bvvtn

Y HỌC CHỨNG CỨ VÀ XU HƯỚNG HIỆN ĐẠI TRONG XỬ TRÍ U XƠ CƠ TỬ CUNG

Đăng lúc: Thứ tư - 15/01/2020 22:51 - Người đăng bài viết: admin
Y HỌC CHỨNG CỨ VÀ XU HƯỚNG HIỆN ĐẠI TRONG XỬ TRÍ U XƠ CƠ TỬ CUNG

Y HỌC CHỨNG CỨ VÀ XU HƯỚNG HIỆN ĐẠI TRONG XỬ TRÍ U XƠ CƠ TỬ CUNG

U xơ cơ tử cung (UXCTC) theo FIGO
Y HỌC CHỨNG CỨ VÀ XU HƯỚNG HIỆN ĐẠI TRONG XỬ TRÍ U XƠ CƠ TỬ CUNG
  1. Phân loại:

U xơ cơ tử cung (UXCTC) theo FIGO
Type Mô tả
0 Có cuống, nằm trong buồng tử cung
1 Dưới niêm, < 50% trong cơ
2 Dưới niêm, ≥ 50% trong cơ
3 Tiếp xúc niêm mạc tử cung, 100% trong cơ
4 Trong cơ
5 Dưới thanh mạc, ≥ 50% trong cơ
6 Dưới thanh mạc, < 50% trong cơ
7 Dưới thanh mạc,có cuống
8 Vị trí khác
  1. Điều trị UXCTC:
Điều trị UXCTC là cá thể hóa điều trị liên quan đến vấn đề chủ và dựa trên mong muốn của bệnh nhân.
Hiện nay, các Hiệp hội Sản Phụ Khoa đều đồng thuận rằng việc điều trị UXCTC chỉ được đặt ra khi UXCTC có biến chứng gây nên những triệu chứng làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và khả năng sinh sản của phụ nữ.
Có 3 phương pháp điều trị UXCTC hiện nay:
  1. Điều trị nội khoa
  2. Điều trị ngoại khoa
  3. Điều trị xâm lấn tối thiểu
  1. Điều trị nội khoa:
Điều trị nội khoa có thể được áp dụng cho các trường hợp:
  • UXCTC gây rong kinh rong huyết nhưng chưa ảnh hưởng nghiêm trọng đến thể trạng của bệnh nhân như gầy sút, thiếu máu nặng, chất lượng cuộc sống suy giảm trầm trọng.
  • UXCTC không gây chèn ép lòng tử cung, vô sinh hoặc sẩy thai liên tiếp,  không chèn ép nặng niệu quản, thận ứ nước, suy thận sau thận do tắc nghẽn.
  1. Liệu pháp tạm thời với steroids sinh dục:
Thuốc tránh thai nội tiết estrogen-progesterone phối hợp đường uống (COC) và progestin:
Không có bằng chứng nói rằng các thuốc COC thúc đẩy UXCTC phát triển thêm, UXCTC cũng không phải chống chỉ định của COC.
COC có thể tạm thời làm giảm lượng máu hành kinh, với một điều trị ngắn hạn, và có thể trì hoãn sự phát triển của UXCTC nhờ có progestin.
Cả progesterone và progestin đều gây teo NMTC, vì thế có tác dụng giảm chảy máu khi có UXCTC.
Dụng cụ tử cung phóng thích chậm levonogestrel (LNG-IUS):
LNG-IUS làm giảm lượng máu kinh ở phụ nữ có xuất huyết tử cung có UXCTC đi kèm, cải thiện nồng độ Hb trong máu.
LNG-IUS làm giảm đáng kể lượng máu mất bằng cách giảm phân bào NMTC, tăng cường chết tế bào theo chương trình.
  1. Liệu pháp với các chất tương tự GnRH:
GnRH đồng vận:
Cơ sở của việc sử dụng GnRH đồng vận cho điều trị UXCTC là sử dụng liên tục GnRHa sẽ gây ra hiện tượng nội hóa các thụ thể của GnRH tại tuyến yên, dẫn đến việc giải mẫn cảm kéo dài của tuyến yên với GnRH. Tuyến yên bị giải mẫn cảm không còn khả năng phóng thích FSH, hệ quả là không còn gây ra được phát triển noãn nang tại buồng trứng, do đó triệt tiêu nguồn estrogen nội sinh.
Sau 3 tháng điều trị với GnRHa, thể tích khối UXCTC sẽ giảm 50% so với trước.
Hầu hết các khối UXCTC sẽ phát triển trở lại sau khi ngừng GnRHa, không quá 12 tuần.
GnRH đối vận:
GnRH anta tác dụng bằng cách cạnh tranh với GnRH trên thụ thể của nó tại tuyến yên. Sự cạnh tranh này làm cho thụ thể không còn tiếp nhận GnRH hạ đồi. Hệ quả là một tình trạng tê liệt trong phóng thích cả 2 loại gonadotropin tuyến yên (FSH và LH). Không có FSH, buồng trứng không thể sản xuất được các estrogen từ các noãn nang.
  • GnRH mới dùng qua đường uống, cho phép đạt hiệu quả như đường tiêm, nhưng cho phép kiểm soát được mức giảm estrogen lưu hành.
  • GnRH đối vận ưu điểm hơn GnRH đồng vận trong việc giải mẫn cảm tuyến yên. GnRH phong bế các thụ thể GCPR, nhưng bằng cách chiếm dụng có thời hạn. Khi không còn chiếm dụng nữa, thì ngay sau đó tế bào tuyến yên sẽ nhạy cảm trở lại với GnRH tuyến yên.
  • Tùy theo hàm lượng GnRH đối vận mà các thụ thể GCPR màng sẽ bị chiếm dụng khác nhau
  1. Chất điều hòa chọn lọc thụ thể progesterone (SPRM):
Progesterone là yếu tố chủ lực cho phát triển UXCTC. Khống chế được ảnh hưởng của progesterone trên UXCTC có thể giúp kiểm soát được bệnh lý này.
SPRM có khả năng gắn kết rất mạnh trên PR và có thể mang lại các tác dụng đồng vận, đối kháng, hay hỗn hợp trên các mô đích khác nhau của progesterone.
Hai loại SPRM được nghiên cứu rất nhiều cho điều trị UXCTC là Mifepristone và Ulipristal acetate (UPA). Mifepristone sở hữu đơn thuần hoạt tính kháng progesterone, thì UPA lại sở hữu hoạt tính hỗn hợp giữa đồng vận và đối kháng với progesterone.
  1. Điều trị ngoại khoa UXCTC:
Cắt tử cung là điều trị triệt để UXCTC có triệu chứng.
UXCTC là nguyên nhân hàng đầu cắt tử cung (30-40%).
Bóc UXCTC chỉ định cho bệnh nhân mong muốn giữ tử cung, bảo tồn chức năng sinh sản.
Tỷ lệ tái phát sau bóc u xơ 15%.
5-10 năm sau bóc u xơ 10% bệnh nhân phải cắt tử cung vì UXCTC tái phát.
Xu hướng hiện nay là điều trị bảo tồn và can thiệp xâm lấn tối thiểu.
Điều trị phẫu thuật UXCTC theo phân loại FIGO 2011:
  • UXCTC type L0, L1, L2: cắt bỏ khối u qua nội soi buồng tử cung.
  • UXCTC type L3: có thể gây xuất huyết tử cung bất thường, điều trị bằng nội khoa trước, sau đó mổ nội soi ổ bụng hay mổ hở để bóc u.
  • UXCTC type L4, L5, L6, L7, L8: điều trị khi có biến chứng. Mổ nội soi ổ bụng/ mổ hở bóc nhân xơ.
  1. Điều trị xâm lấn tối thiểu:
  1. Thuyên tắc động mạch tử cung có chọn lọc (UAE) nhằm tạo ra tình trạng thiếu máu nuôi đến UXCTC, với kết cục là gây hoại tử khối này.
Cơ chế:
  • Tắc ĐM 2 bên ở mức tiểu ĐM.
  • Gây thiếu máu cục bộ không hồi phục gây hoại tử, co nhỏ.
  • Vật liệu thuyên tắc: polyvinyl alcohol particles hay tris-acryl gelatin microspheres (TAGM)
Chỉ định: vùng cơ lành được bảo toàn.
  1. Sử dụng năng lượng sóng siêu âm dưới hướng dẫn cộng hưởng từ (HIFU)
Nguyên lý:
MRI HIFU dựa trên nguyên lý cơ bản tập trung năng lượng sóng siêu âm cường độ cao dưới định vị của máy cộng hưởng từ một cách chính xác vào khối u từ đó làm tăng nhiệt độ nội tại của khối u khiến cho khối u bị chết. Phần mô u bị chết này sẽ được cơ thể hấp thu bằng con đường thực bào tự nhiên.
Ứng dụng:
MRI HIFU được ứng dụng làm phẫu thuật không xâm lấn các bệnh lý u xơ tử cunglạc nội mạc cơ tử cung (Adenomyosis), u xươngu tiền liệt tuyến
MRI HIFU không cần sử dụng đến phương pháp gây tê, gây mê, không sử dụng dao mổ nên không gây chảy máu do đó có độ an toàn cao giúp người bệnh nhanh hồi phục sau điều trị và trở lại sinh hoạt bình thường sau 24 tiếng.

Tác giả bài viết: BS Trần Ngọc Thùy- Khoa Phụ Sản
Từ khóa:

tử cung

Đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

Tin mới

BỆNH VIỆN ĐA KHOA VÙNG TÂY NGUYÊN, Địa chỉ: 184 Trần Quý Cáp- Phường Tự An- TP Buôn Ma Thuột- tỉnh Đắk Lắk, Điện thoại nóng: 0262. 3919009 - 0262. 3852654
Điện thoại phòng KHTH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA LIỆU PHÁP OXY TRONG CHĂM SÓC CẤP TÍNH
Thông báo gửi Báo cáo ứng dụng kết quả nghiên cứu của các đề tài NCKH cấp cơ sở I- năm 2019
KỸ THUẬT CHỤP UIV
Tăng cường sức đề kháng cơ thể
HUYẾT TẮC STENT – NỖI ÁM ẢNH CỦA BÁC SĨ CAN THIỆP TIM MẠCH
NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ CÁC BIỆN PHÁP TRÁNH THAI
Một cái nhìn bao quát về 2019-nCoV
CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG VÀ TIÊN ĐOÁN TRONG UNG THƯ VÚ DI CĂN
Bệnh viện Vùng Tây Nguyên tiếp nhân bệnh nhân vào viện với lý do khó thở, kèm ho khạc đờm trắng, kèm tiền sử hút thuốc lá.
PHÒNG TRÁNH nCoV- KHÔNG LƠ LÀ VỚI CÚM
HƯỚNG DẪN CHẨN ĐOÁN VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM PHỔI CẤP DO CHỦNG VIRUS CORONA MỚI (nCoV)
Xử lý lâm sàng nhiễm trùng hô hấp cấp tính nặng ở bệnh nhân nghi ngờ nhiễm chủng mới virus Corona (2019-nCoV)
Phương pháp điều trị mới “Tiêu sợi huyết đường tĩnh mạch cho người bệnh bị đột quỵ não cấp”
Bệnh viện Đa khoa Vùng Tây Nguyên thông báo là cơ sở trên địa bàn có khả năng thu dung và điều trị bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút CORONA (nCoV)
BIẾN CHỨNG TRONG GÂY TÊ VÙNG – GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU RỦI RO TRONG GÂY TÊ VÙNG
DS iDesk Khoa Phòng
PHỤC HỒI CHỨC NĂNG HÔ HẤP CHO BỆNH NHÂN COPD
Thư khen cuối năm của bệnh nhân
HEN PHẾ QUẢN VÀ BỆNH TRÀO NGƯỢC DẠ DÀY THỰC QUẢN
Y HỌC CHỨNG CỨ VÀ XU HƯỚNG HIỆN ĐẠI TRONG XỬ TRÍ U XƠ CƠ TỬ CUNG

Bạn quan tâm gì về BV?

Chuyên môn

Dịch vụ y tế

Ứng dụng kỹ thuật KH

Các vấn đề trên

Thống kê truy cập

  • Đang truy cập: 41
  • Khách viếng thăm: 39
  • Máy chủ tìm kiếm: 2
  • Hôm nay: 8213
  • Tháng hiện tại: 236005
  • Tổng lượt truy cập: 8528876
Cổng dịch vụ công quốc gia
Từ điển RHM
Sở Y Tế Đắk Lắk
Bộ y tế
Cục phòng chống HIV/ADIS
Bệnh viện Việt Đức
Cục quản lý dược
Cục khám chữa bệnh
Về đầu trang