bvvtn

XUẤT HUYẾT NÃO DO TĂNG HUYẾT ÁP

Đăng lúc: Thứ tư - 28/10/2020 09:14 - Người đăng bài viết: admin
XUẤT HUYẾT NÃO DO TĂNG HUYẾT ÁP
  1. TRIỆU CHỨNG LÂM SÀNG XUẤT HUYẾT NÃO DO TĂNG HUYẾT ÁP
Xuất huyết não do tăng huyết áp xảy ra ở vùng tưới máu của các động mạch xuyên là phân nhánh của các động mạch nội sọ chính. Đó là các mạch máu cung cấp cho cầu não và não giữa (Các nhánh xuyên của động mạch thân nền), đồi thị (Các nhánh đồi thị-thể vân của phân đoạn P1 và P2 động mạch não sau), và bèo sẫm và nhân đuôi (Các nhánh xuyên đậu-vân của phân đoạn M1 động mạch não giữa). Một ngoại lệ là xuất huyết tiểu não do tăng huyết áp, nhồi máu lỗ khuyết ít gặp ở các nhân tiểu não sâu, trong khi xuất huyết tiểu não do tăng huyết áp xảy ra thường xuyên hơn.
Xuất huyết não do tăng huyết áp xảy ra mà không có các dấu hiệu cảnh báo, hầu hết thường xảy ra khi bệnh nhân tỉnh. Đau đầu hiện diện ở 50% các bệnh nhân và có thể đau nhiều, nôn ói cũng thường gặp. Huyết áp tăng, do đó huyết áp thấp hoặc bình thường ở một bệnh nhân đột quỵ sẽ làm chẩn đoán xuất huyết não do tăng huyết áp không thích hợp.
Sau xuất huyết, phù phát triển khiến tình trạng lâm sàng tệ đi trong vài phút tới vài ngày, và tái xuất huyết có thể xảy ra.
Các biểu hiện lâm sàng đa dạng tùy vị trí của xuất huyết não:

Xuất huyết nhân bèo: Các dạng lâm sàng của xuất huyết nhân bèo được xác định bởi kích thước và kiểu lan rộng của khối máu tụ. Biểu hiện điển hình của xuất huyết lớn nhân bèo là yếu nửa người diễn tiến nhanh, kèm các bất thường cảm giác, thị lực, hành vi. Đau đầu, nôn ói thường xảy ra, trong vòng vài giờ khởi phát. Măc dù khởi phát đột ngột, thường tình trạng diễn tiến nặng dần cả về thiếu hụt thần kinh khu trú và mức độ ý thức sau vài phút tới vài giờ. Khiếm khuyết tối đa ngay lúc khởi phát ít gặp. Dù khởi phát đột ngột hay nặng dần, các khối máu tụ kích thước trung bình hay lớn luôn luôn kèm theo suy giảm mức độ thức tỉnh tương ứng với kích thước khối máu tụ. Nếu xuất huyết xảy ra ở bán cầu ưu thế, thăm khám lâm sàng thường thấy liệt mềm nửa người hoàn toàn với một hội chứng cảm giác nửa người và bán manh đồng danh, với mất ngôn ngữ toàn bộ và nếu xuất huyết ở bán cầu không ưu thế, sẽ có thờ ơ nửa bên. Liệt vận nhãn ngang với mắt nhìn về phía tổn thương thường thấy, có thể đổi chiều tạm thời bởi phản xạ mắt búp bê hoặc nghiệm pháp kích thích nhiệt. Kích thước đồng tử và phản xạ bình thường nếu không có thoát vị hải mã, nếu có, các đấu hiệu của liệt thần kinh sọ số III cũng bên sẽ có. Tất cả bất thường chức năng vận nhãn này có tiên lượng xấu. Các thiếu hụt vận động toàn bộ nửa người, hôn mê và tiến triển lâm sàng sau khi nhập viện đều tương quan với kích thươc khối máu tụ và tiên lượng xấu về chức năng và sống còn, cũng tràn não thất của khối máu tụ trên CT scan.
Các hội chứng liên quan xuất huyết nhỏ:
  • Đột quỵ vận động thuần túy (ít gặp): Liên quan xuất huyết nhỏ bao trong-nhân bèo. Biểu hiện lâm sàng bao gồm hội chứng vận động thuần túy nhẹ và thoáng qua ở mặt và các chi, và các khối xuất huyết nhỏ thường bắt nguồn từ góc sau của nhân bèo, với ảnh hưởng đến cánh tay sau bao trong.
  • Đột quỵ cảm giác thuần túy (ít gặp): Liên quan xuất huyết nhỏ phần sau nhân bèo liền kề cánh tay sau bao trong và đồi thị kế cận. Hội chứng lâm sàng là một hội chứng cảm giác nửa người đối bên liên quan cả cảm giác nông và sâu, nặng hơn ở chân so với tay và mặt. Khảo sát hình ảnh xác định ảnh hưởng phần lưng bên đồi thị hoặc phóng chiếu lên của bó gai đồi thị nằm ở cánh tay sau bao trong.
  • Múa vờn-múa vung nửa người: Hội chứng loạn vận động nửa người, múa vờn-múa vung nửa người. Liên quan xuất huyết nhân bèo Phải, ngoài, đặc trưng với múa vờn-múa vung nửa người mà không có liệt nửa người, mất cảm giác nửa người, liệt phối hợp vận nhãn và thờ ơ nửa bên. Tiên lượng tốt.
Các hội chứng lâm sàng liên quan vị trí xuất huyết nhân bèo
  • Xuất huyết mặt trong lan rộng vào bên trong ảnh hưởng đến gối và cánh tay sau bao trong. Dấu hiệu này tương ứng với hội chứng cảm giác nửa người đối bên, nhưng ở đây không có các bất thường vận nhãn, thị trường và mức độ ý thức. Bệnh nhân thường hồi phục hoàn toàn.
  • Xuất huyết mặt ngoài xuất phát từ phía ngoài nhân bèo và lan rộng ra trước dọc theo bao ngoài. Chúng gây ra liệt nửa người và thiếu hụt cảm giác đối bên. Hơn một nửa bệnh nhân biểu hiện suy giảm thần kinh muộn, và các thiếu hụt vĩnh viễn thường gặp hơn phục hồi hoàn toàn.
  • Xuất huyết nhân bèo với lan rộng đến bao trong và chất trắng dưới vỏ lan trong vào trong thông qua bao trong và lên trên vào vành tia, gây ra hội chứng nặng nề hơn của liệt và mất cảm giác, thường nhưng không phải luôn luôn bán manh đồng danh và xoay đầu mắt. Hầu hết bệnh nhân để lại di chứng thần kinh vĩnh viễn.
  • Xuất huyết đồi thị và lan rông bán cầu não và dưới vỏ là khối xuất huyết lớn mà lan rộng vào chất trắng của các thùy não kế cận, gây hiệu ứng choáng chỗ lên não thất bên và thường lan vào hệ thống não thất. Chúng có lâm sàng giống với cac nhóm trên, ngoại trừ có mất ngôn ngữ nổi bật hoặc các triệu chứng thùy thái dương và gây ra suy giảm nhận thức. Tỷ lệ tử vong ở nhóm này là 16% và phần lớn người sống sót có các thiếu hụt ảnh hưởng đến sống tự lập.
  • Các khối xuât huyết đồi thị-nhân bèo: lan rộng từ nhân bèo vào đồi thị (thông qua bao trong) và vài chất trăng dưới vỏ, Chúng hầu hết kèm theo xuất huyết não thất. Bức tranh lâm sàng bao gồm suy giảm nhận thức ở tất cả bệnh nhha, thường liên quan với liệt nửa người, bất thường vận nhãn ngang thường gặp hơn dọc, và bán manh đồng danh. Tỷ lệ tử vong 79%
Xuất huyết đồi thị: Các dấu hiệu thần kinh ở những bệnh nhân xuất huyết đồi thị khác biệt lớn phụ thuộc vào kích thước, vị trí của khối xuất huyết trong đồi thị, sự xâm nhập vào và ảnh hưởng áp lực lên não thất ba và các cấu trúc não kế cận. Một kiểu biểu hiện điển hình có khởi phát nhanh thiếu hụt cảm giác-vận động một bên, thường nôn (1/2 các trường hợp), nhưng đau đầu ít gặp hơn (<1/3 các trường hợp). Trong một số trường hợp, khởi phát với hôn mê. Các khối xuất huyết lớn nhất nằm trong phần bụng bên và sau giữa của đồi thị ở các vùng của động mạch gối-đồi thị và dưới đồi-đồi thị. Các khối xuất huyết khác nằm phía trước ở vùng của động mạch củ-đồi thị (cực) và sau ở vùng của động mạch mạch mạc sau bên. Hầu hết các xuất huyết đồi thị ở sau và trong với các sợi bó tháp ở bao trong, do đó các bất thường cảm giác đối bên thường ưu thế hơn liệt nửa người đối bên. Một số khối xuất huyết đồi thị lớn ảnh hưởng phía trước và liên quan phần trước của cánh tay sau bao trong, gây ra liệt. Đôi khi, các chi đối bên với khối xuất huyết thất điều nhẹ hoặc có vận động dạng múa vờn. Mặc khác có thể gây bàn tay vụng về hoặc loạn trương lực tư thế. Các dấu hiệu thần kinh chìa khóa mà phân biệt xuất huyết đồi thị với xuất huyết nhân bèo hay nhân đuôi là các dấu hiệu ở mắt. Nhứng bệnh nhân xuất huyết nhân bèo hay nhân đuôi có các vận động mắt bất thường với xoay đầu mắt hướng về tổn thương và liệt vận nhãn ngang về phía đối diện. Các bất thường vận nhãn đặc trưng của xuất huyết đồi thị dưới đây:
  • Liệt nhìn lên, thường một hoặc cả hai mắt nhìn xuống khi nghỉ
  • Tăng hội tụ của một hoặc cả hai mắt, với một sự kết hợp các dấu hiệu này đưa đến sự xuất hiện việc nhìn xuống dưới vào trong về phía đỉnh mũi của bệnh nhân
  • Lệch mắt, trong đó một mắt dừng bên dưới mắt còn lại, với sự chênh lệch vị trí mắt trong mặt phẳng đứng duy trì liên tục trong khi nhìn mọi hướng
  • Liếc mắt sai hướng hướng tới đối bên tổn thương
  • Mất phối hợp vận nhãn, với hạn chế liếc ngoài một hoặc cả hai mắt, không do ảnh hưởng của thần kinh VI (gọi là giả liệt thần kinh VI), mất khả năng liếc ngoài gây ra bởi sự cố định thị trường với mắt nhìn trong, và tăng các hướng hội tụ bất hoạt liếc ngoài.
Những bất thường vận nhãn này gây ra bởi sự lan rộng trực tiếp của khối máu tụ vào vùng nối não giữa-trung não hoặc đè ép vùng củ não sinh tư bởi huyết khối đồi thị. Trong xuất huyết đồi thị, đồng tử thường nhỏ và phản xạ ánh sáng kém bởi sự gián đoạn đường hướng tâm của cung phản xạ đồng tử.
Những bệnh nhân với xuất huyết lớn đồi thị Trái có thể có tình trạng mất ngôn ngữ hiếm gặp. Sau khi bắt đầu cuộc hội thoại gần như bình thường, bệnh nhân có thể rơi vào trạng thái mất ngôn ngữ diễn đạt rõ rệt, với nhiều từ khó hiểu hoặc không tồn tại và ý tưởng giao tiếp nghèo nàn. Trái với những bệnh nhân mất ngôn ngữ Wernicke, khả năng hiểu ngôn ngữ nói tốt. Bệnh nhân xuất huyết đồi thị có thể lặp lại và nhân đôi các từ hay âm tiết cuối từ trong ngôn ngữ nói và viết. Loạn ngôn và giảm khả năng định danh cũng phổ biến. Những bệnh nhân với xuất huyết đồi thị Phải thường có thờ ơ thị trường bên Trái, mất nhận thức bệnh tật và các bất thường không gian thị giác.
Các mức độ suy giảm thức tỉnh, nhận thức và ngủ nhiều thường gặp lúc khởi phát xuất huyết đồi thị vì liên quan với hệ thống lưới hoạt hóa hướng lên.
Xuất huyết tiểu não: Xuất huyết tiểu não gây ra đau đầu, choáng váng và nôn ói khởi phát đột ngột, và mất khả năng đi hoặc đứng trong vòng vài phút. Bệnh nhân có thể khởi phát tỉnh táo hoặc chỉ lú lẫn nhẹ, nhưng khối xuất huyết lớn có thể dẫn đên hôn mê trong vòng 12-24 giờ trong hầu hết các trường hợp. Thỉnh thoảng, một cơn tiền triệu chóng mặt hoặc tê mặt có thể đến trước xuất huyết. Các triệu chứng thường gặp nhất là mất khả năng đi hoặc đứng (thất điều tư thế nổi trội trong khi thất điều chi thường rất ít), trong đó nhiều bệnh nhân khởi phát kịch tính. Bệnh nhân thường có khuynh hướng nghiêng về phía có khối máu tụ. Nôn ói rất thường gặp, nôn thường xảy ra ngay sau khởi phát xuất huyêt tiểu não và xuất huyết dưới nhện. Choáng váng cũng thường gặp. Thường thấy hơn là cảm giác không an toàn, cảm giác say rượu, hoặc chông chênh hơn là chóng mặt xoay tròn đúng nghĩa. Đau đầu cũng rất thường gặp. Thường gặp nhất là đau vùng chẩm, nhưng đôi khi có thể xảy ra ở một bên đầu hay vùng trán. Đôi khi đau đầu đột ngột và không thể chịu đựng, gần giống xuất huyết dưới nhện.
Xuất huyết cầu não: Xuất huyết thân não tiên phát hầu như thường ở cầu não. Các triệu chứng đi kèm xuất huyết lớn giữa cầu não bao gồm: (1) Liệt tứ chi, với tư thế gồng cứng mất não, (2) Hôn mê, bệnh nhân hôn mê sâu trong vòng ít phút do ảnh đến hệ thống lưới hoạt hóa hướng lên, (3) Vắng các cử động mắt ngang, (4) đồng tử nhỏ (1mm) “pinpoint” nhưng đáp ứng ánh sáng, và (5) hô hấp nhanh và không đều. Đau đầu và nôn ói thỉnh thoảng xảy ra. Một và xuất huyết cầu não phát triền dần dần và các dấu hiệu sớm có thể không đối xứng. Liệt nữa người thường sớm trong diễn tiến. Mất thính lực, nói khó và tê mặt, yếu mặt và chi không đối xứng, và choáng váng thỉnh thoảng xảy ra trước hôn mê. Tăng thân nhiệt được ghi nhận ở một số trường hợp. Tử vong thường xảy ra trong vòng 24-48 giờ sau khởi phát. Sống sót sau 7-10 ngày không hiếm. Một số bệnh nhân với xuất huyết lớn giữa cầu não sống sót với liệt tứ chi.
Các khối xuất huyết nền bên có thể gây ra liệt nửa người đơn thuần, thất điều nửa người, hoặc hội chứng bàn tay vụng về-nói khó, các dấu hiệu lâm sàng có thể giông với các dấu hiệu tìm thấy ở những bệnh nhân nhồi máu lỗ khuyết ở cầu não. Các sang thương ở nền bên có thể lan vào phần chỏm kế cận, gây ra các dấu hiệu thần kinh sọ cùng bên và liệt nửa người đối bên. Các khối xuât huyết chỏm bên phát sinh từ các mạch máu xuyên diễn tiến từ ngoài vào trong sau phân nhánh từ các động mạch cầu não bên. Các sang thương này liên quan cầu não trên. Hầu hết phân biệt và chẩn đoán các khối xuất huyết chỏm cầu bên là các bất thường vận nhãn, bao gồm hạn chế nhìn cùng bên, liệt vận nhãn liên nhân cũng bên, hoặc kết họt liệt vận nhãn và liệt nhìn. Bởi vì liềm cảm giác (hợp nhất liềm trong và bó gai đồi thị) nằm ở chỏm bên, mất cảm giác đau, nhiệt, vị thế đi kèm phía đối bên là phổ biến. Thất điều thân và chi thường hiện diện và có thể là hai bên hoặc ưu thế cùng bên. Tê hoặc yếu nữa mặt, co đồng tử cùng bên, và điếc tạm thời có thể xuất hiện. Trong khi liệt nửa người đối bên nếu xảy ra, thường nhẹ và thoáng qua. Những bệnh nhân với khối xuất huyết cầu não nhỏ nhìn chúng sống sót với khiếm khuyết thần kinh nhẹ tới trung bình. Các khối xuất huyết nhỏ chỏm não có thể chỉ gây ra các bất thường cảm giác, liên quan với các chi và thân đối bên (hội chứng đột quỵ cảm giác đơn thuần) hoặc các triệu chứng cảm giác giới hạn ở mặt cùng bên hoặc thần kinh VI cùng bên  hoặc liệt nhìn ngoài

  1. NGUYÊN NHÂN
Tăng huyết áp là nguyên nhân hàng đầu của xuất huyết não, và gây ra loại đột quị này thông qua hai cơ chế.
Cơ chế thứ nhất là ảnh hưởng của tình trạng tăng huyết áp mạn tính đưa đến sự hình thành của một thoái hóa Lipid - hyaline của động mạch và sự thành lập các vi phình mạch Charcot- Bouchard.Các động mạch bị tổn thương là các động mạch nhỏ ở sâu trong não bộ, có đường kính trong khoảng 50 đến 200 µ m, bao gồm các động mạch xuyên thấu ở đáy não, các động mạch cạnh dường giữa của thân nền , và các nhánh của động mạch tiểu não trên và động mạch tiểu não trước dưới.
Cơ chế thứ hai là sự tăng huyết áp đột ngột gây vỡ động mạch ở những người chưa hề bị tăng huyết  áp. Các trường hợp XHN gặp khi tiếp xúc với thời tiết lạnh ,khi đau răng, khi được phẫu thuật vì đau dây V, trong các cơn migraine, và sau phẫu thuật trên động mạch cảnh hay phẫu thuật tim đươc xem là cơ chế này  
  1. CHẨN ĐOÁN
Chẩn đoán lâm sàng xuất huyết não dựa vào các đặc điểm như các triệu chứng lâm sàng tiến triển xấu dần ( Biểu hiện kinh điển của xuất huyết não là khởi phát đột ngột với các dấu hiệu: đau đầu, nôn, huyết áp tăng cao và sau đó vài phút có thể xuất hiện các khuyết thiếu thần kinh cục bộ) và khuyết thiếu thần kinh tăng lên
Chẩn đoán hình ảnh với CT hoặc MRI sọ não rất cần thiết để xác định chẩn đoán xuất huyết não và để loại trừ đột quỵ nhồi máu não… Cả CT và MRI đều được cân nhắc là những lựa chọn chẩn đoán hình ảnh đầu tiên trong đánh giá và chẩn đoán cấp cứu xuất huyết não.
Xuất huyết não do Tăng huyết áp nghĩ nhiều khi tiền căn có tăng huyết áp,  huyết áp lúc nhập viện cao,  tổn thương xuất huyết trên não thuộc vùng chi phối của các nhánh tiểu động mạch và các động mạch xuyên ( tổn thương vùng nhân bèo, đồi thị,  tiểu não, cầu não)
  1. ĐIỀU TRỊ:
Đơn vị đột quỵ
Lý tưởng nhất là bệnh nhân nên được điều trị trong đơn vị đột quỵ bởi một nhóm nhân viên y tế được đào tạo chuyên sâu về đột quỵ, phối hợp đa chuyên khoa, thực hiện theo những quy trình và phác đồ thống nhất.
Chăm sóc đường thở và hô hấp
  • Đảm bảo đường thở thông suốt là ưu tiên hàng đầu trong chăm sóc bệnh nhân suy giảm ý thức hoặc bất kì bệnh nhân nào có các biểu hiện về vấn đề hô hấp như: thở nông, thở ngắt quãng, thở gắng sức.
  • Thở oxy hỗ trợ (2-5 lít/phút qua sonde mũi hoặc canula binasal), đặc biệt là trường hợp giảm mức oxy máu động mạch dưới 90 mmHg, độ bão hòa oxy <95%.
  • Đặt nội khí quản và hô hấp hỗ trợ trên bệnh nhân xuất huyết não nặng, đặc biệt cần can thiệp sớm trong các trường hợp có ngưng thở trước đây, thở gắng sức. Với các bệnh nhân có biến chứng tăng áp lực nội sọ có hoặc không kết hợp với phù não, có thể đặt nội khí quản và tăng thông khí chủ động, giữu PaCO2 từ 25-30 mmHg để giảm phù não, giảm áp lực nội sọ.
Theo dõi tim và can thiệp kịp thời nếu cần
Theo dõi monitor điện tim cho bệnh nhân mới đột quỵ ít nhất là 48-72 giờ hoặc hơn nếu đến khi không xuất hiện triệu chứng mới. Đột quỵ có thể gây ra biến đổi trực tiếp điện tim và chức năng cơ tim mà không liên quan đến thiếu máu cơ tim. Rối loạn nhịp tim, khử cực bất thường xảy ra ở 60% bệnh nhân chảy máu trong sọ.
Điều trị tăng huyết áp
Với bệnh nhân xuất huyết não, tăng huyết áp cũng cần thận trọng trong điều chỉnh, vì nếu huyết áp quá cao sẽ làm tăng phù não và nguy cơ gia tăng thể tích khối máu chảy. Ngược lại, theo lý thuyết huyết áp thấp sẽ làm giảm áp lực tới máu não, làm nặng thêm tình trạng thiếu máu não xung quanh khối chảy máu. Trước đây các hướng dẫn điều chỉnh huyết áp trong xuất huyết não chỉ dựa vào đồng thuận. Tuy nhiên, với kết quả của nghiên cứu INTERACT và INTERACT 2, điều trị huyết áp trong giai đoạn cấp đã có chứng có đủ mạnh, được đưa vào hướng dẫn mới nhất năm 2015 của AHA/ASA. Khuyến cáo như sau:
  • Với bệnh nhân xuất huyết não vòa viện với huyết áp tâm thu thừ 150 – 220 mmHg và không có chống chỉ định của điều chỉnh huyết áp cấp, hạ huyết áp nhanh chóng xuống mức huyết áp tâm thu 140 mmHg là an toàn (khuyến cáo I, chứng cứ A) và có thể có hiệu quả cái thiện kết cục chức năng (IIa, B).
  • Với bệnh nhân xuất huyết não vào viện với HATT >220mmHg, vẫn hợp lý khi xem xét hạ áp tích cực bằng thuốc truyền tĩnh mạch liên tục và giám sát huyết áp thường xuyên (Iib, C).
Hạ huyết áo tích cực hơn, đến mức khoảng 120 mmHg không được khuyến cáo do mang lại kết cục bất lợi theo kết quả của nghiên cứu ATACH 2.
Khi có chỉ định điều chỉnh huyết áp, nên sử dụng các thuốc hạ áp đường tĩnh mạch tác dụng ngắn (labetalol, nicardipin) để chủ động trong kiểm soát huyết áp.
Điều chỉnh nhiệt độ sau đột quỵ
Khi tăng nhiệt độ thì dùng thuốc hạ nhiệt và nếu có nhiễm trùng thì dùng kháng sinh. Trong thực hành lâm sàng, thân nhiệt tăng kết hợp huyết áp cao dao động, nhịp tim nhanh, điểm Glasgow < 8, thở tăng thông khí là dấu hiệu tiên lượng lâm sàng nặng.
Điều chỉnh đường huyết
Xét về sinh lý bệnh, tăng đường huyết làm cho kết quả điều trị xấu do tăng glucose gây tổn thương não càng trầm trọng hơn, bất kể bệnh nhân có hay không đái tháo đường. Các nghiên cứu quan sát đã ghi nhận tăng đường huyết kết hợp với kết cục xấu, và kết cục xấu hơn ở bệnh nhân có tăng đường huyết cũng đã ghi nhân trong các nghiên cứu thử nghiệm điều trị tiêu huyết khối. Tuy nhiên tăng đường huyết là nguyên nhân hay hậu quả thì chưa vẫn chưa có bằng chứng chứng minh. Về điều trị, chỉ có một nghiên cứu ngẫu nhiên, không mù (GIST-UK), nhưng phải kết thúc sớm và chênh lệch đường huyết giữa hai nhóm không nhiều, nên kết quả trung tính cũng không mang lại nhiều giá trị. Về mặt thực hành, đồng thuận hiên nay là không truyền dung dịch có đường và dung dịch nhược trương ở bệnh nhân đột quỵ cấp. Khi đường huyết tăng (dù bệnh nhân có hay không tiền sử đái tháo đường) cần điều chỉnh đường huyết trong giới hạn 140-180 mg% theo khuyến cáo chung của Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ dành cho mọi nhân có bệnh lý cấp tính nhập viện. Biện pháp sử dụng có thể là dùng insulin tiêm dưới da hoặc đôi khi là tiêm insulin tĩnh mạch nếu cần thiết.
Đảm bảo dinh dưỡng và chăm sóc
Các bệnh nhân suy giảm ý thức đòi hỏi phải chú ý đặc biệt vấn đề dinh dưỡng, chức năng ruột, bàng quang, chăm sóc da, răng miệng.
  • Ở các bệnh nhân hôn mê hoặc có vấn đề về nuốt, dinh dưỡng ban đầu bằng dịch truyền tĩnh mạch, nuôi dưỡng bằng ống sonde dạ dày được xem xét. Khi tình trạng thần kinh của bệnh nhân ổn định hơn có thể nuôi dưỡng bằng ăn qua sonde. Đảm bảo dinh dưỡng 2000-3000 calo/ngyaf công thêm vitamin. Dịch ăn thay thế khoảng 2 lít/ngày với mức nước tiểu từ 500-1000ml/ngày.
  • Làm mềm phân và đề phòng chướng ruột do táo bón hay giảm nhu động ruột, đung docussate 100mg uống ngày 2 lần hoặc các thuốc khác như thuốc nhuận trường (Forlax).
  • Ở bệnh nhân hôn mê sẽ được xoay trở trên giường cứ 1-2 giờ/lần, dùng một nêm khí với drap trải căng và có các xốp ở những điểm tỳ để hnj chế loét và chèn ép thần kinh.
  • Duy cân bằng nước và điện giải tránh kiệt nước (ảnh hưởng độ quánh của máu) hoặc ngăn ngừa thừa nước (bệnh nhân suy tim).
Phù não
Xuất huyết não thể tích lớn có nguy cơ phù não và tăng áp lực nội sọ. Phù não có thể tiến triển trong nhiều ngày sau khi xuất huyết nội sọ nhưng thường gây suy thoái thần kinh trong vòng 72 giờ đầu tiên ở những bệnh nhân bị xuất huyết có thể tích hơn 30ml. Xuất huyết não thất làm tăng thêm áp lực nội sọ và nguy cơ tử vong, chủ yếu do tràn dịch não tủy tắc nghẽn. Nên duy trì áp lực nội sọ dưới 20 mmHg bằng các biện pháp như nằm đầu cao 30 độ, an thần, tối ưu huyết áp, bolus dung dịch ưu trương, thông khí kiểm soát, hạ thân nhiệt, hoặc mở hộp sọ ở người trẻ như biện pháp cứu cánh. Điều trị tăng áp lực nội sọ thường bắt đầu với truyền tĩnh mạch 1-1.5g/kg mannitol 20%. Corticosteroid như dexamethasone không cải thiện kết cục lâm sàng  và không được chỉ định cho việc điều trị cho phù não do xuất huyết nội sọ.
Rối loạn đông máu
Bệnh rối loạn đông máu nên được đảo ngược bằng cách thay thế yếu tố đông máu bằng tập trung phức hợp Prothrombin hoặc huyết tương tươi đông lạnh. Nếu rối loạn đông máu là do thuốc chống đông Wafarin, nên ngừng dùng wafarin và dung vitamin K, giảm tiểu cầu nặng nên được điều chỉnh bằng cách truyền tiểu cầu.
 
 
Động kinh
Động kinh có thể xảy ra, đặc biệt là xuất huyết não thùy, nhưng không nên dùng thuốc chống co giật dự phòng.
Ngoại khoa
Xuất huyết tiểu não – Triệu chứng thần kinh xấu đi, chèn ép não, tràn dịch não là chỉ định cho phẫu thuật Fossa giải ép vùng hố sau, có thể ngăn chặn được kết cục tử vong. Kết quả tốt ở bệnh nhân còn ý thức.
Xuất huyết não thùy – Phẫu thuật lấy khối máu tụ cũng có thể hữu ích cho các tụ máu thùy não, đặc biệt là những khối lớn hơn 30ml và nằm trong khoảng 1cm từ bề mặt não. Bệnh nhân có chức năng thần kinh tốt bắt đầu xấu đi là chỉ định tối ưu.
Xuất huyết sâu – Phẫu thuật không có lợi cho xuất huyết cầu não hoặc xuất huyết não sâu do tăng huyết áp.
 
Tài liệu tham khảo:
  1. Stroke - Pathophysiology, Diagnosis, and Management 6th Edition (2016), Section III: Clinical Manifestations, Chapter 28: Intracerebral Hemorrhage, p. 573-
  2. Louis R. Caplan-Caplan’s Stroke_ A Clinical Approach-Cambridge University Press (2016). Part II: Stroke syndromes, Chap. 14
  3. Spontaneous intracerebral hemorrhage: Pathogenesis, clinical features, and diagnosis – Uptodate
  4. [Elan-D.-Louis,-Stephan-A.-Mayer,-Lewis-P.-Rowland] Merritt's Neurology 13th, Chap.38: Intracerebral Hemorrhage
  5. Adams and Victor’s Principles of Neurology11th, Part 4, Chap. 33
  6. Clinical Neurology (LANGE) by Roger P. Simon, Michael J. Aminoff, David A. Greenberg Chap.13
  7. Vũ Anh Nhị (2017), Thần kinh học, Mạch máu não và tai biến mạch máu não, tr240-277.
  8. Vũ Anh Nhị (2017), Sổ tay lâm sàng thần kinh học, Đột quỵ, tr90-126.
 

Tác giả bài viết: Bs Nguyễn Minh Cường – Khoa Nội Tổng Hợp
Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 
Số ĐT đặt lịch khám bệnh
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN, Địa chỉ: 184 Trần Quý Cáp- Phường Tự An- TP Buôn Ma Thuột- tỉnh Đắk Lắk, Điện thoại nóng: 0262. 3919009 - 0262. 3852654
Điện thoại phòng KHTH
KHOA NGOẠI THẦN KINH – BV ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN PHẪU THUẬT THÀNH CÔNG CA MỔ U NÃO CÓ DÙNG MÁY ĐỊNH VỊ THẦN KINH
NHỒI MÁU NÃO LỖ KHUYẾT (LACUNAR STROKE)
THIẾU MEN G6PD
Kiểm soát đường huyết chu phẫu
SƠ KẾT VÀ TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CÔNG TÁC ĐIỀU TRỊ COVID-19 TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
Thông báo mời thầu: mua sắm thuốc Generic dự án mua thuốc cấp cơ sở năm 2020
UNG THƯ VÒM MŨI HỌNG
Hoạt động từ thiện Bệnh viện
GÂY MÊ HỒI SỨC CHO BỆNH NHÂN TĂNG ÁP ĐỘNG MẠCH PHỔI PHẪU THUẬT NGOÀI TIM
PHẪU THUẬT CA THỨ HAI DỊ TẬT TIM BẨM SINH THÀNH CÔNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN
Thông báo mời thầu: gói thầu vật tư y tế, test chẩn đoán nhanh
Hưởng ứng Tuần lễ “Dinh dưỡng và Phát triển” năm 2020: DINH DƯỠNG HỢP LÝ ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
XUẤT HUYẾT NÃO DO TĂNG HUYẾT ÁP
SIÊU ÂM PHỔI TRONG NỘI KHOA
HỘI CHỨNG TIÊU CƠ VÂN CẤP
BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN TỔ CHỨC LỄ HỘI RỬA TAY NĂM 2020
PHẪU THUẬT BÓC NHÂN XƠ TỬ CUNG/CẮT TỬ CUNG TRONG PHẪU THUẬT PHỤ KHOA
Thông báo mời thầu gói thầu:Mua thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền năm 2020 thuộc DM thuốc đấu thầu cấp cơ sở
PHÒNG VÀ TRỊ CẢM MẠO PHONG HÀN BẰNG Y HỌC CỔ TRUYỀN
TẬP NGỒI THĂNG BẰNG TĨNH VÀ ĐỘNG

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 65
  • Khách viếng thăm: 64
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 3532
  • Tháng hiện tại: 191293
  • Tổng lượt truy cập: 11369528
Cổng dịch vụ công quốc gia
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang