc phải loại trừ u cơ này. Các tổn thương trong lòng tử cung nên được đo 3 chiều theo đơn vị millimeter. Trong u cơ, khoảng cách từ lưng u cơ đến lớp nhầy nên được đo nếu có chỉ định phẫu thuật.

Dịch trong lòng tử cung được đo trên mặt cắt dọc, ở vị trí có kích thước lớn nhất
 
Đánh giá hình thái nội mạc
Đánh giá hình thái nội mạc bao gồm đánh giá độ hồi âm của nội mạc, đường giữa và chỗ nối nội mạc – cơ tử cung

Hồi âm của nội mạc tử cung có thể mô tả là hồi âm dày, đồng hồi âm hoặc hồi âm kém khi so sánh với độ hồi âm của cơ tử cung. Độ hồi âm của nội mạc nên được mô tả là đồng nhất nếu nội mạc đồng nhất với hai lớp nội mạc trước – sau đối xứng nhau. Định nghĩa này bao gồm nhiều dạng khác nhau được quan sát thấy trong chu kì kinh nguyệt và dạng một lớp ở hầu hết các bệnh nhân mãn kinh. Nội mạc tử cung đồng dạng bao gồm có 3 lớp cấu trúc cùng với cấu trúc hồi âm đồng nhất

Hồi âm được gọi là không đồng dạng nếu nội mạc tử cung không đồng nhất, không đối xứng hoặc có nang
 
Đường giữa nội mạc được mô tả là đường thẳng, nếu có một đường echo dày nằm ở giữa nội mạc, và “không thẳng” nếu đường này có dạng sóng và “không xác định” nếu không phân biệt được

Bờ sáng (bright edge) là hồi âm hình thành giữa bề mặt của tổn thương trong lòng tử cung và nội mạc tử cung

Ở một vài bệnh nhân, đường giữa nội mạc được phát hiện bằng cách đẩy nhẹ đầu dò âm đạo vào tử cung làm cho hai lớp nội mạc tách nhau ra. Kỹ thuật này có thể hữu ích để mô tả tổn thương
Chỗ nỗi giữa nội mạc – cơ tử cung nên được mô tả là đều, không đều, gián đoạn hoặc không rõ

Dính (synechia) được định nghĩa khi có dải mô chạy dọc trong nội mạc

Dịch lòng tử cung được mô tả là hồi âm trống, hồi âm kém, mặt kính mờ hoặc hồi âm hỗn hợp

Tiếp cận siêu âm Doppler màu và năng lượng
Hộp Doppler nên gồm nội mạc và cơ tử cung bao quanh. Việc cài đặt và phóng đại nên đảm bảo độ nhạy với dòng máu (tần số siêu âm > 5MHz, PRF 0.3-0.9kHz, độ lọc thành 30 – 50Hz, gain nên được giảm đến khi mất ảnh giả)
Đánh giá tưới máu nội mạc có thể sử dụng thang điểm áp dụng trong u buồng trứng theo IOTA. Thang điểm màu là một phương pháp đánh giá bán định lượng dòng máu hiện diện: 1 điểm nếu không có tín hiệu màu quanh nội mạc, 2 nếu chỉ có vài tín hiệu nhỏ, 3 điểm nếu tín hiệu trung bình, 4 điểm nếu có hình ảnh tưới máu nhiều

Hình ảnh mạch máu trong nội mạc nên được mô tả cụ thể với sự hiện diện hay không của “mạch máu ưu thế” (dominant vessels) hoặc các đặc điểm đặc hiệu khác. “Mạch máu ưu thế” được xác định khi có nhiều hơn một mạch máu riêng biệt vượt qua chỗ nối với nội mạc. Mạch máu ưu thế có thể phân nhánh trong nội mạc. Có thể chỉ có một mạch máu ưu thế phân nhánh hoặc không. Trường hợp có nhiều mạch máu ưu thế có thể có chung gốc (focal origin) hoặc nhiều gốc (multifocal origin). Các dạng mạch máu khác trong nội mạc gồm các mạch máu phân tán không rõ gốc mạch máu hoặc mạch máu vòng

SIÊU ÂM KHOANG TỬ CUNG NÂNG CAO
Đánh giá hình thái nội mạc và tổn thương trong lòng tử cung trên siêu âm bơm dịch lòng tử cung hoặc khi có dịch trong lòng tử cung
Bơm dịch vào lòng tử cung nhằm tạo môi trường tương phản. Có thể sử dụng gel hoặc nước muối sinh lý. Đánh giá nội mạc và lòng tử cung tương tự như trên
Dãn khoang nội mạc trên siêu âm được xem là “tối ưu” nếu dịch làm dãn lòng tử cung, “chưa tối ưu” nếu dãn nhẹ và “thất bại” nếu không có dịch trong lòng tử cung
Độ dày nội mạc được đo và mô tả như trên
Đường quanh nội mạc được mô tả là “trơn láng” nếu bề mặt nội mạc đối diện lòng tử cung đều, khi có nếp gấp nội mạc (các khu vực dày hình lượn sóng) hoặc dạng polype nếu bờ lõm vào sâu. Nội mạc được mô tả “không đều” nếu bề mặt nội mạc phía lòng tử cung có dạng giống súp lơ hoặc răng nhọn
Chỗ nối nội mạc – cơ tử cung được mô tả như trên

Tổn thương trong lòng tử cung
Bất kì cái gì lồi vào trong khoang tử cung có dịch được gọi là tổn thương lòng tử cung. Các tổn thương lòng tử cung nên được mô tả là tổn thương từ nội mạc hay từ cơ tử cung
Độ rộng (extent) của tổn thương nội mạc được mô tả dựa trên tỉ lệ bề mặt nội mạc liên quan tới tổn thương. Tổn thương nội mạc được xem là lan toả khi bất thường ở nội mạc chiếm ≥ 25% bề mặt nội mạc, và khu trú nếu <25%


Loại tổn thương khu trú phụ thuộc vào tỉ lệ giữa đường kính nền tại vị trí nội mạc (a) và đường kính ngang lớn nhất của tổn thương (b). Nếu tỉ lệ a/b < 1 thì tổn thương có cuống (pedunculated) và không cuống nếu tỉ lệ này ≥ 1
Độ hồi âm của tổn thương, đường bờ được mô tả như phần trên

 

Tác giả bài viết: BS. Trần Song Long Phụng -Khoa Thăm dò chức năng
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Điện thoại nóng
CỨU SỐNG BỆNH NHÂN BỊ BẮN VÀO ĐẦU
BỆNH WHITMORE
Chẩn Đoán Bệnh Parkinson năm 2019
THẾ NÀO LÀ RỐI LOẠN NHỊP CHẬM ???
CẬP NHẬT VỀ ĐIỀU TRỊ KAWASAKI
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN TIẾP NHẬN GIƯỜNG BỆNH TÀI TRỢ
Biến chứng cấp tăng đường huyết ở bệnh nhân ĐTĐ
CHỮA BỆNH BẰNG PHƯƠNG PHÁP CỨU TRONG Y HỌC CỔ TRUYỀN
HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY
Gãy Jone một kiểu gãy hay gặp trên lâm sàng và quan điểm về điều trị
Bệnh Melioidosis (Whitmore)
Chảy máu mũi
ĐỘT QUỴ NÃO (STROKE) KHÔNG CHỈ LÀ CĂN BỆNH CỦA NGƯỜI CAO TUỔI
Thông báo mời thầu: Gói thầu thiết bi(bao gồm phần mềm, triển khai, đào tạo)
VIÊM GÂN ACHILLES
Tiêu chuẩn đánh giá Bệnh viện về CNTT theo TT54/2017/TT-BYT
Quy định kinh phí thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở 1
FUNDAMENTALS IN ONCOIMMUNOLOGY
DINH DƯỠNG VÀ TẬP LUYỆN TRONG THAI KỲ
CHƯƠNG TRÌNH PHẨU THUẬT ĐỤC THỂ THỦY TINH MIỄN PHÍ

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 42
  • Khách viếng thăm: 40
  • Máy chủ tìm kiếm: 2
  • Hôm nay: 7337
  • Tháng hiện tại: 50783
  • Tổng lượt truy cập: 7713782
Cuộc thi trắc nghiệm Tìm hiểu 90 năm lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang