Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng sau phẩu thuật thay khớp gối

Đăng lúc: Thứ sáu - 17/06/2016 00:44 - Người đăng bài viết: admin
Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng sau phẩu thuật thay khớp gối

Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng sau phẩu thuật thay khớp gối

Thoái hóa khớp là bệnh thường gặp ở người có tuổi. Bệnh thường xuất hiện sớm hơn, tiến triển nhanh hơn trên những người lao động nặng, do đó tỷ lệ thoái hóa khớp chiếm phần nhiều ở vùng nông thôn.
Trong thoái hóa khớp, thoái hóa khớp gối ảnh hưởng nhiều nhất đến chức năng vận động. Có nhiều phương pháp để điều trị bệnh theo từng giai đoạn. Giai đoạn sớm điều trị nội khoa kết hợp các phương pháp như: Vật lý trị liệu - phục hồi chức năng, giảm cân, nội soi làm sạch khớp, đục xương sửa trục xương chày. Giai đoạn muộn bệnh nhân biến dạng chi nhiều, co rút khớp, lệch trục cơ học, trên XQ có hình ảnh hẹp khe khớp nhiều, biến dạng khớp, khuyết xương thì có chỉ định thay khớp gối.

Trên thế giới phẫu thuật thay khớp gối toàn phần đã được tiến hành từ những năm 1970 và đã đem lại chất lượng cuộc sống tốt cho những bệnh nhân thoái hóa khớp gối. Ngày nay sự phát triển của khoa học kỹ thuật cho ra đời nhiều thế hệ khớp mới có những ưu điểm vượt trội, cùng với sự tiến bộ về vô khuẩn, gây mê hồi sức, vật lý trị liệu sau phẩu thuật và đặc biệt là sự tiến bộ về phẫu thuật đã qui chuẩn về chỉ định mổ, kỹ thuật mổ…làm cho phẫu thuật thay khớp gối ngày càng phổ biến và đạt được nhiều thành công.

Chỉ định phẫu thuật

– Thoái hóa khớp gối độ 3, 4

– Không đáp ứng điều trị nội khoa và các phương pháp điều trị bảo tồn.

– Đau, biến dạng khớp gối nặng, ảnh hưởng đến đi lại sinh hoạt hàng ngày

– Chấn thương khớp gối nặng

Kỹ thuật phẫu thuật

Sử dụng kỹ thuật phẫu thuật thay khớp gối nhân tạo có xi măng hoặc không có xi măng, sử dụng nguyên tắc cắt xương chuẩn : cắt bỏ phần diện khớp bị tổn thương, có 3 phần diện khớp sẽ được cắt bỏ là diện khớp xương đùi, phần diện khớp xương chày, và phần diện khớp xương bánh chè. Sau đó lắp các phần khớp nhân tạo vào. Có một số phương pháp phẫu thuật không chỉ định thay xương bánh chè, sử dụng hệ thống khớp gối nhân tạo có xi măng loại hy sinh dây chằng chéo sau.

Đánh giá Xquang khớp gối sau phẫu thuật

Phân tích vị trí của khớp gối nhân tạo so với các trục của chi và tình trạng xung quanh khớp gối nhân tạo để đánh giá xem khớp nhân tạo có đúng vị trí hay không, có bị lỏng khớp không, có bị nứt hay gãy xương hay không, có cốt hóa xung quanh khớp không?

 


Điều trị phục hồi chức năng sau phẫu thuật thay toàn bộ khớp gối

Phục hồi chức năng (PHCN) sau mổ có sự phối hợp chặt chẽ giữa chuyên khoa phẫu thuật chỉnh hình, PHCN, bệnh nhân, gia đình bệnh nhân để chuẩn bị tốt kế hoạch chăm sóc và PHCN trước và sau phẫu thuật. Đặc biệt phần lớn bệnh nhân thay khớp gối là đối tượng cao tuổi, phối hợp đa bệnh lý như thần kinh, tim mạch, xương khớp, nên chương trình tập luyện cần thích nghi với điều kiện thể lực cũng như môi trường sống của họ.
Về phía bệnh nhân cần phải được giải thích các biến chứng sau mổ và các biểu hiện để phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh nhân được giải thích rõ về kế hoạch và mục đích tập PHCN trước và sau mổ. Gia đình bệnh nhân cần được chuẩn bị những dụng cụ thích nghi cũng như những vấn đề thay đổi trong sinh hoạt hàng ngày trong những tháng đầu sau mổ để bảo vệ khớp mới.
Mục tiêu điều trị:
– Kiểm soát phù nề, giảm đau
– Tăng cường tầm vận động khớp
– Tăng cường sức mạnh, sức dẻo dai của cơ
– Tập di chuyển với dụng cụ trợ giúp
– Vật lý trị liệu được áp dụng sớm sau phẫu thuật.
– Giúp bệnh nhân trở lại hoạt động bình thường.

Bệnh nhân (BN) được điều trị sớm ngay sau phẫu thuật: ngay khi BN đang nằm tại bệnh viện, kỹ thuật viên bắt đầu tập gấp gối cho bệnh nhân. Khi gối đã vững vàng, ổn định- kỹ thuật viên sẽ giúp BN đi bộ với nạng hoặc khung tập đi. Bài tập được tập vài lần trong ngày.

Bệnh nhân trở về nhà được nếu:
– Vết mổ ổn định
– Lên xuống giường được
– Di chuyển vững vàng được với nạng, khung tập đi
– Đi được vào nhà tắm, nhà vệ sinh.

Điều quan trọng là BN phải có cơ lực cơ đùi tốt, tầm vận động khớp gối được cải thiện.

Sau khi rời bệnh viện BN chọn một hoặc nhiều cách điều trị : chườm lạnh, nóng, xoa bóp dẫn lưu, dẫn lưu tue thế hoặc điện trị liệu để giúp làm giảm phù nề, giãm đau.Tiếp tục dùng nạng, khung tập đi 4-6 tuần sau phẫu thuật.

Các bài tập lấy lại tầm vận động của khớp gối bao gồm bài chủ động của BN và các bài tập trợ giúp của kỹ thuật viên hoặc tập trên máy tập. Chương trình tập luyện bao gồm bài tập làm vững chắc khớp gối, chịu lực thăng bằng, hoạt động chức năng.

Bài tập vững chắc : tập cơ mông, khớp háng, tập cơ đùi và cơ cẳng chân.

Tập chịu trọng lực: nếu thay loại khớp có xi măng tập chịu trọng lực dần lên chân đó đến khi cảm thấy khó chịu thì ngừng lại. Nếu thay loại khớp không có xi măng , đầu tiên đặt các ngón chân xuống đến khi đỡ đau sẽ cho phép tăng dần trọng lượng xuống chân đó.

Các bài tập: đạp xe đạp, bơi được sủ dụng cùng các hoạt động hàng ngày kết hợp cùng các baì tập lên xuống cầu thang, nâng hạ trên đâù ngón chân, ngồi xổm khi gối gập trên 900 lực cơ đùi bậc 4 trở lên.

Người bệnh  nên đến sớm ở các cơ sở PHCN để tập luyện. Việc tập luyên dựa vào kinh nghiệm của người điều trị và tình trạng của bệnh nhân. Tập gấp gối ít nhất phải được 900, gối gấp tốt khi gấp trên 1100. Sức mạnh cơ, chức năng của dây chằng, mô mềm rất quan trọng để lấy lại tầm vận động của gối.

Các bài tập khớp gối
*- Các bài tập trước mổ:
1. Bệnh nhân (BN) nằm ngữa, gập duỗi cổ chân từ 8 – 10 lần, ngày làm từ 2-3 lầ.
2.Gồng cơ mông lớn: BN nằm ngữa, co thít chặt hai mông sát nhau giữ 5 giây, lặp lại 8-10 lần.
3. Tập cơ tứ đầu đùi: Kê gối dưới khoeo chân mổ ( gối cao khoảng 7-10 cm) từ từ nâng cẳng chân lên khỏi mặt giường sao cho gối duỗi thẳng, giữ 5 giây, thư giãn, lặp lại 8-10 lần.
- BN nằm ngữa, chân mổ duỗi, ấn khoeo chân xuống mặt giường, giữ 5 giây , thư giãn, lặp lại 8-10 lần.
4. Bài tập trượt bàn chân: BN nằm ngữa, hai chân duỗi thẳng, từ từ kéo chân mổ về phía mông đến khi có cảm giác căng ở đầu gối, giữ 5 giây sau đó trượt về vị trí ban đầu.
5. Gồng cơ tam đầu đùi: BN nằm ngữa, chân mổ gập khoảng 400- 500, ấn gót chân xuống mặt giường, giữ 5 giây, lặp lại 8-10 lần.
6. BN nằm ngữa, chân lành gập, chân mổ duỗi, từ từ nâng chân mổ lên khỏi mặt giường khoảng 40-500, giữ 5 giây, lặp lại 8-10 lần.
(Lưu ý: Các bài tập trước mổ được áp dụng cho BN tự tập tại giường, sau khi ra viện)
Giai đoạn 1: Từ 1 đến 2 tuần sau mổ

Mục đích:
– Giảm phù nề, giảm đau.
– Duy tầm vận động các khớp ở chân đau, riêng khớp gối cần tập được duỗi gối 00 và gấp gối khoảng 800 – 1000 .
– Duy trì  và tăng sức mạnh của cơ.( Chú ý nhóm cơ đi nạng)
– Di chuyển được với dụng cụ trợ giúp: Nạng, khung tập đi.
– Duy trì bài tập tại nhà (Theo hướng dẫn của kỹ thuật viên )

Ngày 1 sau phẫu thuật:
– Chườm lạnh khớp gối 15 phút/ lần, ít nhất 3 lần một ngày. Nếu thấy cần thiết có thể chườm nhiều hơn.
– Các bài tập trên giường: Tập co cơ tĩnh, bệnh nhân nằm với chân duỗi thẳng, co cơ tĩnh chân phẫu thuật, co 5 giây nghỉ 5 giây, tập 10 lần / ngày.
– Các bài tập khác: tập vận động khớp cổ chân, tập trượt gót chân.
– Tập ngồi dậy, tập thay đổi vị trí trên giường.
– Vận động chủ động khớp gối : 00 đến 70º .
– Tập mạnh nhóm cơ đi nạng.( Các bài tập ở trên theo hướng dẫn của KTV PHCN).
Ngày thứ 2 sau phẫu thuật:
– Tiếp tục các bài tập ở trên.
– Bài tập độc lập trên giường 5 lần/ ngày.
– Tập vận động khớp cổ chân.
– Tập gập duỗi dạng khép háng chủ động hoặc chủ động có trợ giúp.
– Tập ngồi trên ghế 30 phút, 2 lần / ngày.
– Tập di chuyển vào buồng tắm, nhà vệ sinh với người trợ giúp.
– Vận động chủ động khớp gối : 10º đến 80º

Ngày thứ 3 tới 2 tuần sau phẫu thuật:
– Tiếp tục các bài tập ở trên.
– Tập các bài tập khớp gối: Tập duỗi khớp gối hoàn toàn, mỗi ngày tập gấp chủ động khớp gối thêm 10º đến ngày thứ 5 tầm vận động khớp gối đạt 100º
– Tập mạnh sức cơ đùi, sức cơ cẳng chân bằng các bài tập đề kháng.
– Tập đứng chịu lực lên 2 chân, đứng chịu lực lên từng chân, khi bệnh nhân chịu được trọng lực thì tập thăng bằng khi đứng. Tập dồn trọng lượng lên chân phẫu thuật.
– Ở tư thế đứng: tập các bài tập gấp duỗi dạng khép khớp háng chân phẫu thuật.
– Tập di chuyển với nạng, khung tập đi.

Giai đoạn II: Từ 2 đến 5 tuần sau phẫu thuật.

Mục đích:
– Giảm đau, giảm phù nề.
– Gia tăng tầm vận động của khớp từ 0o đến 115º .
– Tăng cường sức mạnh của cơ.
– Trở lại hoạt động chức năng hàng ngày.
– Bắt đầu tham gia chương trình tập tại nhà.

Phương pháp: Duy trì các bài tập ở giai đoạn I .
– Tập gấp duỗi khớp gối bằng các bài tập thụ động, chủ động có trợ giúp.
– Mỗi tuần tập gấp gối thêm 5º đến 5 tuần tầm vận động khớp gối đạt 00 đến 115º .
– Bài tập kéo giãn thụ động khớp gối do KTV thực hiện.
– Tăng cường sức mạnh cơ: tập vận động khớp gối chủ động có sức đề kháng tăng dần.
– Đến tuần thứ 3 bắt đầu các bài tập xuống tấn.
– Tập di chuyển trên đệm, bước qua chướng ngại vật ít nguy hiểm có sử dụng nạng trợ giúp.
– Hoạt động trị liệu sau phẫu thuật: tập luyện cách di chuyển tại giường, sử dụng hố xí bệt, nhà tắm, đi giày dép.
– Tập đạp xe đạp tại chổ 15 phút/ lần, 2 lần / ngày.

Giai đoạn III: Sau phẫu thuật từ 6 đến 8 tuần

Mục đích :
– Tiếp tục cải thiện tầm vận động khớp từ 0 đến 115º – 120º.
– Gia tăng sức mạnh cơ.
– Tập thăng bằng không cần trợ giúp.
– Trở lại các hoạt động hàng ngày.

Phương pháp:
– Duy trì các bài tập ở giai đoạn 2
– Tiếp tục tập vận động gấp duỗi khớp gối
– Tập tăng cường sức mạnh cơ
– Tập đứng chiụ lực hoàn toàn trên chân phẫu thuật
– Bỏ dụng cụ trợ giúp
– Tập đi bộ trên các địa hình, lên xuống cầu thang
– Tập đạp xe đạp, bơi, chạy tại chổ


Các lưu ý sau phẫu thuật thay khớp gối
  • Nên tập vận động sớm, tập đúng kỷ thuật.
– Không đứng quá lâu trên phẩu thuật, không gập gối quá mức.
– Không lấy chân phẫu thuật làm chân trụ.
– Ghế ngồi đủ cao đàm bảo gối gấp 90º, có tay vịn.
– Nhà tắm tránh ẩm ướt, sử dụng thảm chống trượt.
– Quan hệ tình dục có thể bắt đầu sau 03 tuần.
– Các môn thể thao cho phép: Đi bộ, đạp xe, bơi, khiêu vũ, đánh golf.
  • Các môn thể thao không cho phép: nhảy, đá bóng, bóng chuyền, cầu long, bóng rổ,…
Tác giả bài viết: CN Phan Thanh Hạnh -Khoa VLTL PHCN
Nguồn tin: phauthuatxuongkhop.com Vật lý trị liệu- Phục hồi chức năng. NXBYH 2010
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Điện thoại nóng
TÓM TẮT CẬP NHẬT ĐIỀU TRỊ SUY TIM MẠN
CỨU SỐNG BỆNH NHÂN SUY HÔ HẤP NGUY KỊCH
BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP NHIỄM TRÙNG HẬU SẢN NẶNG DO SANH THƯỜNG TẠI NHÀ
TỔ CHỨC LỚP TẬP HUẤN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG – AN TOÀN NGƯỜI BỆNH VÀ TRIỂN KHAI NGÀY HỘI 5S TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH ĐẮK LẮK
KHÁM TIỀN MÊ - CHUẨN BỊ BỆNH NHÂN TRƯỚC MỔ
Những lưu ý đặc biệt khi sử dùng thuốc đái tháo đường
CÁC PHƯƠNG PHÁP GIÁM SÁT NHIỄM KHUẨN BỆNH VIỆN
Ba điều cần làm để phòng ngừa thoái hóa khớp gối
Phát hiện sớm Dị dạng hậu môn trực tràng
NHÂN MỘT TRƯỜNG HỢP VIÊM MÀNG NÃO MỦ DO LIÊN CẦU LỢN (STREPTOCOCCUS SUIS)
Kết quả kiểm tra chất lượng bệnh viện 6 tháng đầu năm 2017
BÁO CÁO MỘT TRƯỜNG HỢP NHIỄM TRÙNG HẬU SẢN NẶNG DO SANH THƯỜNG TẠI NHÀ
VIÊM MÀNG NÃO TĂNG BẠCH CẦU ÁI TOAN
Nhân một trường hợp bệnh nhân mắc bệnh Whitmore (Melioidosis) tại khoa Nội Tổng Hợp
Bóc tách động mạch chủ
UNG THƯ THỰC QUẢN
GÂY MÊ TRÊN BỆNH NHÂN TIỂU ĐƯỜNG
Báo cáo trường hợp trẻ bỏ rơi
Thông báo kết quả kiểm tra vi sinh 6 tháng cuối năm 2016
LỊCH SỬ RA ĐỜI NGÀY RỬA TAY THẾ GIỚI 15/10 VÀ VAI TRÒ CỦA RỬA TAY THƯỜNG QUY TẠI BỆNH VIỆN

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 40
  • Khách viếng thăm: 39
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 3958
  • Tháng hiện tại: 97205
  • Tổng lượt truy cập: 3154599
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang